EM VỀ THUNG LŨNG TÌNH YÊU - Thơ Nguyễn Văn Ân



Em về Thung Lũng Tình Yêu
Thông già rụng cánh, trời chiều mây bay
Chập chờn cơn tỉnh, cơn say
Mỏi mòn đôi cánh tìm ai, ai tìm?
Men theo đồi dốc nghiêng nghiêng
Em thả sợi tóc ngoan hiền bờ vai
Bóng em thấp thoáng hàng cây
Tự tình, đôi mắt ngân đầy câu thơ
Nắng chia cho hết đôi bờ
Cỏ non mộng mị, ru hờ tháng năm
Đóa hoa còn nở âm thầm
Nghe dòng nước chảy đá nằm  rong rêu
Em về Thung Lũng Tình Yêu
Mang theo vóc dáng yêu kiều ngày xanh
Giấc mơ về trú đầu cành
Anh còn lóng ngóng, trời xanh chuyển màu
Mắt còn nhìn trộm mắt nhau
Chuyện mai sau, chuyện mai sau… nợ nần
Em về đây, em hóa thân
Như nàng Công Chúa tuyệt trần thế gian
Xốn xang đầy ắp… xốn xang
Mơ chàng Hoàng tử, lộng vàng kết hoa
Nâng niu áo gấm ngọc ngà
Hồn em lộng gió tình ca vỗ về
Bay bay, tà áo hồn quê
Tình yêu về bến trăng thề đợi mong


MƯA TRÊN BIỂN NHA TRANG

Giọt mưa ướt nhẹ bên lòng
Bay trong giấc mộng, mênh mông tuổi sầu
Biển còn chôn giấu niềm đau
Nhân gian còn đọng một màu yêu thương
Còn in hình bóng quê hương
Tàu đưa em đến con đường tình yêu
Mưa bay bóng ngã, liêu xiêu…
Ẩn trong bóng núi, cho chiều phôi phai
Chim trời nương nhẹ bóng mây
Lao xao cơn sóng, thơ ngây vỗ về…
Mưa bay ướt sợi tóc thề
Ngẩn ngơ, tuổi mộng, ru mê một thời
Thời  gian trang điểm nụ cười
Thổi hồn vào gió, cho đời thoáng đưa
Bàn tay, hứng lấy giọt mưa
Phất phơ vạt áo, tiễn mùa xa xôi
Cầm tay nhau, bỗng bồi hồi
Biển Nha Trang, ta rong chơi… một ngày
Thương thầm đôi mắt của ai?
Tháng năm vời vợi, tình say giấc nồng
Tinh khôi, duyên nợ má hồng
Mưa trên biển rộng, trong lòng giăng tơ


VỀ MIỀN SÔNG NƯỚC CÀ MAU

Về miền sông nước Cà Mau
Nghe con sóng nhỏ, nghiêng chao đôi bờ
Trời xuân đậu ở bến mơ
Tóc em vừa chấm, hững hờ... bờ vai
Mộng vừa chớm giọt sương mai
Long lanh ánh mắt, thương hoài ngàn năm
Tiếng ai nhè nhẹ âm thầm?
Hàng dừa nước, vẫn uốn quanh, dáng ngà...
Sóng thật gần, sóng thật xa...
Thương đời cho chút hiền hòa yêu thương
Chiều buông vạt nắng, cuối đường
Mái chèo lay động, còn vương tay người
Cây bần nghiêng bóng, ngày trôi...
Nụ cười trao vội, nụ cười cho nhau
Về miền sông nước Cà Mau
Mong ngày sau, vẫn xanh màu... tình yêu
Giật mình, nghe lá trở chiều
Chân em còn vướng, rong rêu đá buồn
Đất Cà Mau, gợi nhớ thương
Ta về khóe mắt còn vương áo người
Về miền sông nước, ai ơi!
Trái tim còn nặng nợ đời, tuổi xanh.

N.V. (Bình Dương)
    
Read more…

NHỮNG CHUYỆN CẢM ĐỘNG VỀ BÀ MÁ MIỀN NAM VỚI BỘ ĐỘI GIẢI PHÓNG - Bài của TS Nguyễn Hữu Nguyên


Ông Nguyễn Hữu Nguyên (bìa trái) cùng đồng đội thời kỳ ở chiến trường

NDĐT- Những tình cảm của nhân dân Nam Bộ dành cho bộ đội miền bắc trong suốt cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước được TS Nguyễn Hữu Nguyên, từng là một người lính giải phóng kể lại, cho thấy tình yêu thương vô bờ bến của những bà má đối với những người con xa nhà đi chiến đấu vì Tổ quốc.
Thương bộ đội chân tình
TS Nguyễn Hữu Nguyên (ảnh), Trung tâm Nghiên cứu chiến lược và chính sách quốc gia (ĐH Khoa học Xã hội và nhân văn TP Hồ Chí Minh) từng được biết đến như một nhà phản biện về văn hóa, kiến trúc và xu hướng phát triển của TP Hồ Chí Minh ngày nay. Nhưng ông cũng từng là một người lính hành quân vào nam từ năm 1965, trải qua nhiều trận chiến sinh tử ở các chiến trường và cuối cùng tham gia chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử để giải phóng Sài Gòn. Dưới đây là những câu chuyện rất cảm động về tình quân dân trong thời chiến, đặc biệt là tình cảm của những bà má miền nam dành cho bộ đội miền bắc mà chúng tôi ghi lại được trong một lần nói chuyện với ông vào một buổi chiều tháng Tư giữa Sài Gòn sau 40 năm giải phóng.
Theo TS Nguyễn Hữu Nguyên, trong những đề tài lịch sử về giải phóng miền nam, thống nhất đất nước, còn một mảng cần khai thác nhiều hơn đó là mối quan hệ giữa quân đội và nhân dân, cả từ góc độ quân sự và chiều kích nghiên cứu văn hóa chiến tranh. Trong đó, có sự tham gia của nhân dân miền nam trong chiến đấu như thế nào, tinh thần chiến đấu mạnh mẽ của bộ đội ta từ miền bắc vào.
Rồi ông kể: “Một nhà văn Mỹ từng gặp gỡ và nói với tôi: "Quân miền bắc cũng như chúng tôi đều ở xa đến nên không giành được sự ủng hộ của dân bản xứ". Tôi nói, "người Mỹ đã nhầm lẫn, đó là họ suy từ thái độ của người dân Nam Bộ với người Mỹ". Chúng tôi ở ngoài kia vào và thấy, các má, các chị Nam Bộ có nét “cục bộ ngược”, tức là yêu thương người lính đi xa như chúng tôi hơn là những người tại chỗ. Lý luận của các má là: “Tụi nó ở mãi xa vào, làm sao “móc” gia đình được? (Móc có nghĩa là liên lạc, móc nối với gia đình khi người lính ở xa). Vì thế chúng tao phải thương hơn, cho chúng nó nhiều thứ hơn”.
Theo ông, sau này, dưới góc độ nghiên cứu, nếu chúng ta không khai thác khía cạnh tình quân dân đặc biệt này thì rất có lỗi với sự đóng góp của nhân dân. “Nếu không có tình cảm đó, những người lính miền bắc như chúng tôi lấy đâu tinh thần chiến đấu? Sự yêu thương đến mức phải cảm động như thế là một phần sức mạnh tinh thần của người lính, chứ không đơn giản là chiếc bánh tét, một miếng cơm hay gói quà. Và cũng để lý giải một điều, như Bác Hồ nói, dân tộc Việt Nam là một, không có sự chia rẽ văn hóa”.
“Đúng là quân với dân như cá với nước, theo nghĩa rất cụ thể, chứ không phải là khẩu hiệu chung chung. Nuôi bộ đội và thương bộ đội, quan trọng nhất là tình thương. Điều đó cũng thể hiện dân tộc Việt Nam không khác biệt về miền văn hóa mà chỉ là miền địa lý. Có những nơi trên thế giới luôn diễn ra hai xu hướng ly khai và sáp nhập. Khi nào ở cùng dòng văn hóa sẽ sáp nhập lại, khác văn hóa sẽ tách ra. Và chúng ta có một dòng văn hóa sông Hồng chảy vào trong này, mang theo cả lịch sử mở mang bờ cõi. Văn hóa sông Hồng là cội nguồn, trộn hoà với văn hóa sông Cửu Long, nó cùng một nguồn cội chứ không xung đột nhau”, người cựu chiến binh, vừa là nhà nghiên cứu, lý giải.
“Trong khi chiến đấu, có vài lần chúng tôi không được nói giọng của mình khi chuyển quân xuống chiến trường miền Tây, nhưng mục đích là để giữ bí mật rằng chưa có bộ đội chủ lực vào tới đây. Chúng tôi được dặn ngồi yên trên xuồng để du kích dẫn đi, nhưng khi dân hỏi thì để cho mấy anh du kích nói, giữ im lặng vì sợ nguy hiểm. Sau đó, khi không giữ bí mật nữa, chúng tôi vẫn nói giọng này chứ làm sao thay đổi được. Nhưng người dân miền nam hoàn toàn không phân biệt điều đó, mà thậm chí ngược lại, họ yêu thương chúng tôi nhiều hơn bộ đội địa phương”. Và ông đã kể những câu chuyện rất cảm động, cụ thể về điều này.
Yêu thương tự nhiên
Câu chuyện thứ nhất của ông kể về người dân ở bên ngoài vùng giải phóng, thời tiểu đoàn của ông phải ở lại đánh giặc vào năm 1970-1971 ở chiến trường Mỹ Tho. Hồi đó, tiểu đoàn của ông không liên lạc được với chiến khu, không có lương thực. Các bà, các mẹ ở đây đã đi vay lúa, mượn tiền của dân để nuôi cả tiểu đoàn trong sáu tháng. Sau đó, khi kết nối được, quân khu mới chuyển tiền trả lại cho các má.
Lúc đó, khi đi chiến đấu, mỗi lần về nhà, bộ đội được bà con yêu thương, giúp đỡ tận tình. Ông kể, lúc tiểu đoàn 9 của đơn vị chiến đấu năm 1969 ở Tây Ninh - Trảng Bàng, lúc đó mới chỉ đang dàn quân chứ chưa đánh, các bà má đã chở một xe bò kéo rất nhiều thực phẩm như mì tôm, nước mắm, rau bầu, bí… đưa đến cho bộ đội. Đến nơi, các má nói: “Chúng tao mang đến cho bộ đội ăn”. Chính trị viên của tiểu đoàn đáp lễ: “Thưa má, chúng con về đây chưa lập được chiến công gì với địa phương, nên má mang đến thế này chúng con chưa dám nhận”. Má bảo: “Tao biết chúng nó đi chiến đấu thế nào, cũng có đứa bị thương, có đứa hy sinh. Thế chúng nó không được ăn sao?”. Lý lẽ đó, chính trị viên không thế nào bác bỏ được nên đành nhận sự giúp đỡ của các má.
Rồi khi đơn vị tôi về một làng ở Củ Chi, bộ đội bắt đầu đào công sự ở bờ tre, ngồi trực chiến ở đó. Các má bắt đầu nấu chè, gánh ra rồi gọi: “Các con ơi đến ăn chè!”. Bộ đội chiến trường hồi đó kỷ luật lắm, không dám nhận. Các má múc mỗi người một chén để ngay công sự rồi nói: “Tụi bay ăn đi!”. Nhưng vẫn không anh lính nào dám đụng đến. Các bà má bàn với nhau, không ăn chắc do chỉ huy, rồi hỏi người chỉ huy đơn vị ở đây. Má vào gặp chính trị viên rồi hỏi tại sao nấu chè mà không cho bộ đội ăn, rồi kéo mấy anh cán bộ ra tận công sự nói: “Bay ra lệnh đi!”. Lúc đó, chính trị viên mới nói các đồng chí ăn chè của các má mang đến đi, và bộ đội mới ăn.
Rồi người cựu chiến binh kết luận: “Họ yêu thương bộ đội đến mức đó. Không hề có sự ép buộc, vận động, phân công, mà dường như đó là tình cảm hết sức tự nhiên".

