NGUYỄN HUỆ VÀ SỰ ĐỊNH VỊ NHÂN CÁCH THỜI ĐẠI - Bài của Trần Thị Huyền Trang



                                    
Trong sự nghiệp vĩ đại của đời mình, công đức lớn nhất của Quang Trung là xoá bỏ ranh giới chia cắt đất nước, đánh giặc ngoại xâm, giữ vững nền độc lập dân tộc. Song bên cạnh những võ công bách chiến bách thắng, ông đã bền lòng thực hiện chiến thuật tâm công vẻ vang không kém nhằm cứu vớt nhân cách của thời đại mình khỏi sự suy đồi, trả lại cho nó những giá trị đích thực, để rồi đến lượt mình, các nhân cách đó góp phần cùng ông làm vinh danh cho quốc gia, triều đại.

Ngọn cờ Tây Sơn dựng lên trong một thời buổi loạn lạc. Ở Đàng Trong, Trương Phúc Loan chuyên quyền, quan lại tham ô, cường hào ác bá nổi lên như rươi, nhân dân lầm than khổ cực. Phần lớn trai tráng không có ruộng cày, học văn học võ không có chỗ đắc dụng. Cướp bóc trở thành một “nghề” kiếm sống phổ biến. Khi vâng mệnh anh là đệ nhất trại chủ Nguyễn Nhạc đi chiêu tập anh tài, Nguyễn Huệ lọc ra giữa bụi lầm thời cuộc những anh hùng lỡ vận. Theo Tây Sơn lương tướng ngoại truyện của Nguyễn Trọng Trì, thì trước khi gặp Nguyễn Huệ, Nguyễn Văn Tuyết nguyên là một tay anh chị ở chợ Gò Chàm, từng nổi danh với vụ nửa đêm lẻn vào dinh tuần phủ Nguyễn Khắc Tuyên trộm con ngựa quý của chúa Nguyễn rồi tự tay đề lên vách “kẻ trộm ngựa chúa là Nguyễn Văn Tuyết ở Tuy Viễn”. Võ Văn Dũng là một tướng cướp, hành nghề “lạc thảo” ở vùng rừng núi Phú Phong. Ngô Văn Sở, Phan Văn Lân mang thân phiêu linh trôi dạt. Giữa cơn sóng gió thời cuộc, họ không là kẻ cướp thì là dân phiêu tán giang hồ, không là kẻ trốn chạy sự truy đuổi của triều đình thì là kẻ bị áp bức cùng đường. Chính Nguyễn Huệ đã dang tay đón họ, đưa họ về với phong trào Tây Sơn, tập hợp những người tứ cố vô thân dưới mái nhà tụ nghĩa, biến họ từ kẻ cướp thành lương tướng. Nguyễn Văn Tuyết sau là đại đô đốc Tuyết, từng theo Nguyễn Huệ đánh Nguyễn, diệt Trịnh, bình Thanh, được giao cùng Ngô Văn Sở lo việc Bắc Hà. Võ Văn Dũng sau theo Nguyễn Huệ lập nhiều công lớn, được phong đại đô đốc Chiêu viễn hầu, thời Cảnh Thịnh thăng đến chức đại tư đồ, là người chủ trương cuộc thanh trừ loạn thần Bùi Đắc Tuyên. Trần Quang Diệu, Bùi Thị Xuân, Đặng Đình Minh, Đặng Văn Long, Ngô Văn Sở,  Phan Văn Lân, Võ Đình Tú, Nguyễn Văn Lộc…

Hàng ngàn hàng vạn người, nếu không nói là cả một thế hệ, ví như không có cuộc khởi nghĩa Tây Sơn và Nguyễn Huệ – họ sẽ mãi mãi chỉ là thành phần bị bóc lột cùng đinh, nói chi đến chuyện trở thành nghĩa quân, danh tướng, được biết niềm hạnh phúc xả thân vì đại nghĩa, được sống một cuộc sống hào hùng, được sử sách lưu danh muôn thuở.

Thử thách lớn nhất mà Quang Trung – Nguyễn Huệ gặp phải là công cuộc chinh phục kẻ sĩ, vốn là tầng lớp được coi là tinh tuý nhất của xã hội phong kiến. Phong trào khởi nghĩa Tây Sơn là cuộc nổi dậy của tầng lớp nông dân bị áp bức, và những người lãnh đạo nó là những người áo vải. Đó là một ưu điểm lớn xét về bản chất lịch sử, song trong thời điểm bấy giờ, nó lại là một nhược điểm khiến cho phong trào khó tiếp cận tầng lớp trí thức vốn mang nặng tư tưởng tôn phò chính thống. Các lãnh tụ Tây Sơn, đặc biệt là Nguyễn Huệ ý thức rất rõ điều này, cho nên không chỉ trong bước khởi nghiệp mà mãi đến khi đã hình thành nhà nước Tây Sơn, Nguyễn Huệ rất lo lắng vì sự thiếu vắng đội ngũ trí thức trong lực lượng cách mạng của mình. Trong thư gửi La Sơn phu tử Nguyễn Thiếp, ông không giấu giếm nỗi lo ngại: “Những kẻ giúp việc trong nhất thời đều là những kẻ mạnh bạo… Đạo trị dân đại để có nhiều điều làm cứng cỏi phiền nhiễu.”

Thời bấy giờ những trí thức có chút danh giá ở Đàng Trong trốn theo chúa Nguyễn, còn  giới sĩ phu Đàng Ngoài đã quen nhìn Đàng Trong là láng giềng hoặc “phía bên kia”. Khi Nguyễn Huệ kéo quân ra nêu cao chính nghĩa diệt Trịnh phò Lê, họ đã nhìn đội quân Tây Sơn như một lũ giặc mọi rợ, gọi xách mé là “man tặc”, là lũ “giặc lông đỏ”. Trong một bài thơ của mình, Phan Huy Ích gọi quân Tây Sơn là “tặc phong lai”- lũ giặc đến theo hơi gió. Các dòng trí thức lớn đều chiêu mộ hào kiệt “dò hư thực thế nào để tìm cách bắt lấy Huệ”. Bùi Dương Lịch ở Nghệ An thấy Nguyễn Thiếp không chịu ra hợp tác với Nguyễn Huệ đã làm thơ ca ngợi. Không phải Nguyễn Huệ không biết điều đó. Theo Hoàng lê nhất thống chí, Nguyễn Huệ hơn một lần khiêm xưng mình là kẻ ở hang núi xa xôi, nhưng trước hàng trăm cặp mắt của những kẻ tự nhận là bậc thức giả quan sát ông, kẻ ở hang núi luôn “coi xét lễ nghi hết sức chu đáo” trong mọi ứng xử với triều đình nhà Lê. Hai lần ra Bắc, Nguyễn Huệ có thừa cơ hội  và sức mạnh để nắm lấy quyền thống trị đất nước. Song cả hai lần Nguyễn Huệ đều hành động rất cao thượng, không hề nhân chỗ yếu của người mà làm lợi riêng cho mình, chấp nhận quyền giám quốc của Sùng Nhượng công, kêu gọi cựu thần nhà Lê ra làm việc lại. Ông chủ trương dung nạp rộng rãi những người muốn ra hợp tác, và ông luôn lấy mắt xanh để nhìn kẻ sĩ.

Kể ra bấy giờ dưới trướng ông đã có những kẻ sĩ tài giỏi như Trần Văn Kỷ, Ngô Thế Lân,… nhưng với quan niệm “Dựng nước lấy đạo học làm đầu; cai trị lấy nhân tài làm gốc”, ông biết sau những chiến công, nền văn trị mà ông tiến hành rất cần các tài năng lớn. Khi Ngô Thì Nhậm đến ra mắt, Nguyễn Huệ đã nhận ra chân tài từ cái nhìn đầu tiên, ông bảo “Đây là trời để dành người tài cho ta dùng” rồi ban ngay chức tước xứng đáng, phong Ngô Thì Nhậm làm Tả thị lang bộ Lại, tước Tình phái hầu, lại cho đứng đầu tất thảy quan lại cựu triều. Không riêng Ngô Thì Nhậm, mà với Phan Huy Ích, Nguyễn Bá Lan, Vũ Huy Tấn…, Nguyễn Huệ đều đón nhận và không câu nệ mới cũ.  Đối với Nguyễn Thiếp, Nguyễn Huệ dành một sự biệt đãi khác thường, ba lần gửi thư mời kèm theo lễ trọng, lời thư trước sau một mực thiết tha tôn kính. Nguyễn Thiếp nặng lòng với nhà Lê, ba lần từ chối. Mãi đến khi Lê Chiêu Thống rước quân Thanh về nước, Nguyễn Huệ lên ngôi lấy hiệu Quang Trung rồi xuất binh ra Bắc đánh quân xâm lược, Nguyễn Thiếp mới chịu thừa nhận chính nghĩa Tây Sơn. Khi Nguyễn Huệ dừng ở Nghệ An lấy quân, Nguyễn Thiếp ra gặp Nguyễn Huệ và nói: “Bây giờ trong nước trống không, lòng người tan rã. Quân Thanh ở xa tới đây không biết tình hình quân ta yếu hay mạnh, không hiểu rõ nên đánh nên giữ ra sao. Chúa công ra đi chuyến này, không quá mười ngày, giặc Thanh sẽ bị dẹp tan”. Thật ra, với quyết tâm và phương lược đã định để đánh giặc Thanh, dù Nguyễn Thiếp có nói ngược  Quang Trung vẫn không đổi chí, song lời bàn ấy khiến ông vô cùng vui mừng coi đây là dấu hiệu tốt đẹp đầu tiên trong quan hệ giữa ông với La Sơn phu tử. Khi chiến thắng trở về, ông đã ghé Nghệ An thăm Nguyễn Thiếp và cảm tạ: “Người xưa có nói: một lời nói mà dấy nổi cơ đồ. Lời tiên sinh quả có thế thật.” Quang Trung lại kiên trì thuyết phục nhiều lần nữa, và cuối cùng, dường như sự dịu dàng bền bỉ của nước đã thấm đượm vào từng thớ đá, Nguyễn Thiếp bằng lòng hợp tác, đầu tiên là giúp vua chấm thi, coi đất, rồi nhận lời ra làm viện trưởng viện Sùng Chính. Cần nói thêm rằng Quang Trung lập viện Sùng Chính ở Nghệ An, là ông đã hiểu đối tượng ở những chỗ vi tế nhất. Với một chức vụ thiên về giáo dục hơn là chính trị, mà La Sơn phu tử đã từng dạy học, người ta sẽ không thấy bỡ ngỡ khi ông ra dịch sách hay đào tạo nhân tài,  do vậy Nguyễn Thiếp có thể yên tâm làm việc mà không sợ suy giảm thanh danh. Nếu không có tấm lòng rộng rãi, hết mực yêu sĩ chuộng hiền, chắc chắn Quang Trung không thể đưa nhà ẩn sĩ đất La Sơn trở lại  với đời, để “hưng khởi chính học”, “khiến cho nhân tài có thể thành tựu”, “phong tục trở lại tốt đẹp” như ông từng mong muốn.