Phẩm chất của những anh lính Cụ Hồ
Trong những ngày cuối cùng của cuộc chiến tranh, ngày 26, 27, 28-4-1975, ông Nguyên cùng đồng đội đánh ở Sài Gòn. Ông kể lại: Buổi chiều, lúc ông đi về, Ban tác chiến của tiểu đoàn đóng quân trong nhà dân, các chiến sĩ giải phóng báo là chủ nhà định cho bộ đội con chó, anh em đang chuẩn bị bắt thịt. Nhưng khi nói lại với ông Nguyên về việc cho con chó, bà chủ nhà nói thêm một câu: “Từ lúc tôi nói thế, con chó nằm trong gầm giường không dám ra”. Ông Nguyên thấy thế liền từ chối: “Má ơi, con chó như thế là khôn lắm, để nuôi kẻo tội nghiệp”. Quả thật, nghe bà má cúi xuống gầm giường và gọi: “Con ơi con, các chú thương không ăn thịt con đâu”, lúc đó, con chó mới chạy ra. Chứng kiến điều ấy, ông nói với các đồng đội: “Nếu lúc đó chúng ta nhận con chó mổ và ăn ngay ở sân này, dưới con mắt của người dân, chúng ta sẽ như thế nào?”.
Một câu chuyện khác trong những ngày sắp giải phóng ấy ở Sài Gòn, khi tiểu đoàn của ông đi qua một ngôi nhà, có tiếng khóc từ trong vọng ra. Ông đi vào nhà thì thấy một bà má và một người phụ nữ đang ngồi khóc bên quan tài trong ánh đèn mờ. Ông Nguyên hỏi sự tình thì người phụ nữ khoảng 30 tuổi kể lại rằng: “Tụi tôi khi nghe tiếng súng của các anh thì sợ lắm nên hai chị em chạy về phía quân đội quốc gia. Chúng tôi gặp một trung úy Sài Gòn, anh ta đòi “làm bậy” với đứa em gái còn chưa tốt nghiệp tú tài của tôi. Tôi nói với hắn rằng, chồng tôi cũng đi lính như ông, mà em tôi còn đang đi học. Nhưng hắn ta không chịu, kéo em tôi đi. Tôi nghe thấy tiếng la hét rồi có tiếng súng. Cùng lúc đó các anh tràn về phía này, và giúp tôi đưa xác em tôi về lo thủ tục ma chay”. Kể xong, người phụ nữ ngửa mặt than: “Trời ơi, phải biết các anh thế này thì tôi đâu có chạy!”.
Đó là những người mà đến phút chót của cuộc chiến tranh mới tiếp xúc với quân giải phóng. Nhưng một hành động, một cử chỉ như thế thì họ đã phân biệt được người hai phía như thế nào.
Rồi khi Ban tác chiến Trung đoàn của ông về đóng quân trong một nhà dân ở Nhà Bè. Đến ngày ăn mừng chiến thắng, chúng tôi được cấp trên chi tiền mở tiệc ngay tại nhà người dân. Bộ đội nhờ dân nấu hai mâm. Mấy anh lính giải phóng chia nhau ra các mâm để tiếp dân. Tôi ngồi một mâm có chủ nhà, con trai ông chủ nhà là trung sĩ của chế độ Sài Gòn, một ông hàng xóm đối diện là đại úy cảnh sát huyện Nhà Bè và mấy bà con chung quanh. Bữa ăn mừng chiến thắng ấy thật đặc biệt. Lần đầu tiên chúng tôi tiếp xúc với những người phía bên kia chiến tuyến và mời họ ăn. Sau khi rót bia ra, ông đứng lên nói rằng: “Hôm nay bộ đội được ăn mừng chiến thắng. Nhưng ở đây có lẽ chỉ có Việt Nam chúng ta mới có bữa tiệc mà chung quanh là những người đã từng ở hai chiến tuyến như thế này. Cuộc chiến của chúng ta không phải là miền bắc thắng miền nam mà chúng ta đuổi Mỹ rời khỏi miền nam. Vì thế, xin chúc mọi người sức khỏe”.
Ông Nguyên nhấn mạnh, sau giải phóng, Mỹ từng nghĩ rằng sẽ có một cuộc trả thù ở Sài Gòn giống như thời gian sau chiến tranh thế giới thứ hai ở Pháp. Lúc đó người Pháp trả đũa những người theo phát xít Đức một cách thẳng tay. Nhưng điều đó đã không xảy ra ở Việt Nam. Chúng ta đối xử với quân đội và nhân dân Sài Gòn đều nhân đạo. Nhưng thời gian sau giải phóng, trong giai đoạn kinh tế rơi vào khủng hoảng, sự chia rẽ có lẽ bắt đầu xen vào trong từng gia đình. Nhưng chính vì khởi nguồn từ một nền văn hóa chung, khoảng cách ấy cũng từ từ được xóa mờ đi.

HỒNG VÂN - NGÂN ANH
Nguồn: Báo Nhân Dân


Read more…

SÀI GÒN, THÀNH PHỐ TA YÊU - Thơ Lương Sơn



Một thoáng lặng thầm... Tin yêu trong em
Cà phê đá - Công viên xanh- con đường xưa ấy
Tháp Đồng Hồ, chợ Bến Thành, em vẫn thấy
Bóng  thời gian đi qua những lồng chợ, gian hàng

Nhớ một thời, còn tuổi hoa niên
Mối tình đầu ngọt ngào kỷ niệm
của em trong ánh mắt nhìn
của anh bao lời thương mến

Em từng nói với anh
Hòn Ngọc Viễn Đông
Mỗi năm chỉ có hai mùa, mưa và nắng
Dường như Sài Gòn không có mùa đông
Nhưng có một mùa trong em với nhiều khoảng lặng
Mùa Giáng Sinh - Đêm thánh vô cùng
Nhà  thờ Đức Bà tôn nghiêm
Vòm cuốn, toà gương lộng lẫy
Bài hát Thánh ca - ru hồn ta - Linh diệu
"Đây xưa nay ngày lại ngày... những hồi chuông
Đây xưa nay ngày lại ngày... tiếng tiếng buông
Tiếng buông hồi chuông nhân từ cầu Chúa ban phúc an lành cho nhân loại
Ma ri a li a lạy Chúa tôi"

Nhạc Thánh Ca huyền diệu vô cùng
Cho em, cho anh, cho bạn hiền cho những người ta yêu nguồn sáng trong đời
Cho hôm nay em về với Sài Gòn
Màu nắng màu mây, nhịp phố đông vui
Hòn Ngọc Viễn Đông giờ đã khác xưa rồi
Đại lộ Đông Tây
Nhà bảo tàng lưu giữ lịch sử của một thời hoa lửa
Cầu Phú Mỹ vươn sông Sài Gòn, với sáu làn xe dài rộng nhất
Toà tháp Thương mại 68 tầng cao chót vót
Và những đường phố rộng dài ngâp tràn ánh sáng buổi bình minh

Thơ em viết trên đường về, em mong sớm gặp anh
Nên em mong từng giây, từng phút
Mong vận tốc đường bay vượt nhanh qua vòm trời xanh thẳm
Nhanh hơn nữa và nhanh hơn nữa
Cho máy bay hạ cánh giữa phi trường Tân Sơn Nhất
Cho em gặp Sài Gòn
Gặp những người thân yêu nhất
Cho em nói niềm hân hoan tự đáy lòng mình
Sài Gòn ơi! Ta đã về đây

                    L.S (TP. HCM)


Read more…

GIA TÀI - Truyện ngắn Nguyễn Thị Mây



          Năm tôi mười ba tuổi, ngoại mất. Gia tài ông để lại cho tôi nằm gọn trong một cái tủ gỗ thao lao chạm khắc tinh vi, trông rất đẹp.
          Tủ có hai ngăn. Ngăn trên chứa những mẫu vật ngoại sưu tầm. Một cái hộp thiếc đựng những đồng xu đủ loại. Những đồng có lỗ được xâu thành một chuỗi. Trong số đó, tôi thích nhất là những đồng cà- rô-bi có in hình nữ hoàng. Lẽ ra, xâu chuỗi còn dài hơn nếu trước đó tôi không xin ngoại một ít để phân phát cho bạn bè dùng thay compa khi vẽ vòng tròn hoặc mang về biếu bà của chúng làm vật cạo gió.
          Bên cạnh hộp đựng tiền cổ là một bát sứ đầy vun nhũng viên bi to nhỏ, màu sắc sặc sỡ. Có viên bằng thủy tinh trong veo nổi bật những vân màu xanh, đỏ, tím… Có viên bằng sành, men nền màu nâu hay màu rêu bóng loáng điểm xuyết li ti những cánh hoa vàng. Có viên màu hoa Tú Cầu. Có viên màu lửa đượm. Ba viên đặt ở trên cùng chỉ to bằng đầu ngón tay trỏ, bị khờn lỗ chỗ. Nhưng ngoại quí chúng hơn hết khi biết tôi có được từ một việc làm tốt. Tôi thường cho thằng cu Tuấn  mượn bút chì màu trong giờ tập vẽ. Tuấn đã lựa ba viên bi đẹp nhất trong số bi của mình để tặng tôi. Tôi biếu lại cho ông. Có lần tôi hỏi:
          - Ngoại cất bát bi ấy để làm gì?
          - Để ngắm. Chúng đẹp phải không?
          Gật đầu tán thành nhưng tôi vẫn chưa hết thắc mắc:
          - Thiếu gì đồ đẹp hơn sao ngoại không chọn?
          - Vì nó vừa túi tiền của ngoại. Vả lại, chúng còn gợi nhớ những trò chơi vui nhộn thời thơ ấu. Một vật dù tầm thường nhưng mang màu sắc kỷ niệm  cũng trở nên vô giá.
          Điều đó phải mất một thời gian dài tôi mới hiểu.
          Cái hộp giấy đựng tem chết chiếm chỗ gần hết phân nữa ngăn tủ trên. Những con tem chết lem luốt dấu bưu chính nằm bất động, chồng chất lên nhau  được ngoại làm cho chúng có linh hồn, bằng một quyển sổ ghi chép lịch sử hình ảnh của từng con tem. Tôi thích trò chơi nầy lắm. Thấy ai có thư, tôi cũng năn nỉ xin con tem trên phong bì, mang về biếu ông. Ngoại lại mất mấy ngày vào ra thư viện để tìm hiểu, ghi chép vào sổ. Chỉ chờ có thế, tôi đọc ngấu nghiến trong vài giây.
          Trong ngăn tủ nầy, những mẫu hoa văn ngoại sưu tầm được bà khen là thực tế nhất. Vì ông đã sử dụng chúng khi vẽ trang trí lên những bức tường rào quanh các ngôi chùa trong vùng. Công đức ấy được nhiều người  đền bù bằng  cử chỉ ngã mũ, khom người cúi chào khi gặp ông bà ngoại tôi. Ông không tranh luận với bà nhưng tâm sự với tôi:
          - Ngoại làm công quả không phải để đánh đổi những điều đó. Ngoại già rồi, không lo làm việc có ích thì đợi đến bao giờ. Tôi gật đầu, điều nầy tôi thật sự cảm thông với ngoại.
          Ngăn dưới, ngoại xếp một chồng sách và một chồng vở. Những quyển sách đã ngã màu vàng ố nhưng không hề bị quăn góc. Từng trang vẫn phẳng phiu vì mỗi lần đọc sách ông luôn cầm bằng hai tay. Đó là bộ: "Cuốn theo chiều gió”, những quyển truyện truyền thuyết Việt Nam, quyển thơ Lục Vân Tiên, một quyển nói về cây thuốc nam. Chồng vở còn phong phú hơn. Ông dành để ghi chép nhiều loại: Ca dao, tục ngữ, động vật, thực vật, về những người nổi tiếng trong và ngoài nước…
          Ngày nào đi học về, tôi cũng chúi mũi  săm soi cái gia tài của mình. Hết mân mê vật nầy đến chăm chú cúi gầm vào quyển sách kia. Tôi nhận ra có một thế giới kì ảo nằm trong chiếc tủ con. Nhưng niềm vui kéo dài chẳng bao lâu. Một trận hỏa hoạn xảy ra đã cướp đi tất cả. Ngọn lửa quái ác, tàn khốc thiêu rụi cả xóm tôi. Ngôi nhà thân yêu và chiếc tủ quí báu của tôi biến thành tro bụi. Những người hảo tâm đã giúp xóm tôi dựng lại nhà. Nhưng trong ngôi nhà mới thiếu chiếc tủ thao lao chạm khắc tinh vi. Tôi buồn như mất ông lần thứ hai.
          Một hôm, tôi bỗng nghĩ ra một cách: "Tự tạo  gia tài ở lứa tuổi học trò”. Muốn làm ra tiền thì không phải dễ nhưng phục hồi gia sản của ông  chẳng khó khăn mấy,  nếu tôi có quyết tâm và kiên trì. Tôi thực hiện ngay ý định. Từ đó, mỗi sáng tôi chỉ đỡ dạ bằng một bát cơm nguội rồi đến trường. Tiền mẹ cho ăn quà bánh tôi để dành. Chẳng bao lâu, tôi  có một số tiền đủ để mua bảy quyển sổ bìa cứng tuyệt đẹp. Tôi đặt tên cho chúng là Tìm hiểu tự nhiên – Tìm hiểu xã hội – Tuyển văn – Tuyển thơ – Thuốc hay – mẹo vặt – văn hóa. Mỗi chiều, tôi đến thư viện với một trong số các quyển sổ ấy.
          Ngoài ra, tôi còn sưu tầm các mẫu vật, tem thư, những hình ảnh đẹp và lạ. Tất cả những thứ đó được đựng trong… một cái thùng mì gói, đặt dưới gầm giường của tôi. Dù vậy, tôi cảm thấy vui hơn bao giờ hết. Tôi đã nhận ra và hiểu sâu sắc ý nghĩa “cái gia tài" ông để lại cho tôi. Đó là niềm say mê nét đẹp trong cuộc sống, nỗi khao khát chiếm lĩnh tri thức và vận dụng chúng để làm đẹp đời mình, đời người.
          Ngoại đã giúp tôi tìm thấy ý xuân trong từng thời khắc sống. Ôi! Tôi biết ơn ngoại vô cùng!