Hoàng Phủ Ngọc Tường đã rất có lý khi nhận định: “Như thể rằng Nguyễn Huệ đã quên đi sức mạnh sấm sét của mình để sống với người tài bằng một quả tim lớn (…) Nguyễn Huệ đã buộc những người trí thức hoài nghi phải tin theo ông, bằng cách cho họ thấy rằng ông trao cả niềm tin cho họ, không chật hẹp, không dè chừng, không phân biệt”.

Khác với Trịnh Sâm dùng người cốt để thỏa mãn quyền giá ngự của mình (1), Quang Trung – Nguyễn Huệ đối với kẻ sĩ bằng sự chân thành. “Tùy tài mà bổ dụng” đó là chủ trương hết sức sáng suốt của Nguyễn Huệ. Ông tỏ ra nắm chắc khả năng thuộc cấp và tìm ra chỗ bố trí hợp lý nhất để mỗi người có thể phát huy hết khả năng của mình. Đúng như lời ông tuyên bố về Ngô Thì Nhậm: “Đây là người do ta gây dựng lại!”, ông đã tái tạo lại cả một tầng lớp nho sĩ, tạo cho họ cơ hội giúp đời.  

“Sao tất phải chầu về Bắc thần. Người hiền tất phải do thiên tử sử dụng” (2) Ngô Thì Nhậm đã viết như thế để mở đầu bài Chiếu cầu hiền. Trong thâm tâm, Ngô Thì Nhậm đã coi vua Quang Trung là một vị vua xứng mặt thiên tử, hơn nữa, thiên tử của người hiền và ông dốc lòng báo đáp: “Đại để vua tôi chủ ở nghĩa, cha con chủ ở ơn, cái luân lý lớn của đạo làm người chỉ  là một. Nhưng vua biết tôi, cha biết con, đối với sự cảm kích cái ơn cái nghĩa lại phải thế nào?”(3)

Có thể nói rằng Quang Trung - Nguyễn Huệ là một lãnh tụ nổi tiếng về có sức cảm hóa và chinh phục được nhiều bậc kỳ tài trong thiên hạ. Khi ông băng hà, không có người đủ tầm vóc kế tục nên những bầy tôi lương đống đã trở thành kẻ bơ vơ.  Danh thần Phan Huy Ích đã thốt lên tiếng nấc tận đáy lòng: “Tao tế cơ duyên nan tái đắc/ Tòng kim ký lữ nhạn thần cô” (Duyên may gặp gỡ khó có được lần nữa – từ nay ở quê người thần như chiếc nhạn cô đơn).

Sau khi Quang Trung mất, Ngô Thì Nhậm ngẫm lại và thấy rằng đó là một ông vua hiếm có. Đêm đêm lòng quặn đau, ông đã khóc Quang Trung với tấm lòng tri kỷ, ly rượu trên tay ngậm giọt nước mắt của bậc cô thần rơi xuống: “Lệ lạc hàm bôi dạ dạ tâm”(4)