N.T.M (Trà Vinh)
                                                                           

                                                                    
Read more…

RAU RĂM Ở LẠI - Thơ Hoài Huyền Thanh


          Gió đưa cây cải về trời
               Rau răm ở lại chịu đời đắng cay (ca dao)                  
                        

Ta về thăm chốn cũ
Cần Thơ nắng chiều vương
Hàng phượng xưa xanh ngắt
Một khoảng trời yêu thương
              
Phố An Bình còn đó
Áo trắng sân trường xưa
Cái Khế lòng hiu hắt
Tham Tướng mắt rưng mưa
       
Phong Điền ngày trở lại
Làng sinh thái xanh tươi
Lòng còn nao nao mãi
Cầu Rau Răm nhớ đời*
           
Cầu Trường Tiền lỗi nhịp
Sông Hậu buồn khôn nguôi
Cái Cam đành lỡ bước
Ta lầm lũi xa Người.
                
Cần Thơ - 9.9.2013
H.H.T (TP. HCM)

           * Huyện Phong Điền có nhiều cầu: cầu Trường Tiền, cầu Rau Răm, cầu Cái Cam…

Read more…

TÓC THỀ NĂM CŨ - Thơ Hoàng Anh 79



Còn bao năm nữa mình thương nhớ
Em có quay về nắng tháng tư
Thời gian theo gió phai màu áo
Biết có còn không dáng tiểu thư

Em có quay về theo cánh chim
Còn gì đâu nữa để ta tìm
Một đời rong ruổi cùng vinh nhục
Rồi chết một lần trong lặng im

Em có quay về theo áng mây
Lang thang quên mất tuổi ngày dài
Ta hụt hẫng chờ em tuyệt vọng
Hiu quạnh  bên đời tay trắng tay

Em có quay về trong đêm sương
Để nhìn hoa đỏ chết bên đường
Và nghe lá rụng bên thềm vắng
Còn chút bụi lầm em có thương

Ở đây sông núi còn muôn thuở
Em ở xứ người có tuyết rơi
Còn thương sợi tóc thề năm cũ
Dâu bể lạc nhau một phía trời!

Ngày 19/4/2015
H.A 79 (An Giang)
Read more…

ĐI NGƯỢC VỀ PHÍA ĐƯƠNG XUÂN - Thơ Thái An Khánh


          60 mùa thu
          con đường lên đỉnh hay xuống vực
          giờ như mây bay

          đêm
          đi ngược về phía đương xuân
          gặp em ngực đập vó ngựa
          tiết tấu cao nguyên
          sung sướng hòa dòng
         
          chiều
          đi ngược về phía đương xuân
          gặp mẹ gánh mặt trời
          chạm ngõ mặt trăng
          mê mưu sinh
          con ít về thăm nhà

          trưa
          đi ngược về phía đương xuân
          ta tắm sông
          sông hóa thành ta những rộng dài khuất lấp
          đô thị lên đầy
          một đứa bé trần truồng nói với tôi
          chờ ngươi ở đây lâu rồi

          sáng
          đi ngược về phía đương xuân
          treo mình trên cây cổ thụ giữa đồng xa
          tiếng chim mở khóa lòng bao năm đau đáu
          lực hấp dẫn bao trùm nhân thế
          thực sự từ đây ánh sáng khởi dòng

          thời gian trong lòng bàn tay


T.A.K (Bình Định)
Read more…

LỊCH SỬ, Ý NGHĨA NGÀY GIỖ TỔ HÙNG VƯƠNG (MỒNG 10 THÁNG BA)


Lễ hội Đền Hùng còn gọi là Giỗ Tổ Hùng Vương, là một lễ hội lớn nhằm tưởng nhớ và tỏ lòng biết ơn công lao lập nước của các vua Hùng, những vị vua đầu tiên của dân tộc Việt Nam.


“Dù ai đi ngược về xuôi
 Nhớ ngày Giỗ Tổ mồng mười tháng ba
Khắp miền truyền mãi câu ca
Nước non vẫn nước non nhà ngàn năm”
Câu ca dao đậm đà tình nghĩa đã đi vào lòng mỗi người dân Việt Nam từ thế hệ này sang thế hệ khác. Hàng ngàn năm nay, Đền Hùng - nơi cội nguồn của dân tộc, của đất nước luôn là biểu tượng tôn kính, linh nghiêm quy tụ và gắn bó với dân tộc Việt Nam.
Theo truyền thuyết thì Lạc Long Quân và Âu Cơ được xem như là Thủy Tổ người Việt, cha mẹ của các Vua Hùng. Lễ hội Đền Hùng còn được gọi là ngày Giỗ Tổ Hùng Vương.
Ngày Giỗ Tổ Hùng Vương diễn ra vào ngày mồng 10 tháng 3 âm lịch hàng năm tại Đền Hùng, Việt Trì, Phú Thọ. Trước đó hàng tuần, lễ hội đã diễn ra với nhiều hoạt động văn hoá dân gian và kết thúc vào ngày 10 tháng 3 âm lịch với Lễ rước kiệu và dâng hương tại Đền Thượng.
Từ xa xưa Ngày Giỗ Tổ Hùng Vương đã có vị thế đặc biệt trong tâm thức của người Việt. Bản ngọc phả viết thời Trần, năm 1470 đời vua Lê Thánh Tông và đời vua Lê Kính Tông năm 1601 sao chép đóng dấu kiềm để tại Đền Hùng, nói rằng: “...Từ nhà Triệu, nhà Đinh, nhà Lê, nhà Lý, nhà Trần đến triều đại ta bây giờ là Hồng Đức Hậu Lê vẫn cùng hương khói trong ngôi đền ở làng Trung Nghĩa. Những ruộng đất sưu thuế từ xưa để lại dùng vào việc cúng tế vẫn không thay đổi...”.
Như vậy, có thể hiểu từ thời Hậu Lê trở về trước các triều đại đều quản lý Đền Hùng theo cách giao thẳng cho dân sở tại trông nom, sửa chữa, cúng bái, làm Giỗ Tổ ngày 10 tháng 3 âm lịch. Bù lại họ được miễn nộp thuế 500 mẫu ruộng, miễn đóng sưu, miễn đi phu đi lính.
Đến đời nhà Nguyễn vào năm Khải Định thứ 2 (1917), Tuần phủ Phú Thọ Lê Trung Ngọc đã trình bộ Lễ định ngày 10 tháng 3 âm lịch hàng năm làm ngày Quốc tế (Quốc lễ, Quốc giỗ). Điều này được tấm bia Hùng Vương từ khảo do Tham tri Bùi Ngọc Hoàn, Tuần phủ tỉnh Phú Thọ, lập năm Bảo Đại thứ 15 (1940) cũng đang đặt ở Đền Thượng trên núi Hùng, xác nhận: “Trước đây, ngày Quốc tế lấy vào mùa thu làm định kỳ. Đến năm Khải Định thứ hai (dương lịch là năm 1917), Tuần phủ Phú Thọ là Lê Trung Ngọc có công văn xin bộ Lễ ấn định ngày mồng Mười tháng Ba hằng năm làm ngày Quốc tế, tức trước ngày giỗ tổ Hùng Vương đời thứ 18 một ngày. Còn ngày giỗ (11 tháng Ba) do dân sở tại làm lễ”. Kể từ đây, ngày Giỗ Tổ Hùng Vương ngày 10 tháng 3 âm lịch hàng năm được chính thức hóa bằng luật pháp.
Sau Cách mạng tháng Tám (1945) Đảng, Nhà nước ta rất quan tâm tới Đền Hùng, Chủ tịch Hồ Chí Minh, các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước đều đã về thăm viếng tại đây. Kế tục truyền thống cao đẹp của cha ông, nhất là đạo đức “uống nước nhớ nguồn”, ngay sau cách mạng thành công, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký Sắc lệnh của Chủ Tịch nước số 22/SL - CTN ngày 18 tháng 2 năm 1946 cho công chức nghỉ ngày 10 tháng 3 âm lịch hàng năm để tham gia tổ chức các hoạt động Giỗ Tổ Hùng Vương - hướng về cội nguồn dân tộc.

Trong ngày Giỗ Tổ năm Bính Tuất (1946) - năm đầu tiên của Chính phủ mới được thành lập, cụ Huỳnh Thúc Kháng - Quyền Chủ tịch nước đã dâng một tấm bản đồ Tổ quốc Việt Nam và một thanh gươm quý nhằm cáo với Tổ tiên về đất nước bị xâm lăng và cầu mong Tổ tiên phù hộ cho quốc thái dân an, thiên hạ thái bình cùng nhau đoàn kết, đánh tan giặc xâm lược, bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ của đất nước.
Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng đã có hai lần về thăm Đền Hùng (19/9/1954 và 19/8/1962). Tại đây Người đã có câu nói bất hủ: “Các Vua Hùng đã có công dựng nước - Bác cháu ta phải cùng nhau giữ lấy nước”. Người còn nhắc: “Phải chú ý bảo vệ, trồng thêm hoa, thêm cây cối để Đền Hùng ngày càng trang nghiêm và đẹp đẽ, thành công viên lịch sử cho con cháu sau này đến tham quan”.
Năm 1995, ngày Giỗ Tổ Hùng Vương đã được Ban Bí thư ghi trong thông báo là ngày lễ lớn trong năm. Ngành Văn hóa thông tin - thể thao phối hợp với các ngành chức năng đã tổ chức lễ hội trong thời gian 10 ngày (từ 1/3 đến 10/3 âm lịch).
Tại Nghị định số 82/2001/NĐ-CP ngày 06/11/2001 về Nghi lễ Nhà nước, trong đó có nội dung quy định cụ thể về quy mô tổ chức Giỗ Tổ Hùng Vương, cụ thể như sau:
- “Năm chẵn” là số năm kỷ niệm có chữ số cuối cùng là “0”; Bộ Văn hoá - Thông tin và Ủy ban Nhân dân tỉnh Phú Thọ tổ chức Lễ hội; mời đại diện lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Quốc hội, Chính phủ, Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể dự Lễ dâng hương.
- “Năm tròn” là số năm kỷ niệm có chữ số cuối cùng là “5”; Ủy ban Nhân dân tỉnh Phú Thọ tổ chức lễ hội; mời đại diện lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Quốc hội, Chính phủ, Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể dự Lễ dâng hương.
- “Năm lẻ” là số năm kỷ niệm có các chữ số cuối cùng còn lại. Ủy ban Nhân dân tỉnh Phú Thọ tổ chức lễ hội; mời lãnh đạo Bộ Văn hoá - Thông tin dự lễ dâng hương và tổ chức các hoạt động trong lễ hội.
Ngày 02/4/2007, Quốc Hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã phê chuẩn sửa đổi, bổ sung Điều 73 của Luật Lao động cho người lao động được nghỉ làm việc, hưởng nguyên lương ngày Giỗ Tổ Hùng Vương (10/3 âm lịch). Kể từ đây, ngày 10/3 âm lịch hàng năm đã trở thành ngày lễ lớn - QUỐC LỄ mang ý nghĩa bản sắc văn hóa dân tộc.
Ngày giỗ Tổ Hùng Vương hằng năm là ngày hội chung của toàn dân, ngày mà mọi trái tim dù đang sống và làm việc ở muôn nơi vẫn đập chung một nhịp, mọi cặp mắt đều nhìn về cùng một hướng. Trong ngày này, nhân dân cả nước còn có điều kiện để tham gia vào các hoạt động văn hóa thể hiện lòng thành kính tri ân các Vua Hùng đã có công dựng nước và các bậc tiền nhân đã vì dân giữ nước.
Trong hồ sơ đề trình UNESCO công nhận “Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương” là di sản văn hoá thế giới đã nêu rõ giá trị của di sản là thể hiện lòng tôn kính đối với tổ tiên, theo tinh thần “Uống nước nhớ nguồn” của dân tộc Việt Nam. Theo đánh giá của các chuyên gia UNESCO, “Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương” đã đáp ứng được tiêu chí quan trọng nhất trong 5 tiêu chí, đó là, di sản có giá trị nổi bật mang tính toàn cầu, khích lệ ý thức chung của mọi dân tộc trong việc thúc đẩy giá trị đó. Vì vậy, ngày 6/12/2012, UNESCO đã chính thức công nhận “Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương ở Phú Thọ”, biểu tượng của tinh thần đại đoàn kết, truyền thống đạo lý “Uống nước nhớ nguồn” của dân tộc Việt Nam là Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại.
Giỗ Tổ Hùng Vương - Lễ hội Đền Hùng còn là dịp để giáo dục truyền thống “Uống nước nhớ nguồn”, lòng biết ơn sâu sắc các Vua Hùng đã có công dựng nước và các bậc tiền nhân kiên cường chống giặc ngoại xâm giữ nước, đồng thời còn là dịp quan trọng để chúng ta quảng bá ra thế giới về một Di sản vô cùng giá trị, độc đáo, đã tồn tại hàng nghìn năm, ăn sâu vào tâm hồn, tình cảm, trở thành đạo lý truyền thống của đồng bào cả nước, kiều bào ta ở nước ngoài, là ngày để toàn Đảng, toàn quân, toàn dân ta cùng nguyện một lòng mãi mãi khắc ghi lời căn dặn của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Các Vua Hùng đã có công dựng nước - Bác cháu ta phải cùng nhau giữ lấy nước”.

Uyên Linh (Tổng hợp)

Read more…

MUỘN MÀNG - Truyện ngắn Nguyễn Thúy Ngân



Hết giờ ở xí nghiệp, tôi dắt vội chiếc xe đạp ra cổng. Kê cái bàn tọa ê ẩm lên yên xe sau mấy tiếng ngồi ở văn phòng, lấy đà cho xe chạy, rồi cứ thế cong lưng đạp, luồn lách giữa dòng người đông đen trong giờ cao điểm. Tôi vội về nhà, vì con trai tôi đang hơi hầm hầm sốt mà chẳng gửi ai trông giúp được. Nó mới hơn 4 tuổi, chứ có lớn gì mà bảo tự chơi một mình. Suốt thời gian ngồi ở cơ quan mà lòng luôn thấp thỏm, sợ thằng bé có chuyện gì thì  ân hận cả đời. Vừa về đến khu tập thể Liên Cơ, dựa vội xe vào vách, tôi đảo mắt tìm thằng bé. Gần đây có tiếng trống, tiếng reo hò của đám đông. Tôi đi về phía đó. À, hôm nay chỗ tôi ở có đám rước thuyền trên sông, mọi người rảnh rỗi ra xem. Thằng bé cũng đã lẫn vào đoàn người, nó chỉ mon men gần đấy chứ không ra mép sông như người lớn. Nhưng chỉ bấy nhiêu đó thôi cũng làm tôi điếng hồn rồi. Vừa thấy nó tôi rối rít nói: “Mẹ dặn con chơi ở cửa nhà, tại sao lại ra đây, lỡ sảy chân rơi xuống sông thì sao?”. Mặc tôi nói, nó vòi vĩnh: “Mẹ… Mẹ… ẵm con đi”. Nó đòi tôi bế. Hai tay nhấc nó lên khỏi mặt đất, kê cái hông vào đỡ đít nó, thì tôi lại vội đặt nó xuống: Trời ơi! Một “bị” thế này thiệt hết chịu nổi; mùi hôi thúi lan tỏa. Tôi kéo vội thằng bé ra bờ mương, lột quần nó ra, giũ giũ vào dòng nước cho trôi bớt thứ vàng vàng đặc sệt thúi hoắc ấy. Thằng bé chạy trước, tôi nhón hai ngón tay cầm vào chỗ sạch của cái quần đi về nhà. Nước từ cái quần chảy tong tỏng theo bước chân. Trong lúc loay hoay tôi nhìn thấy lão đứng xớ rớ, giữa đám người lố nhố. Một cơn giận bỗng trỗi dậy. Lão hỏi: Thằng nhỏ đỡ bệnh chưa? - nhưng tôi giả lơ đi luôn không trả lời. Tôi nghe có tiếng chân bước nặng nề đi theo, bước chân của lão. Về tới sân khu tập thể, lão gầm gừ: “Hỏi sao không trả lời, nếu không nuôi nổi nó thì giao lại đây. Thứ mẹ gì con bị bệnh không ở nhà trông mà bỏ đi làm?”. Cơn giận cố kềm giờ nó chuyển thành cơn bão lớn. Tôi quay phắc lại, quắc mắt nhìn lão như tóe lửa, gằn từng tiếng: “Ông có phải cha nó không mà sao vô tâm như vậy, đâu cứ phải toà phán cho ai là giao khoán cho người đó. Ông nhìn lại ông xem, sao không tự nguyện làm trách nhiệm của mình đi, chỉ được cái đạo đức giả”. Sau câu nói của tôi là một tiếng “ầm” của cánh cửa nhà lão. Cơn tức đang lên đỉnh điểm, thấy thằng bé, tôi kéo nó lại, đét cho nó một phát vào mông. Thằng bé ré lên, còn tôi thì cũng ngơ ngác: “Á, Á”- Một bàn tay đầy cứt từ đít thằng nhỏ chưa rửa sạch. “Tức cái mình quá đi”- Tôi hét toáng lên. Tiếng cánh cửa đóng mạnh họa thêm tiếng la của chính mình làm tôi choàng tỉnh.- Ui trời! Chỉ là một giấc mơ. 