Mãi đến năm 1797 tức là 5 năm sau khi vua Quang Trung từ trần, Ngô Thì Nhậm còn mơ thấy nhà vua về gọi mình bàn việc nước. Ông kính cẩn chép: “Mùa xuân năm Đinh Tỵ, tôi bị ốm nằm mộng thấy Tiên đế ngự ra Bắc thành, tôi hầu thảo chiếu thư. Câu cuối cùng ngự bút chữa là “Trẫm lạc nhân hoàn lưu chính trị”(trẫm xuống cõi đời lưu chính trị), rồi ngoảnh lại bảo tôi: Trẫm thêm bảy chữ, ngươi thấy thế nào? Tôi khấu đầu khen hay” (5)  Chết cũng như sống, tình vua tôi vẫn nồng nàn tương đắc. Lòng thương nhớ của Ngô Thì Nhậm đối với Quang Trung thật là mãnh liệt. Song câu chuyện này không chỉ để gửi lòng thương nhớ, cái chính là Ngô Thì Nhậm qua đó ngầm khuyên Cảnh Thịnh đừng để xói mòn nền chính trị mà vua cha đã xây dựng trên cơ sở “chí nhân đại nghĩa” “hậu trạch thâm ân”. Ngô Thì Nhậm vô hạn cô đơn khi vị vua chân chính hiểu ông và trọng dụng ông đã mất. Trước Cảnh Thịnh, ông cảm thấy mình là thuyền côi giữa sóng (cô chu), là núi bên trời quạnh quẽ (cô sơn), là thông đứng một mình (cô tùng). Ông quyết định rút khỏi quan trường, đi vào nghiên cứu những huyền bí của cõi thiền.

Nguyễn Thiếp khi hay tin Quang Trung từ trần, đã viết những lời rút ruột trong một tờ biểu gửi về triều, như để nhận lỗi trước vong linh người quá cố: “Trông về quyết đình ở phương Nam thêm thảm thiết khôn xiết… Tấm lòng gắn bó chưa lấy gì bày tỏ được”. Những dòng tiếp theo như sự sịch mở của một cánh cửa trầm tịch, mà đằng sau nó là cả một cõi riêng chưa từng hé lộ: “Nay sự ninh lăng đã xong, xin cẩn thận cho tử đệ vào thay, dâng biểu này để bộc bạch tấm lòng thành thật, giải tỏ một phần tấc riêng ngưỡng mộ và đau xót”.

Đây là lần đầu Nguyễn Thiếp nói về Quang Trung với tư cách cá nhân. Suốt bao nhiêu năm khuôn mình theo Khổng giáo, Nguyễn Thiếp đã tự đặt mình trong cái ràng buộc của những quan niệm mang tính chuẩn mực, với ý thức mình là kẻ phát ngôn cho đạo lý, cái đạo lý mà ông không biết rằng đã quá lỗi thời và trở thành trở lực của sự phát triển. “Chút mang danh giá báu trên đời”, ông luôn nhân danh sĩ phu Bắc hà khi giao thiệp với Quang Trung, vì vậy ông đã che giấu tình cảm riêng tư, để tiếng nói của mình hợp đạo. Thế rồi Quang Trung mất, ông bàng hoàng nhận ra con người ấy không chỉ từng tồn tại trước ông, mà đã thâm nhập vào tâm hồn ông một cách sâu sắc đến chính ông cũng không ngờ được. Từ lâu, con người ấy luôn cố tìm nơi ông tiếng nói tri âm, nhưng ông quá câu nệ và để lỡ rất nhiều điều. Nỗi ân hận đã buộc ông phải bộc bạch, phải giải tỏ để bớt ray rứt lương tâm.

Khi nhà Tây Sơn mất, những văn thần võ tướng mà Quang Trung từng hiểu và dành cho họ sự trân trọng, không một ai phản bội lại ông. Nguyễn Thiếp quay về cuộc sống ẩn sĩ. Trần Văn Kỷ trốn về quê, Nguyễn Ánh cho quân bắt đến gặp và mời hợp tác, ông xin về thu xếp việc nhà, rồi ngồi thuyền xuôi sông Hương, đến ngã ba Sình gieo mình tự vẫn. Ngô Thì Nhậm và Phan Huy Ích cùng nhiều đại thần Tây Sơn bị Gia Long - Nguyễn Ánh hạ ngục rồi đem ra đánh đòn tại Văn miếu; Ngô Thì Nhậm bị đánh đến chết. Đô đốc Tuyết và vợ hy sinh trong trận chống quân Nguyễn tại thành Xương Giang năm 1801. Đặng Văn Long, Nguyễn Văn Lộc, Phan Văn Lân làm thân hạc nội mây ngàn. Võ Văn Dũng quay về Tây Sơn thượng đạo đau đáu một niềm báo phục không thành, ôm hận lên núi Xanh biệt tích. Trần Quang Diệu, Bùi Thị Xuân và rất nhiều tướng sĩ Tây Sơn bị Nguyễn Ánh xử cực hình, đã không đổi sắc mặt khi nhận cái chết giữa pháp trường. Nữ tướng Bùi Thị Xuân trước giờ chết đến vẫn hiên ngang đối đáp cùng Nguyễn Ánh. Nguyễn Ánh hỏi: "Ta và Nguyễn Huệ, ai hơn?” . Bà đáp: “Tiên đế ta bách chiến bách thắng, hai bàn tay trắng dựng nên cơ đồ, còn nhà ngươi trốn chui trốn nhủi phải cầu viện ngoại bang. Tiên đế ta lấy nhân nghĩa mà đối xử với kẻ thất thế như đã đối xử với Nguyễn Huỳnh Đức, tôi của nhà ngươi; còn nhà ngươi dụng tâm của kẻ tiểu nhân mà đối với những bậc nghĩa liệt hết lòng vì chúa, chẳng nghĩ rằng ai vì chúa nấy. Ngươi sánh với Tiên đế ta sao được?”.