*** 
    Tôi làm kế toán trong một xí nghiệp may quốc doanh. Xí nghiệp phần lớn toàn đàn bà con gái chứ đàn ông thì ít khi theo nghề may vá tẩn mẩn. Khối văn phòng cũng có mấy ông chẳng ra hồn, còn vài cậu, thì tuổi đáng chú em. Công việc thì tối mắt với những dãy số khổng lồ, cộng thêm thời gian cứ dắt nhau chạy nước rút. Lôi tuốt tuồn tuột mọi thứ kể cả tuổi xuân của tôi, của nhiều cô gái khác trong cái xí nghiệp bé nhỏ này. Chợt nhìn lại mình đã qua tuổi băm... bằm… dai nhách, mà chưa có một mảnh tình vắt vai cho bằng chị bằng em. Thời của tôi gọi đích danh là “Ế”. Nói vậy cũng có vẻ bất công ghê, chứ mấy cha đàn ông: “Bảy mươi ta vẫn còn xoan- ta nay mới ba chục đã toan gái già”. Thảo nào mà mấy cha ấy tự cao tự đại, đầu hai thứ tóc mà cứ tưởng còn trẻ, toàn tán tỉnh mấy con nhóc chân dài. Có dịp tụ năm, tụ bảy là nói khoác, chê hết bà này đến cô nọ. Thế mà chẳng nhận ra mình ở dạng nào. Đích thị mấy cha ấy có bệnh mà không biết, giấu nhẹm đi! 
    Hơn mười năm về trước, tôi cũng là cô gái tuy không đẹp, nhưng xinh cũng vào hạng nhất nhì xí nghiệp. Vệ tinh xoay quanh như chong chóng. Tôi cũng yêu một người. Anh ấy là lính pháo binh phục viên. Nói về cơ bản khá tốt như: trình độ kỹ sư vô tuyến điện, cao ráo, tính tình hiền lành. Tôi với anh thật sự yêu nhau và còn dự tính sẽ tổ chức đám cưới. Nhưng - Cái chữ “Nhưng” oan nghiệt lại quàng vào mối tình của chúng tôi. Có hai lý do mà tôi với anh phải gạt nước mắt chia tay. Lý do thứ nhất: Anh là người Bắc. Má tôi không chịu anh, nên tìm cách đưa ra một lô dài nguyên nhân…
    - Má không chê nó ở điểm nào, nhưng nó là người Bắc phong tục tập quán khác xa với gia đình ta; nào là người Bắc sống chuộng hình thức, lễ nghĩa. Con có học được không? Hay lấy nhau được ba bảy hai mốt ngày lại ôm con về, rồi mang cái tiếng bỏ chồng, rồi cha mẹ cũng mang tiếng là không biết dạy con. Hơn nữa người Bắc, nào là…nào là… Nghe mà nhức buốt cả đầu. 
    - Má không chịu ảnh nên nói vậy chứ gì. Tôi gân cổ cãi lại - những lý do đó không quan trọng. Đã thương nhau rồi thì có thể dung hòa mọi chuyện. Con thương ảnh, má không chịu con đi tu…
    - Ờ đi tu, tu đi! - Má tôi gầm lên, nói bắc cầu qua cha tôi. “Đó, ông xem con gái rượu ông đó, nuôi cho nên hình nên dáng rồi không biết nghe lời, muốn tốt cho nó, mà nó lại biến tôi thành bà la sát. Hu… huhu…”- Má vừa nói vừa hỉ mũi cái soẹt. Nước mũi dính ở tay, bà thẩy một cái rõ mạnh làm nó đậu luôn vào má cha tôi.
    - Cái bà này ớn chưa. Thôi! Má con bà ra rửa mặt đi cho tỉnh táo, chuyện đâu còn có đó, la lối um xùm hàng xóm nghe cười thúi lỗ tai. Cha tôi nói rồi bỏ ra nhà sau. Tôi với má cũng mỗi người một hướng. 
    Chuyện chỉ tạm dừng vì cái hỉ mũi của má, chứ cuộc chiến trong gia đình vẫn còn âm ỉ. Hết năn nỉ đến khóc lóc, má tôi nhất định không chịu là không. Tôi kéo luôn cha, và cậu em vào cuộc. Tôi có hai đồng minh, thế mà vẫn không thắng nổi má. Tôi bày ra phương án chống đối bằng cách tuyệt thực, mặt khác tôi mè nheo cha tôi. Ông thương con gái, khuyên má tôi chấp nhận. Má tôi không muốn cãi cọ với cha, nên cứ thấy cha con tôi rù rì nói chuyện, là má tôi là liếc xéo, hí huýt. 
    - Đúng là cha nào con nấy. Má tôi nói háy rồi ngúng ngoảy bỏ đi.
    - Má, má à! Cho chị Hai lấy chồng cho rồi, ngăn chi, lỡ chỉ đi tu thiệt thì sao? Hơn nữa, con gái khôn ba năm dại một giờ, lúc đó má cũng phải chấp nhận thôi? Hay là má muốn chỉ vác cái bầu về mới chịu - Nó còn hát nhại một câu gì đó mà tôi nghe loáng thoáng là: “Vì tình… đeo ba-lô đằng trước, vì nước… đeo ba-lô đằng sau”. Cậu em tôi thuyết phục, cha tôi phụ họa thêm:
    - Thằng Út nói đúng đó, bà nghĩ lại coi. Con Hai lấy chồng ở đây, chứ có phải nó ra Bắc làm dâu ai đâu mà bà sợ? Thôi em đừng lo, buồn nữa - Cha tôi chuyển tông từ “bà” sang “em” làm má tôi nguôi ngoai. Má không nói gì bỏ về phòng nằm và bỏ luôn cả bữa cơm chiều. 
    Nhà đã lên đèn mà má không ra ăn cơm. Ba thắp mấy nén nhang cắm trên bàn thờ nội. Mâm cơm dọn ra rồi, cha con ngồi nhìn chẳng ai muốn cầm đũa, không khí như cô đặc lại. 
    Cha tôi nói: “Hai - vào phòng với má con coi, rồi lựa lời mà nói. Má con không muốn con khổ thôi, đi đi!”- Cha tôi giục. 
    - Dạ - Tôi đáp. Vào phòng, má đang thút thít khóc. Sà vào lòng bà tôi khóc theo. Má ơi! Con xin lỗi, con thật bất hiếu. 
    - Thôi, hôm nào con nói nó về nhà ăn cơm - Má nói, tay quẹt ngang dòng nước mắt. Má ôm tôi vào lòng vỗ vỗ vào lưng như dỗ dành: “Ráng sống hạnh phúc nha con gái” - Má nói thêm. Dạ - Tôi trả lời rồi vùi đầu vào lòng bà. Một mùi thơm dịu dàng, ấm áp. Giấc ngủ  bất chợt chập chờn đến lúc nào không hay. 
    Chiều hôm sau hết giờ làm, tôi chạy sang bên khu nhà anh ở. Dự tính báo tin vui. Cửa phòng khóa. Sang tiếp bên cơ quan cũng không thấy. Tôi hỏi, có người nói không gặp. Có người nói mới thấy bóng đó nhưng không biết đi đâu. Trong lòng vừa tức vừa lo: Đi đâu vậy cà? - Tôi lầm bầm. Tôi nhớ ra rồi, chỉ có một nơi. Chỗ riêng tư của chúng tôi: Bãi biển. 
    Chiều nay, bãi biển vắng người hơn thường lệ, có lẽ trời đang muốn mưa.  Bầu trời nặng trình trịch như sắp sụp xuống, những cơn gió mạnh cuốn cả vốc cát hắt vào mặt rát rạt. Biển như sôi lên đục ngàu, kèm theo những đợt sóng lớn, đập ầm ầm vào vách đá bọt tung trắng xóa. Tôi liên tưởng nếu trong những con sóng ấy có tôi, với cái thân thể nhỏ bé này sẽ dập nát tan tành. Khuất lẫn trong những đợt sóng còn mấy chiếc tàu đánh cá đang nương theo dòng nước vất vả vào bến. Cuộc mưu sinh sóng nước luôn vật lộn với thiên nhiên. 
   Người đàn ông ngồi trên một tảng đá lớn. Tư thế thật bất an, với kiểu ngồi bó gối, cái đầu được đỡ bằng hai đầu gối chân co lại. Thêm nữa cái đầu ấy được đôi tay to lớn ôm vòng quanh. Tư thế này chắc chắn người đang gặp phải chuyện đau lòng hay còn hơn thế nữa. Nhưng, đó chính là Khang của tôi. 
   Tôi không biết chuyện gì xảy ra với anh. Anh ngồi bất động mặc cho bọt nước từ những con sóng hắt lên ướt cả nửa mình. Tảng đá lấn ra biển như một con lươn đen nhẻm, trơn trượt.
    - Anh Khang - Tôi gọi. Khang không quay lại hay không nghe tiếng nhỉ?- Tôi nhủ thầm.
    - Khang… Khang… Anh… Khang. Tôi bụm tay cố gọi thật to. Chắc chắn tiếng gọi của tôi không đủ lớn so với tiếng sóng, tiếng gió của một chiều biển đang nổi cơn dông. Trời bắt đầu đổ mưa. Tôi quyết định đi xuống biển, không gian chuyển màu xám đặc, sóng liên tiếp dồn vào bờ, mạnh hơn cao hơn. Tôi cảm nhận được vì cát dưới chân mình rút mạnh, dòng nước như vòi bạch tuộc vừa kéo vừa hút ra xa. Tôi mất đà ngã dúi dụi, vội đứng lên để kịp đỡ con sóng mới. Miệng vẫn không ngớt gọi “Khang ơi… ơi…”. Tiếng gọi như rơi vào không trung, tan loãng. Tôi cố lội tới gần, chỉ có một đoạn ngắn mà nước đã ngang bụng. Sóng lớn quá, tôi cố tránh con sóng đổ trực diện nhưng muộn rồi. Một đợt sóng liên tiếp cao hơn đầu người đổ ụp xuống đầu tôi. Tôi chới với, người tôi hoàn toàn đươc nhấc bổng lên, trôi đi. Cố vùng lấy lại thăng bằng, tôi ngoi lên được mặt nước, hai tay giơ lên vẫy vấy, lấy hơi hét thật lớn: “Anh Khang… cứu… cứu em…”. Sức tôi đuối dần, nước tràn vào miệng mặn chát, tai lùng bùng không còn nghe rõ nữa. Mắt tối lại. Tôi ngất đi không biết gì.
    Không biết tôi lịm đi trong bao lâu, song trong tiềm thức mơ hồ như có ai nắm lấy tóc mình kéo mạnh. Người tôi được nhấc lên một cách nhẹ nhàng. Tôi có cảm tưởng như đang bay. Xung quanh tôi là một vườn hoa hồng tuyệt đep, một vài cặp bướm đa tình đang gạ gẫm nhau. Đâu đó có tiếng sáo lẫn trong gió. Tiếng sáo là lời một bản tình ca nghe thật da diết. Lời tỏ tình của chàng trai. Tôi mơ màng nghe có ai gọi tên mình. “Lan ơi! Tỉnh lại đi em. Anh yêu em nhiều lắm”. Tiếp đến, tôi lại thấy mình như đang ngồi trên lưng ngựa, người tôi nảy lên theo bước gõ nhặt khoan lóc cóc… lóc cóc… 
    Tôi choàng tỉnh, ngạc nhiên nhìn mọi người đang xúm đông xúm đỏ quanh giường.
    - Chuyện gì vậy má - Tôi thì thào. Má ôm chầm lấy tôi rối rít - Ôi con tôi con tôi! Cha xoa đầu tôi nói: Con gái ba giỏi lắm. Cám ơn trời Phật…!
    - Em tỉnh rồi Lan ơi - Tiếng của Khang reo lên. 
    - Ủa! Sao Khang lại ở đây? - Tôi bàng hoàng hỏi. Anh ngước nhìn cha má tôi, ngập ngừng trả lời:
- Thì em bệnh nên anh ở đây chứ sao?
Tôi nhìn khắp lượt, gương mặt mọi người dãn ra, như vừa giải quyết xong một chuyện gì rất quan trọng. Cha má tôi khoát tay bảo mọi người ra ngoài. Chỉ còn tôi và Khang… 