Tinh ba tú khí của non sông và mấy nghìn năm văn hiến Việt đã sản sinh ra những con người vĩ đại mà Quang Trung – Nguyễn Huệ là một. Ông là người đã khơi dậy cái nghĩa thâm viễn của những tâm hồn tri âm hạnh ngộ để nó song hành cùng nghĩa vua tôi. Từng văn thần võ tướng dưới triều đại Quang Trung đã có diễm phúc cảm nhận bên cạnh nhịp đập của trái tim họ là nhịp đập trái tim của một lãnh tụ sáng suốt, bao dung và kiệt xuất. Ông là một lãnh tụ chân chính, một người vun trồng nhân cách thời đại bằng trái tim không ngừng thao thức, bằng trí tuệ đổ mồ hôi và bằng sự xác lập nhân cách của bản thân mình. Trong bàn tay ông, không một giá trị nào bị lãng phí. Đó là lý do vì sao ngay cả sau khi ông không còn nữa, hình bóng ông vẫn sống trong trái tim những người cộng sự, để rồi, cùng với sự toả sáng nhân cách và khí phách của họ giữa hoàn cảnh ngặt nghèo nhất, giữa sự lựa chọn khắc nghiệt nhất, họ đã làm ông trở thành bất tử trong trái tim dân tộc.

T.T.H.T

Nguồn: http://www.vanchuongviet.org/

(1) Việt sử thông giám cương mục chép: “Sâm tự cậy tài cán, cho rằng trong thiên hạ không việc gì là không thể làm được, trăm quan không người nào là không thể giá ngự được”.
(2) Chiếu cầu hiền của vua Quang Trung, do Ngô Thì Nhậm thảo, Văn học Tây Sơn, trang 96.
(3) Lời dẫn của Ngô Thì Nhậm trước bài thơ Sóc vọng thị tấu nhạc Thái tổ miếu cung ký.
(4) Thơ Ngô Thì Nhậm.
(5) Lời dẫn của Ngô Thì Nhậm trước bài thơ Khâm vãn Đan Dương lăng.

Read more…

TÂY SƠN BI HÙNG TRUYỆN, CUỐN TIỂU THUYẾT HẤP DẪN VÀ BỔ ÍCH (*) - Bài của Hoàng Minh Tường





Phàm là một người người ham mê lịch sử và văn chương, cầm cuốn sách này khó có thể dứt ra được. Rất giống cảm giác thuở học trò đọc Tam quốc diễn nghĩa hay Thủy hử, bạn sẽ bị cuốn sách lôi cuốn ngay cả khi đang ăn hay trước lúc đi ngủ. Sẽ rất nhiều người mải theo cách dẫn dắt của tác giả mà quên khuấy cả giấc ngủ trưa, thậm chí cho qua cả một đêm trắng.
Tây Sơn bi hùng truyện của Lê Đình Danh mô phỏng cách viết chương hồi của La Quán Trung, Thi Nại Am và những tiểu thuyết gia Trung Quốc xưa, một cách kể chuyện như lùa người đọc vào hết mê hồn trận này đến những bí sử kia, mang đến cho người đọc cái không gian, thời gian, những sự kiện lịch sử, những chân dung tiêu biểu… làm nên gương mặt xã hội Việt Nam đầy biến động và bi thương, hiển hách và bi tráng suốt nửa cuối thế kỷ XVIII, đầu thế kỷ XIX.


     Khác với tiểu thuyết  Sông Côn mùa lũ, tác phẩm của nhà văn Việt Kiều Nguyễn Mộng Giác, tái hiện khá thành công người anh hùng áo vải Tây Sơn và cuộc khởi nghĩa nông dân vĩ đại vào bậc nhất trong lịch sử dân tộc, từng in ở Mỹ và mới in lại ở Việt Nam, Lê Đình Danh viết về cuộc khởi nghĩa Tây Sơn và người anh hùng kiệt xuất Nguyễn Huệ với một bối cảnh rộng lớn hơn, đặt các nhân vật của Tây Sơn trong mối quan hệ trực diện, đối nghịch, một mất một còn với chúa Nguyễn Đàng Trong, chúa Trịnh Đàng Ngoài và Vương quốc Đại Thanh thời vua Càn Long hùng mạnh.

 Không phải ngẫu nhiên mà thoạt đầu tác giả đặt cho bộ tiểu thuyết hai tập hơn nghìn trang in với 5 phần 70 chương của mình cái tựa đề  Nhị Nguyễn tranh hùng mà hai nhân vật trung tâm xuyên suốt tác phẩm là Nguyễn Huệ và Nguyễn Phúc Ánh. Có thể nói đó là hai nhân vật lịch sử, có vai trò cực kỳ quan trọng quyết định sự thành bại của hai dòng Nguyễn Tây Sơn và dòng Nguyễn thế gia vọng tộc Đàng Trong, quyết định khuynh hướng và bước ngoặt phát triển của dân tộc Việt từ đầu thế kỷ XIX. Đặt nhân vật Nguyễn Huệ vào trong bối cảnh chế độ phong kiến do các chúa Nguyễn ở Đàng Trong đã kiến lập hơn hai trăm năm, kể từ khi người anh hùng kiệt xuất Nguyễn Hoàng nhận ra dã tâm của Trịnh Kiểm, đã mang thân quyến và bộ hạ vào lánh nạn ở Thuận Quảng năm 1558, cho đến khi lộng thần Trương Phúc Loan lợi dụng sự mọt ruỗng của triều Nguyễn Đàng Trong định tiếm quyền, gây cho muôn dân lầm than cơ cực… mới thấy tài năng và sự xuất chúng tột bậc của người anh hùng áo vải trẻ tuổi. Cuộc khởi nghĩa Tây Sơn (1773) do Nguyễn Nhạc khởi xướng, nếu không có Nguyễn Huệ, chắc chắn sẽ bị tiêu diệt từ trong trứng. Bởi khi ấy, mặc dù trong Nam, rường cột Chúa Nguyễn đã mục nát, nhưng lòng dân vẫn chưa hết ngưỡng vọng về một vương triều với 11 đời chúa kể từ Chúa Tiên Nguyễn Hoàng hơn hai trăm năm đã khai mở và củng cố đất Đại Việt suốt từ hận giới sông Gianh cho đến Sài Côn (Sài Gòn – Gia Định), Hà Tiên, Phú Quốc…, còn ở ngoài Bắc, mặc dù các chúa Trịnh tiếm quyền nhà Lê, dân tình cơ cực, nhưng hầu hết các sĩ phu Bắc Hà vốn ngu tín, ngu trung và muôn dân vẫn hướng về nhà Lê mà ánh hào quang Lê Lợi - Nguyễn Trãi suốt từ cuộc kháng chiến chống giặc Minh đầu thế kỷ XV vẫn còn tỏa sáng. Thu phục lòng dân đã khó, nhưng chiến thắng được hai thế lực phong kiến Nguyễn - Trịnh còn ngàn lần khó hơn. Vậy mà “Bốn lần vào Nam truy chúa Nguyễn; Ba lần ra Bắc diệt vương tông” với những trận đánh thần kỳ; rồi trận Rạch Gầm lừng danh phá năm vạn quân Xiêm, trận thắng Pháp đầu tiên trong lịch sử - đốt tàu chiến Pháp do Bá Đa Lộc trợ giúp cho Nguyễn Phúc Ánh, và kỳ diệu nhất là trận đại phá 20 vạn quân Thanh, đánh bại ý đồ xâm lược của ngoại bang phương Bắc… thì quả là một thiên tài quân sự tầm cỡ thế giới. Với tài năng và đức độ của Nguyễn Huệ, ông đã tập hợp quanh mình hàng loạt nhân vật kiệt hiệt nhất thời ấy, về văn có Trương Văn Hiến, Ngô Thì Nhậm, Trần Văn Kỷ, Nguyễn Thung, La Sơn Phu Tử Nguyễn Thiếp…, về võ hàng loạt các đại tướng kiệt hiệt mà tên tuổi mãi lưu truyền sử sách như vợ chồng Trần Quang Diệu – Bùi Thị Xuân, Đặng Văn Long, Đặng Xuân Phong, Đặng Xuân Bảo, Nguyễn Văn Tuyết, Phan Văn Lân, Ngô Văn Sở, Võ Văn Nhậm, Vũ Văn Dũng, Võ Đình Tú… (Nhân đây xin lưu ý các nhà lịch sử và các cấp chính quyền thành phố Hà Nội nên đổi lại tên phố Đặng Tiến Đông (ở bên gò Đống Đa) thành phố Đặng Văn Long, vì trong chính sử cũng như trong tiểu thuyết Tây Sơn bi hùng truyện của Lê Đình Danh không hề nhắc đến Đặng Tiến Đông mà chỉ có tên Đô đốc tài danh Đặng Văn Long).
Với Nguyễn Phúc Ánh (hay Nguyễn Ánh) dưới ngòi bút của Lê Đình Danh, cũng hiện lên như một anh hùng kiệt hiệt, 12 tuổi đã theo Võ vương Nguyễn Phúc Khoát “chống giặc Tây Sơn”, 16 tuổi khi quân Tây Sơn truy đuổi chúa Nguyễn ra cửa Hàm Luông, chúa Nguyễn Phúc Thuần bị chết, chỉ còn duy nhất tiểu võ tướng Nguyễn Phúc Ánh một mình một thuyền đưa mẹ và em gái chạy trốn khỏi sự truy sát của Bùi Thị Xuân mà Nguyễn Phúc Ánh được bảo toàn mạng sống, trở thành chủ soái gánh vác cả cơ đồ nhà Nguyễn đang tưởng chừng tan thành mây khói dưới sự truy đuổi quyết liệt của Nguyễn Huệ. Ở nhân vật này có dáng dấp của một tiểu Tào Tháo, đa mưu, túc kế, gian hùng. Từ một tiểu võ tướng, trở thành Nguyễn Vương, có lúc trong tay chỉ có vài trăm quân, phải lẩn trốn sang Xiêm quốc, rồi các đảo Phú Quốc, Thổ Chu, Côn Đảo, Nguyễn Phúc Ánh đã dần dần củng cố lại thế lực nhà Nguyễn, thu phục dưới trướng mình nhiều tướng tài như Nguyễn Huỳnh Đức, Tống Việt Phước, Tống Viết Khuông, Châu Văn Tiếp, Lê Chất, Lê Văn Duyệt, Võ Tánh, Ngô Tùng Châu, Đặng Đức Siêu…
Nhưng phải đến khi người anh hùng kiệt xuất Nguyễn Huệ bị gian thần Bùi Đắc Tuyên hãm hại, thì Nguyễn Phúc Ánh mới xoay chuyển được thế cờ. Cuộc trả thủ hèn hạ của Gia Long Nguyễn Ánh đối với hài cốt của Nguyễn Huệ và các bộ tướng Tây Sơn mãi mãi là vết nhơ trong lịch sử.