    Tôi hoàn toàn khỏe mạnh sau một tuần dưỡng bệnh và đã đi làm trở lại. Tôi đã biết lý do tại sao tôi bệnh. Khang rất ân cần chăm sóc tôi. Nhưng tôi linh cảm thấy có điều gì hệ trọng đang được anh giấu kín. Khang vùi đầu vào các dự án, các bản vẽ vi mạch. Đã thế lại còn nhận đi công tác xa, dài hạn liên tiếp. Thắc mắc hỏi - được Khang cho biết là công ty của anh đang hợp tác với một công ty nước ngoài mở rộng mạng, hơn nữa anh cũng đang cần một khoản tiền để lo cho tương lai. Lý do Khang đưa ra chính đáng, nên tôi không biết nói gì hơn. Tôi thật sự buồn, một nỗi buồn len lỏi vào tận tâm can. Khang đi công tác đợt này lâu quá. Đã mấy tháng mà không có tin tức gì. Tôi nhắn Hải - người bạn thân, nếu Khang không trả lời thì tôi sẽ đi tìm. Mấy ngày sau Hải đưa cho tôi phong thư dày, dán kín. Nội dung chính bức thư cho biết: “Hồi anh còn là lính, trong một trận pháo kích bị thương. Vết thương này sẽ mãi mãi không cho anh được làm cha. Thời gian yêu em, anh đã giấu nỗi đau cho riêng mình. Yêu em nhiều bao nhiêu, anh càng không thể tước đoạt quyền làm mẹ của em bấy nhiêu. Chiều hôm anh ngồi ngoài bãi biển là ngày anh quyết định sẽ nói sự thật…”. Trớ trêu thay đó cũng là ngày tôi suýt bị chết hụt. Anh chăm sóc tôi cho đến khi hoàn toàn bình phục và chọn cách ra đi. Lá thư thay cho lời tạ từ, nó mang đi luôn tình yêu và trái tim tôi.  
    - Lan ơi! Em nấu cơm chưa? - Chị Mai phòng sát bên chạy sang hỏi. 
    - Chưa chị - Tôi trả lời.
    - Vậy lát nữa em sang chị ăn cơm luôn cho vui - Chị mời.
    - Thôi để khi khác đi, em cũng còn đồ ăn - Tôi từ chối. 
    - Cất đi để bữa khác, hay em ngại thì mang sang luôn, chị em mình cùng nấu nha. Miệng nói tay chị cầm luôn rổ rau củ tôi chuẩn bị cho bữa chiều. Không còn từ chối được nữa tôi đành khóa cửa đi theo. Bữa cơm chiều nay cũng có thêm Huân tham dự. Vậy là có hai kẻ độc thân đi ăn chực - Tôi đùa. 
    - Có cô, chú ăn cùng càng vui. Anh Nghĩa chồng chị Mai đon đả nói và còn cố ý ghép tôi với Huân thành một cặp. Huân làm bên phòng nông nghiệp, lớn hơn tôi khoảng chục tuổi gì đó, độc thân. Bữa cơm vui vẻ qua nhanh. Dọn dẹp xong chúng tôi quây quần bên bàn uống nước. Anh Nghĩa đằng hắng lấy giọng: 
    - Cô Lan này, anh nói có điều gì không vừa ý thì bỏ qua. Anh thương cô như em gái - anh Nghĩa rào đón. 
    - Có chuyện gì mà anh làm mặt quan trọng dữ vậy. Em xin nghe - Tôi thấy hơi hồi hộp. 
    - Chuyện là: Chú Huân có nói với anh chị, chú ấy để ý đến cô khá lâu, nhưng ngại không biết ý cô thế nào. Theo anh thì cô chú cũng lớn tuổi rồi, suy nghĩ chín chắn hơn, cả hai hoàn toàn độc thân. Cô, chú có thể tạo thành một gia đình. Tình yêu cũng có thể đến sau hôn nhân. Phía chú Huân thì không cần bàn, vì chú Huân đã có tình cảm với cô rồi. Còn cô thì anh chưa rõ. Anh chị nói vậy, cô Lan xem lại rồi trả lời cho chú Huân hay. Cô Lan cứ suy nghĩ đi. Vậy là tôi đã hiểu lý do những bữa cơm có hai kẻ độc thân ăn ké. 
    Thế là tôi trở thành vợ của Huân. Năm đầu mọi chuyện trôi đi trong yên ả. Tôi cố quên Khang đi để sống cho hiện tại. Nhưng từ khi có bé An ra đời, mọi chuyện bắt đầu rối lên. Rối đến độ không còn gỡ được nữa. Huân bắt đầu trở tính. Chuyện gì cũng là cái cớ để la rầy tôi: Lúc thì “Nhà cửa bề bộn, phòng ngủ toàn mùi sữa, mùi nước đái nồng nặc. Rồi đến chuyện cơm nước chậm trễ”. Huân dằn hắt đủ chuyện. Tôi đã nhịn cho yên cửa nhà. Có khi tôi cũng cãi lại, chúng tôi cãi nhau to. 
    - Sao ông vô trách nhiệm thế, con còn nhỏ ông phải phụ một tay chứ, sao cái gì ông cũng đổ lên đầu tôi. Một tay ẵm con, còn tay kia thì lo nấu ăn, trong khi ông đi làm về ngồi ngửa bụng đọc báo, xem tivi là sao? Bảo ông trông con, ông nói không biết giữ trẻ. Con ốm con đau ông vô tư ngủ khò, bỏ mặc mẹ con tôi. Ông có phải là chồng, là cha hay là kẻ đến ngủ nhờ - Tôi điên tiết nói một hơi dài. 
    - Á, cô giỏi quá ha! Đẻ được thì nuôi chứ than thở nỗi gì. Uh, tôi không xứng làm chồng, cô đi tìm thằng bồ cũ mà nhờ. Nó bây giờ ngon lắm - Anh ta móc qua chuyện cũ giọng ghen tuông. Sẵn chân anh ta đá cái bàn đổ cái ầm. Ly tách vỡ loảng xoảng. Đến nước này tôi không còn chịu nổi nữa. 
    - Ông dọn về phòng của ông đi, chứ sống kiểu này tôi chịu hết nổi rồi. Ông tưởng ông ngon lắm hả. Tôi chấp nhận lấy ông cứ nghĩ rằng ông lớn tuổi sẽ yêu thương gia đình hơn, tâm lý hơn, chín chắn hơn nhưng tôi đã lầm. Ông đi đi cho khỏi vướng bận trách nhiệm làm cha làm chồng, được tự do bay nhảy. 
    - Đi thì đi - lão nói rồi quay đi bất cần. Hai ngày sau lão dọn về căn hộ độc thân của lão cách đó vài căn. 
   
      Sáng nay - chủ nhật, trời coi bộ nắng đẹp, gió hiu hiu mát lạnh. Tôi bế bé An ra biển, nắm bàn tay bé nhỏ xinh xinh của nó lòng tôi thật nhẹ nhõm, một cái gì đó thật ấm áp, thật thiêng liêng... 
    Tòa tuyên cuộc hôn nhân của tôi chấm dứt. Tôi được quyền nuôi bé An. 
    Tôi trở thành bà mẹ đơn thân. Tình yêu không đến sau hôn nhân, và không chung tiếng nói khi trái tim mình đã chết. Có những giấc mơ cứ lặp đi, lặp lại đến ám ảnh như giấc mơ ở trên. Trong tận cùng tâm khảm tôi vẫn luôn hy vọng ngày mai giấc mơ đời sẽ đẹp. 

N.T.N (Bình Thuận)





Read more…

CÁCH NHẬP COMMENT TRÊN HƯƠNG QUÊ NHÀ

Đầu tiên, nhấp chuột vào ô Nhập nhận xét của bạn rồi viết comment. Viết xong, nhấp chuột vào ô Tài khoản Google. Sau đó nhấp chuột vào Tên/URL thì sẽ hiện ra 2 ô. Ô phía trên, ghi Họ và tên của bạn. Ô phía dưới, ghi dòng chữ:huongquenha.com

Cuối cùng, nhấp chuột vào ô Tiếp tục và nhấp chuột tiếp vào ô Xuất bản là xong. (Nếu bạn đã có sẵn Tài khoản Google, thì sau khi viết comment, chỉ cần nhấp chuột vào ô Xuất bản là thành công)