Tây Sơn bi hùng truyện thu hút người đọc không chỉ ở tư liệu lịch sử phong phú, kiến văn dồi dào, mà còn ở bút pháp dựng truyện, xây dựng nhân vật khá thành công. Ngoài hai nhân vật Nguyễn Huệ, Nguyễn Phúc Ánh, hàng loạt các nhân vật thuộc các phe Trịnh, Nguyễn, Tây Sơn và cả các tướng Mãn Thanh đều được tác giả phác họa khi thì bằng một vài chi tiết đặc sắc, khi kỳ công dẫn dắt qua hàng loạt các sự kiện, mối quan hệ đan xen phức tạp, ví như các nhân vật Ngô Thì Nhậm, Ngọc Hân công chúa, Nguyễn Hữu Chỉnh, Trần Quang Diệu, Bùi Thị Xuân, Đặng Văn Long, Nguyễn Văn Tuyết, Ngô Văn Sở, Vũ Văn Nhậm, Võ Tánh, Bùi Đắc Tuyên, Lê Văn Duyệt, Đặng Trần Thường, Vũ Tâm Can v.v…
Đọc sách, mà như được xem một cuốn phim lịch sử đầy bi thương hùng tráng, được xúc động, yêu thương với người anh hùng Tây Sơn Nguyễn Huệ. Giá như, với công nghệ điện ảnh hiện thời, Tây Sơn bi hùng truyện được đưa lên màn bạc, tin rằng con em chúng ta sẽ thêm một lần được học những bài học lịch sử sống động, và mỗi chúng ta sẽ càng thêm yêu thương đất nước, cội nguồn. 

 Hà Nội, 28-8-2005. 
H.M.T   



Read more…

TÂY SƠN BI HÙNG TRUYỆN (Chương cuối) - Tiểu thuyết lịch sử của Lê Đình Danh

Lê Đình Danh

Ngô Thời Nhậm chết đòn vì đôi câu đối
Nguyễn Văn Thành bị giết bởi một bài thơ.