-------------------------------------------------------------------------


TÁC GIẢ & TÁC PHẨM
* TÁC GIẢ & TÁC PHẨM * TÁC GIẢ & TÁC PHẨM * TÁC GIẢ & TÁC PHẨM * TÁC GIẢ & TÁC PHẨM---------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------
Ái Nhân (14) ẢNH (58) Anh Ngọc (1) Anh Nguyên (1) Anh Phong (4) Anh Phương (2) Ân Thiên (1) Bạch Diệp (3) Bách Mỵ (2) BÀN TRÒN VĂN NGHỆ (87) Bảo Hồ (1) Bảo Lâm (1) Bảo Ninh (2) Bé Hải Dân (1) Bích Ái (3) Bích Lê (4) Bích Ngọc (1) Bích Vân (2) Bình Địa Mộc (1) Bình Nguyên (1) Bình Nguyên Trang (2) Bobby Nam Giang (4) Bùi Anh Sắc (1) Bùi Công Thuấn (1) Bùi Danh Hải Phong (1) Bùi Đức Ánh (60) Bùi Hoài Vân (5) Bùi Huyền Tương (2) Bùi Hữu Phước (1) Bùi Nguyên Bằng (5) Bùi Nhựa (4) Bùi Văn Bồng (5) Bùi Việt Thắng (1) BÚT KÝ (17) Cao Duy Thảo (1) Cao Kim Quy (1) Cao Thị Thu Hà (3) Cao Thọ Thêm (2) Cao Thoại Châu (1) Cao Thu Hà (1) Cao Văn Tam (5) Cát Du (5) Cẩm Lệ (3) Cẩm Tú Cầu (1) Chàng Cát (1) CHÀO XUÂN 2014 (1) CHÂN DUNG VĂN NGHỆ SĨ (1) Châu Quang Phước (1) Châu Thạch (9) Châu Thường Vinh (1) Chí Anh (1) Chính Đức (1) CHỦ BIÊN (91) Chu Lai (2) Chu Ngạn Thư (10) Chu Trầm Nguyên Minh (16) Chu Vương Miện (1) Cỏ Dại (7) Công Nguyễn (1) Cuộc thi văn chương (1) CỬA SỔ VĂN HÓA (6) Dạ Ngân (1) Dã Phong Bình (2) Dã Phương (1) Dạ Thảo (2) Dạ Thy (1) Diệp Linh (5) Diệp Uy (1) Dino Buzzati (3) DỌC ĐƯỜNG (29) Du Tử Lê (1) Dung Thị Vân (24) Duy Bằng (1) Duy Phạm (1) Dương Diệu Minh (1) Dương Đăng Huệ (1) Dương Hằng (7) Dương Kim Nhi (4) Dương Kim Thoa (1) Dương Phương Vinh (1) Dương Thành Thái (3) Dương Thị Yến Trinh (2) Dương Xuân Triều (6) Dzạ Lữ Kiều (6) Đàm Lan (17) Đào Hiền (1) Đào Hữu Thức (2) Đào Khương (2) Đào Phạm Thuỳ Trang (53) Đào Quang Bắc (1) Đào Quý Thạnh (1) Đào Thanh Hoà (14) Đào Thị Quý Thanh (1) Đào Thị Thu Hiền (2) Đào Văn Đạt (28) Đào Viết Bửu (7) Đặng Châu Long (1) Đặng Diệu Thoa (1) Đăng Huỳnh (1) Đặng Quốc Khánh (1) Đặng Quý Địch (3) Đặng Tấn Tới (2) Đặng Thị Hoa (2) Đặng Thị Xuân (1) Đăng Trình (1) Đặng Văn Sử (1) Đặng Xuân Xuyến (8) ĐIỂM BÁO (2) Đinh Vương Khanh (2) Đoàn Khương Duy (1) Đoàn Thị Minh Hiệp (4) ĐỌC SÁCH (1) Đỗ Chiến Thắng (6) Đỗ Duy Hoàng (9) Đỗ Hồng Ngọc (5) Đỗ Phu (1) Đỗ Tấn Đạt (2) Đỗ Trúc Hàn (1) Đỗ Xuân Phương (1) Đức Linh (1) Đức Tiên (3) Elena Pucillo Truong (6) Ghi chép (1) Giang Đình (8) Hạ Ly (1) Hà Nguyên (2) Hà Nhữ Uyên (2) Hạ Thi (3) Hà Thị Thu Hằng (1) Hà Tùng Sơn (1) Hải Miên (3) Hải Phong (2) Hải Thăng (1) Hải Thuỵ (6) Hải Yến (2) Hàm Sơn (1) Hàn Dã Thảo (2) Hàn Du Tử (17) Hàn Hữu Yên (1) Hãn Nguyên Nguyễn Nhã (1) Hàn Nguyệt (1) Hàn Phong Vũ (19) Hậu Cốc Ngang (1) Hậu Đậu (1) Hiếu Dũng (1) Hoa Mai (1) Hoa Tím Buồn (4) Hoà Văn (10) Hoài Huyền Thanh (49) Hoàng Anh (6) Hoàng Anh 79 (26) Hoàng Chẩm (37) Hoàng Đình Quang (2) Hoàng Giao (4) Hoàng Hạ Miên (5) Hoàng Hữu (1) Hoàng Khánh Duy (3) Hoàng Kim (1) Hoàng Kim Chi (1) Hoàng Kim Oanh (2) Hoàng Linh (6) Hoàng Long (2) Hoàng Lộc (8) Hoàng Mẫn (1) Hoàng Minh Tường (1) Hoàng Nghĩa Lược (1) Hoàng Ngọc Xuân (4) Hoàng Nguyên (1) Hoàng Phủ Ngọc Tường (1) Hoàng Thảo Chi (1) Hoàng Thị Nhã (8) Hoàng Trang (1) Hoàng Trần (1) Hoàng Trọng Quý (9) Hoàng Trọng thắng (1) Hoàng Tuấn Sơn (1) Hoàng Tuyên (1) Hoàng Vũ Thuật (1) Hoàng Xuân Hiến (1) Hoàng Xuân Niên (1) Hồ Bích Ngọc (3) Hồ Bích Vân (2) Hồ Đắc Thiếu Anh (1) Hồ Hải (2) Hồ Lê Diêm (1) Hồ Nam (1) Hồ Ngọc Diệp (1) Hồ Nhật Quang (1) Hồ Sĩ Duy (1) Hồ Thanh Ngân (10) Hồ Thế Hà (2) Hồ Thế Phất (3) Hồ Tĩnh Tâm (1) Hồ Tịnh Thuỷ (21) Hồ Vũ Khánh Linh (1) Hồ Xuân Thu (3) Hồng Hạnh (3) Hồng Liễu (1) Hồng Phúc (7) Hồng Tâm (10) Huệ Triệu (3) HUMICHI (5) Huy Nguyên (15) Huy Vọng (17) Huỳnh Dạ Thảo (1) Huỳnh Gia (16) Huỳnh Kim Bửu (1) Huỳnh Mẫn Chi (1) Huỳnh Minh Lệ (2) Huỳnh Ngọc Nga (1) Huỳnh Ngọc Phước (26) Huỳnh Như Phương (1) Huỳnh Thanh Lan (1) Huỳnh Văn Diệu (1) Huỳnh Văn Mỹ (1) Huỳnh Văn Yên (1) Huỳnh Xuân Sơn (3) Hương Đêm (1) Hương Đình (4) Hương Văn (6) Hửu Thỉnh (1) James Dylan (7) Jeffrey Thai (9) Jerry Thu Trà (7) Kai Hoàng (1) Kha Tiệm Ly (4) Khả Xuân (1) Khán Võ (2) Khảo Mai (1) Khổng Vĩnh Nguyên (1) KỊCH BẢN (1) Kiên Giang (1) Kiến Giang (12) Kim Chuông (4) Kim Dung (2) Kim Ngoan (15) Kim Quyên (1) Kim Sơn Giang (22) Kim Yến (1) Kỳ Nam (2) Ký sự (14) Lạc Thảo (1) Lại Ngọc Thư (1) Lam Giang (3) Lan Anh (1) Lan Phương (1) Lãng Du (6) Lâm Bích Thuỷ (8) Lâm Cẩm Ái (3) Lâm Hạ (11) Lâm Huy Nhuận (1) Lâm Trúc (29) Lâm Xuân Vi (1) Lê Ân (5) Lê Bá Duy (7) Lê Đình Danh (51) Lê Đức Hoàng Vân (1) Lê Đức Lang (13) Lê Giang Trần (1) Lệ Hằng (3) Lê Hoài Lương (4) Lê Hoàng (2) Lê Hứa Huyền Trân (33) Lê Khánh Luận (1) Lê Minh Chánh (1) Lê Minh Dung (2) Lê Minh Vũ (3) Lê Ngân (3) Lê Ngọc Trác (1) Lê Ngũ Nam Phong (11) Lê Nhựt Triết (7) Lê Phương Châu (30) Lê Quang Trạng (18) Lê Sa Long (2) Lê Thanh Hùng (18) Lê Thanh My (8) Lê Thấu (1) Lê Thị Cẩm Tú (6) Lê Thị Kim (1) Lê Thị Ngọc Lệ (1) Lê Thị Ngọc Nữ (13) Lê Thị Thu Hiền (1) Lê Thị Xuyên (11) Lê Thiếu Nhơn (13) Lê Thống Nhất (6) Lê Tiến Dũng (1) Lê Tiến Mợi (6) Lê Trọng Nghĩa (3) Lê Trung Hiếu (1) Lê Tuân (4) Lê Uyên (1) Lê Văn Hiếu (10) Lê Văn Ngăn (3) Lê Vi Thuỷ (1) Lê Xuân Tiến (1) Linh Lan (7) Linh Lan (Quảng Nam) (8) Linh Phương (3) Linh Thy (2) Lữ Hồng (3) Lư Nhất Vũ (1) Lương Duyên Thắng (3) Lương Đình Khoa (1) Lương Sơn (25) Lưu Ly (6) Lưu Quang Minh (15) Lưu Thành Tựu (1) Lưu Thị Mười (2) Lý Khánh Vinh (15) Lý Thành Long (1) M.T.N.H (7) Mã Nhị Lan (1) Mạc Minh (2) Mạc Tường (1) Mai Đức Trung (6) Mai Kiệm (1) Mai Loan (12) Mai Nhật (2) Mai Thanh (1) Mai Thị Vân (1) Mai Thìn (3) Mai Tuyết (30) Mang Viên Long (52) Marie Hải Miên (4) Mẫu Đơn (1) Mèo Con (1) Miên Đức Thắng (2) Miên Linh (1) Minh Châu (2) Minh Đan (Lọ Lem Đất Võ) (3) Minh Nguyên (14) Minh Nguyệt (4) Minh Vy (25) Mỗi tháng một tác giả và một bài thơ hay (2) Mộng Cầm (8) Mường Mán (1) MỸ THUẬT (6) My Tiên (1) Mỹ Vân (1) Nam Cao (1) Nam Thi (1) Năm Bửu (1) Nấm Độc (1) Ngàn Thương (31) Ngày Đẹp Tươi (1) Ngọc Bút (7) Ngọc Diệp (31) Ngọc Thịnh (1) Ngô Càn Chiểu (1) Ngô Diệp (6) Ngô Đình Hải (6) Ngô Hồng Nhung (1) Ngô Liêm Khoan (1) Ngô Minh Trãi (3) Ngô Nguyên Ngiễm (1) Ngô Thị Hoà (1) Ngô Thuý Nga (30) Ngô Thúy Nga (4) Ngô Thy Học (7) Ngô Văn Cư (30) Ngô Văn Giảng (11) Ngô Văn Khanh (17) Nguyễn (1) Nguyễn An Bình (59) Nguyễn An Đình (4) Nguyễn Ánh 9 (1) Nguyễn Bá Nhân (1) Nguyễn Bích Sao Linh (1) Nguyễn Bình (1) Nguyễn Bính Hồng Cầu (2) Nguyên Cẩn (24) Nguyễn Chinh (4) Nguyễn Công Thụ (2) Nguyễn Công Tùng Chinh (1) Nguyễn Cử Tú Quỳnh (1) Nguyên Diệp (1) Nguyễn Duy Khương (6) Nguyễn Duy Thịnh (1) Nguyễn Đặng Mừng (3) Nguyễn Đăng Thanh (20) Nguyễn Đăng Trình (4) Nguyễn Đình Bảng (1) Nguyễn Đình Trọng (1) Nguyễn Đoan Tuyết (25) Nguyễn Đồng Bội Thảo (1) Nguyễn Đức Chính (5) Nguyễn Đức Cơ (1) Nguyễn Đức Mậu (2) Nguyễn Đức Minh Hùng (10) Nguyễn Đức Phú Thọ (20) Nguyễn Đức Quyền (4) Nguyễn Đức Tấn (4) Nguyễn Gia Long (1) Nguyên Hạ (4) Nguyễn Hải Thảo (2) Nguyễn Hậu (2) Nguyễn Hiếu (8) Nguyễn Hiếu Học (2) Nguyễn Hòa Hiệp (1) Nguyễn Hoàng Thức (2) Nguyễn Hồng Diệu (1) Nguyễn Huệ (3) Nguyên Hùng (1) Nguyễn Huy (1) Nguyễn Huy Khôi (1) Nguyễn Huỳnh (1) Nguyễn Hữu Quý (2) Nguyễn Hữu Thuần (4) Nguyễn Hữu Trung (1) Nguyễn Khiêm (1) Nguyễn Khoa Đăng (37) Nguyễn Kiều Lam (2) Nguyễn Kim Hương (5) Nguyễn Lam (2) Nguyễn Lương Vỵ (4) Nguyên Minh (1) Nguyễn Minh Dũng (43) Nguyễn Minh Hoà (1) Nguyễn Minh Khiêm (1) Nguyễn Minh Phúc (19) Nguyễn Minh Quang (5) Nguyễn Minh Thuận (4) Nguyễn Minh Toàn (1) Nguyễn Mỹ Nữ (3) Nguyễn Nga (14) Nguyễn Nghiêm (1) Nguyễn Ngọc Dũng (3) Nguyễn Ngọc Đặng (1) Nguyễn Ngọc Hà (4) Nguyễn Ngọc Hưng (5) Nguyễn Ngọc Thơ (31) Nguyễn Ngọc Tư (5) Nguyễn Nguy Anh (21) Nguyễn Nguyên Phượng (66) Nguyễn Nhật Hùng (4) Nguyễn Như Tuấn (13) Nguyên Phong (1) Nguyễn Phú Yên (8) Nguyễn Phượng (2) Nguyễn Quang Quân (8) Nguyễn Quang Tâm (2) Nguyễn Quang Tuấn (1) Nguyễn Quân (1) Nguyễn Quốc Ái (1) Nguyễn Quốc Bảo (1) Nguyễn Quốc Đông (1) Nguyễn Quy (2) Nguyên Tâm (1) Nguyễn Tấn Thuyên (1) Nguyễn Thái An (3) Nguyễn Thái Dương (6) Nguyễn Thái Huy (34) Nguyễn Thành Công (48) Nguyễn Thành Giang (22) Nguyễn Thanh Hải (1) Nguyễn Thanh Mừng (1) Nguyễn Thành Nhân (17) Nguyễn Thanh Tuấn (6) Nguyễn Thanh Xuân (2) Nguyễn Thế Kiên (1) Nguyễn Thị Ánh Huỳnh (1) Nguyễn Thị Bích Phượng (1) Nguyễn Thị Cẩm Thuỳ (3) Nguyễn Thị Chi (2) Nguyễn Thị Diệu Hiền (3) Nguyễn Thị Hải (1) Nguyễn Thị Hậu (1) Nguyễn Thị Huệ (1) Nguyễn Thị Kim Huệ (2) Nguyễn Thị Mây (101) Nguyễn Thị Ngọc Hải (1) Nguyễn Thị Ngọc Sen (1) Nguyễn Thị Như Tâm (3) Nguyễn Thị Phụng (19) Nguyễn Thị Thanh Bình (6) Nguyễn Thị Thành Nhân (1) Nguyễn Thị Thu Ba (12) Nguyễn Thị Thu Hiền (1) Nguyễn Thị Thu Hoài (1) Nguyễn Thị Thu Thuý (3) Nguyễn Thị Thùy Linh (3) Nguyễn Thị Tiết (3) Nguyễn Thị Tuyết (1) Nguyễn Thị Việt Hà (39) Nguyễn Thị Xuân Hương (5) Nguyễn Thủy (4) Nguyễn Thúy Ngân (13) Nguyễn Thuý Quỳnh (2) Nguyễn Thường Kham (1) Nguyễn Thượng Trí (2) Nguyễn Tiến Đường (8) Nguyễn Trí Tài (38) Nguyễn Trọng Luân (2) Nguyễn Trung (1) Nguyễn Tuyển (3) Nguyễn Văn Ân (59) Nguyễn Văn Cường (CCK) (4) Nguyễn Văn Hiến (5) Nguyễn Văn Hoà (5) Nguyễn Văn Học (13) Nguyễn Văn Ngọc (1) Nguyễn Văn Thảo (17) Nguyễn Văn Toan (1) Nguyễn Việt Hà (2) Nguyễn Vinh (1) Nguyễn Vĩnh Bình (3) Nguyễn Xuân Cảm (3) Nguyễn Xuân Dương (1) Nguyễn Xuân Khánh (1) Nguyễn Xuân Thuỷ (1) Nguyễn Xuân Tư (3) Nguyệt Linh (5) Nguyệt Quế (1) Ngưng Thu (38) Nhã Ngọc (1) Nhã Thiên (7) Nhân Hậu (2) NHÂN VẬT (1) Nhật Quang (17) Nhất Sinh (1) Nhật Vũ (1) Nhi Hạ (1) NHỚ THUỞ ẤU THƠ (37) NHỮNG ÁNG VĂN HAY VỀ LÀNG QUÊ VIỆT NAM (7) NHỮNG NGƯỜI BẠN ĐÂT THỦ (6) NHỮNG NGƯỜI THỰC HIỆN HQN (5) Nửa Đời hư (1) NỬA THÁNG MỘT TÁC GIẢ VÀ MỘT BÀI THƠ HAY (37) P.N. Thường Đoan (1) Pearl (1) Phạm Ánh (18) Phạm Anh Xuân (3) Phạm Bá Nhơn (2) Phạm Cao Hoàng (1) Phạm Đình Nghi (1) Phạm Hổ (1) Phạm Hữu Hoàng (19) Phạm Lâm (1) Phạm Minh Dũng (14) Phạm Minh Hiền (9) Phạm Minh Thuận (10) Phạm Mỹ (1) Phạm Ngân (3) Phạm Như Vân (1) Phạm Phan Hòa (1) Phạm Quỳnh An (1) Phạm Thái Ba (4) Phạm Thị Hải Dương (9) Phạm Thị Liên (1) Phạm Thị Mỹ Liên (16) Phạm Thị Phương Thảo (3) Phạm Thuý (6) Phạm Trần Ái Linh (4) Phạm Trung Tín (2) Phạm Tuấn Vũ (28) Phạm Tử Văn (21) Phạm Văn Phương (14) Phạm Vũ (1) Phan Anh (5) Phan Cung Việt (1) Phan Đức Nam (1) Phan Hoài Thương (1) Phan Hoàng (1) Phan Huỳnh Điểu (1) Phan Hữu Lý (1) Phan Khanh (2) Phan Mai Thư Nhã (6) Phan Nam (13) Phan Sửu (1) Phan Tấn Lược (6) Phan Thanh Cương (2) Phan Thị Huỳnh Trang (2) Phan Trang Hy (22) Phan Văn Bình (1) Phan Văn Thuần (3) Phan Vĩnh (1) Phiêu Vân (1) Phong Điệp (1) Phỏng vấn (6) Phú Ngọc (1) Phú Quang (3) Phú Xuân (8) Phùng Gia Lộc (1) Phùng Hiếu (1) Phùng Hoàng Chương (1) Phùng Phương Quý (5) Phùng Văn Khai (1) Phương Phương (10) Phương Uy (5) Quảng Ngọc (1) Quảng Ngôn Lê Ngữ (1) Quang Thám (1) Quang Tuấn Dũng (9) Quốc Hùng (2) Quốc Tuyên (1) Quỳnh Lệ (1) Quỳnh Nga (2) Quỳnh Trâm (1) Raymond Thư (1) Rêu (Cao Hoàng Từ Đoan) (13) SÁCH BẠN VĂN (71) Song Ninh (5) Sông Hương (11) Sông Lam (1) Sông Song (7) Sơn Tịnh (2) Sơn Trần (12) T.T.Hiếu Thảo (22) Tạ Nghi Lễ (1) Tạ Thị Hoa (14) TẢN VĂN (153) TẠP BÚT (479) Tạp chí Văn Mới (1) TẠP CHÍ VN BÌNH DƯƠNG (11) Tâm Nhiên (2) Tần Khánh (4) TẬP SAN ÁO TRẮNG (29) Tập san Văn học nghệ thuật Hương Quê Nhà (1) Tây Sơn bi hùng truyện (2) Thạch Anh (2) Thạch Cầu (1) Thạch Đà (7) Thạch Lam (1) Thái An Khánh (2) Thái Hoà (1) Thanh Bình Nguyên (27) Thanh Hải (1) Thanh Minh (4) Thanh Sơn (1) Thanh Thảo (2) Thanh Trắc Nguyễn Văn (25) Thanh Tùng (7) Thành Văn (3) Thanh Xuân (1) Thảo Nguyễn (1) Thâm Tâm (1) Thiên Ân (1) Thiên Sơn (1) Thiên Thần Áo Trắng (7) Thiên Tôn (10) Thiệp chúc mừng năm mới (1) Thiệp chúc Tết (1) Thiệp mừng (3) Thơ (2593) Thơ Lê Nhựt Triết (1) THƠ MỜI HOẠ (7) THƠ PHỔ NHẠC (74) Thời sự Văn nghệ (6) Thu Dung (3) Thu Hoài (1) Thuận Thảo (8) Thuận Yến (1) Thục Minh (7) Thuỳ Anh (6) Thuỵ Du (1) Thụy Du (3) Thuỳ Dương (1) Thủy Điền (1) Thuỳ Nhân (1) Thư cảm ơn (1) Thư ngỏ (1) THƯ NGỎ CỦA HQN (2) Thư tin (263) THƯ VIỆN TÁC GIẢ (1) Tiểu luận (2) Tiểu Mục Đồng (1) Tiểu thuyết (70) Tiêu Tương (1) TIN VĂN (2) Tịnh Minh Tiến (2) Tô Hồng Phương (1) Tô Kiều Ngân (1) Tô Minh Yến (19) Tôn Nữ Hỷ Khương (2) Tôn Thất Út (2) Tống Xuân Tám (1) Trà Bình (3) TRABATHA (1) Trang Linh (1) Trang Lộc (1) TRANG THƠ CHỦ NHẬT (278) Trang Thơ Đón Xuân Đinh Dậu 2017 (1) Tranh ảnh (3) Trầm Mặc (4) Trần Anh Dũng (1) Trần Bảo Định (4) Trần Băng Khuê (1) Trần Dần (1) Trần Duy Đức (17) Trần Dzạ Lữ (4) Trần Định (1) Trần Đình Sử (2) Trần Đoàn Luận (1) Trần Đức ÁI (2) Trần Hà Nam (4) Trần Hoàng Vy (1) Trần Hồng Vân (3) Trần Huiền Ân (2) Trần Huy Minh Phương (2) Trần Hữu Du (1) Trần Hữu Hội (17) Trần Kim Đức (5) Trần Kim Loan (2) Trần Kim Quy (1) Trần Lê Sơn Ý (2) Trần Linh Chi (1) Trần Long Thạch (1) Trần Lưu (1) Trần Mai Hường (11) Trần Mạnh Hảo (1) Trần Minh Nguyệt (13) Trần Năm (1) Trần Ngọc Mỹ (11) Trần Nguyên Hạnh (6) Trần Nhã My (2) Trần Nhương (1) Trần Phù Nam (1) Trần Quang Dũng (4) Trần Quang Khanh (9) Trần Quang Lộc (1) Trần Quang Ngân (8) Trần Quốc Tiến (8) Trần Tâm (6) Trần Thái Hưng (5) Trần Thanh Hải (3) Trần Thành Nghĩa (1) Trần Thế Nhân (9) Trần Thị Bích Thu (1) Trần Thi Ca (9) Trần Thị Cổ Tích (2) Trần Thị Huyền Trang (2) Trần Thị Thanh (5) Trần Thị Thương Thương (4) Trần Thị Trúc Hạ (1) Trần Thiện Tuấn (1) Trần Thoại Nguyên (1) Trần Thuận (7) Trần Thuỳ Trang (1) Trần Thư (1) Trần Thương Nhiều (1) Trần Trọng Hưng (2) Trần Trọng Tân (1) Trần Trọng Vũ (2) Trần Tuấn Anh (2) Trần Tuấn Thanh (10) Trần Vạn Giã (2) Trần Văn Bạn (16) Trần Văn Nhân (5) Trần Văn Thiên (1) Trần Viết Dũng (11) Trần Võ Thành Văn (23) Triết học (2) Triều Âm (2) Triều Châu (1) Triều La Vỹ (1) Triệu Lam Châu (1) Triệu Từ Truyền (20) Trịnh Bửu Hoài (94) Trịnh Duy Sơn (2) Trịnh Hoài Linh (5) Trịnh Huy (4) Trịnh Thuỳ Mỹ (1) Trịnh Tuyên (1) Trịnh Viết Hiền (1) Trịnh Viết Hiệp (1) Trịnh Yến (2) Trúc Giang (4) Trúc Lập (1) Trúc Linh Lan (2) Trúc Thanh Tâm (9) Trúc Thuyên (3) Trung Trung Đỉnh (1) TRUYỆN DỊCH (1) Truyện ký (1) TRUYỆN NGẮN (933) Trương Công Tưởng (16) Trương Diễm Phiến (1) Trương Đình Phượng (8) Trương Đình Tuấn (3) Trương Hồng Phúc (11) Trương Huỳnh Như Trân (2) Trương Nam Chi (5) Trương Thanh Cường (2) Trường Thắng (62) Trương Thị Thanh Tâm (15) Trường Thịnh (6) Trương Tri (2) Trương Văn Dân (21) Trương Viết Hùng (1) TTM (1) Tuấn Nguyễn (1) Tuấn Quỳnh (3) Tuti (2) Tuỳ bút (2) TÙY BÚT (111) Tường Vi (1) TX (1) Út Lãng Tử (1) Uyên Minh (1) Uyển Phan (1) Vành Khuyên (1) Văn (1933) Văn Công Mỹ (2) Văn Lưu (1) Văn Nhược Ba (1) Văn Thành Lê (1) Văn Thắng (22) Văn Trọng Hùng (1) Vân Đồn (3) Vân Giang (12) Vân Khanh (2) Vân Phi (29) Vân Tùng (2) Vi Ánh Ngọc (2) Vi Quốc Hiệp (1) VIDEO CLIP (2) Viễn Trình (25) Việt Quỳnh (1) Việt Trang (1) Việt Trương (1) Vĩnh Sơn (7) Vĩnh Thông (33) Vĩnh Tuy (7) Võ Bá Cường (1) Võ Chân Cửu (17) Võ Công Liêm (1) Võ Diệu Thanh (16) Võ Dõng (1) Võ Đông Điền (4) Võ Hà (1) Võ Hạnh (2) Võ Mỹ Cát (1) Võ Ngọc Thọ (4) Võ Như Văn (3) Võ Thị Nga (10) Võ Thị Thu Thủy (1) Võ Thuỵ Như Phương (15) Võ Xuân Phương (3) Vũ Bình Lục (1) Vũ Đình Huy (7) Vũ Đình Liên (1) Vũ Đình Minh (1) Vũ Đình Nguyệt (2) Vũ Đình Thung (2) Vũ Đức Trọng (1) Vũ Hạ (1) Vũ Hạnh (2) Vũ Miên Thảo (5) Vũ Thành An (1) Vũ Thị Huyền Trang (88) Vũ Thụy Khuê (3) Vũ Trọng Quang (1) Vũ Trọng Tâm (2) Vũ Trọng Thanh (1) Vương Hạnh (1) Vương Hoài Uyên (3) Vương Tâm (2) Xanh Nguyên (4) Xuân Đài (1) Xuân Phong (6) Xuân Phương (1) Xuân Tiến (20) Ý Thu (3) Yên Kha (7) Ziken (2)
-------------------------------------------------------------------------
+ 730 TÁC GIẢ CÓ BÀI ĐĂNG TRÊN HƯƠNG QUÊ NHÀ
-------------------------------------------------------------------------