* * *

Nói về Nguyễn Văn Trương đem lệnh của vua Gia Long ra Bắc Hà trao cho Lê Văn Duyệt. Duyệt liền bảo Đặng Trần Thường:
- Ngày mai ông theo lệnh vua bắt bọn tôi thần nhà Lê sau theo Nhạc Huệ, đánh mỗi người hai mươi hèo rồi đuổi về dân dã.
Hôm sau Đặng Trần Thường sai quân giải các cựu thần nhà Lê ra nằm trước công đường chịu phạt trượng.
Đặng Trần Thường hỏi Ngô Thời Nhậm:
- Ngô huynh có thấy trời cao có mắt chăng?
Nhậm hỏi lại Thường:
- Thế nào là trời cao có mắt?
Thường cười mỉa mai:
- Năm xưa cũng tại nơi này Nguyễn Huệ đánh tôi hai mươi hèo rồi đuổi về dân dã. Ngày nay vua tôi lại đánh Ngô huynh hai mươi hèo rồi đuổi về dân dã. Thế chẳng phải trời cao có mắt hay sao?
Nhậm đang nằm, ngẩng mặt lên bảo Thường:
- Năm xưa chúa tôi đòi chém Đặng huynh. Nếu tôi không xin cho thì Đặng huynh đã mất đầu chứ đâu phải bị hai mươi roi mà thôi. Ơn không nhớ thời thôi. Sao  lại đem lòng kết oán?
Thường cười đáp:
- Nào tôi có đem lòng kết oán ông đâu. Nhưng người tài thường hay gặp nạn. Nay ông gặp nạn giống tôi ngày xưa. Vậy tài tôi và ông ngang nhau vậy.
Nhậm nghe thế dằn lòng không được buộc miệng nói:
- Tôi và Đặng huynh ngang tài nhau, nhưng chỉ có một mình tôi là biết được kế phạt thảo kinh xà của chúa tôi mà thôi.
Thường cười to hỏi:
- Vậy là ông vẫn tự cho rằng ông tài hơn tôi ư?
Nhậm giật mình đáp:
- Tôi không dám!
Thường nói tiếp:
- Tôi xin ra một vế đối, nếu ông đối được tôi mới phục rằng ông tài hơn tôi.
Nhậm mừng thầm nghĩ: “Nó ra vế đối, ta làm bộ không đối được, ắt nó sẽ không cố tình làm tội ta”. Nghĩ xong Nhậm nói:
- Xin Đặng huynh ra vế đối.
Thường ung dung đọc:
- Ai công hầu, ai khanh tướng, trong trần ai, ai dễ biết ai!
Lại không dằn lòng được, Nhậm đáp ngay:
- Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, bởi thời thế, thế thời phải thế!
Nghe xong Thường lẳng lặng đến gần tên võ sĩ bảo:
- Lát nữa ta hạ lệnh đánh bọn này mỗi đứa hai mươi roi. Ngươi lãnh phần đánh Ngô Thời Nhậm, hãy đánh mạnh tay vào. Nếu Ngô Thời Nhậm chết thì ngươi có thưởng.
Đến lúc thọ hình tên võ sĩ dùng hết sức mà đánh. Ngô Thời Nhậm đau đớn hét lên rằng:
- Đặng Trần Thường! Hãy nhớ lấy lời ta! Ngươi hại ta chết, tất ngươi phải bị chết theo!
Nhậm hét xong thổ huyết mà chết!
Bá tánh thành Thăng Long biết tin ấy bàn với nhau rằng:
- Đã ra lệnh tha thời thôi lại còn bảo ngầm tay chân đánh chết danh sĩ Ngô Thời Nhậm. Vua Gia Long thật là người cố chấp.
Tin ấy bay về đến tai vua Gia Long ở Phú Xuân. Vua gọi Đặng Đức Siêu đến hỏi:
- Đặng Trần Thường vì thù riêng phạm vào thượng lệnh làm mang tiếng đến ta. Phải xử thế nào?
Đặng Đức Siêu hỏi lại vua rằng:
- Nhân dân Thăng Long ngỡ đấy là lệnh của bệ hạ nên mới đem lòng oán bệ hạ. Vậy muốn an lòng dân xứ Bắc phải làm như thế nào?
Vua Gia Long đáp:
- Phải xử tội Đặng Trần Thường ở Bắc Hà.
Đặng Đức Siêu lại bàn:
- Nhưng tổng trấn Bắc thành là Lê Văn Duyệt cũng phải có phần trách nhiệm. Bệ hạ nên bố cáo trong dân triệu Lê Văn Duyệt về kinh trị tội và chém đầu Đặng Trần Thường thì mới an được lòng dân xứ Bắc.
Vua Gia Long bảo:
- Lê Văn Duyệt vô tội lại là bậc khai quốc công thần sao lại vô cớ mà trị tội?
Siêu trấn an vua:
- Ta bố cáo với nhân dân Bắc Hà như thế để an lòng bá tánh chứ ta nào trị tội Lê Văn Duyệt đâu mà bệ hạ phải ngại.
Vua Gia Long lại hỏi:
- Vậy phải làm sao để khỏi gây bất bình cho Lê Văn Duyệt và các công thần?
Siêu đáp:
           - Bệ hạ phong Nguyễn Văn Thành làm tổng trấn Bắc thành, phong Lê Văn Duyệt làm tống trấn Gia Định thành là định yên xã tắc.
Vua Gia Long khen:
- Ấy thật là kế sách vẹn toàn!
Nói xong liền theo kế ấy thi hành.
Nguyễn Văn Thành lãnh lệnh bài ra làm tổng trấn Bắc thành, đem Đặng Trần Thường ra trước dân hành quyết. Lúc đao phủ khai đao, Thường ngửa mặt than rằng:
- Ngô Thời Nhậm thật đáng bậc thầy của ta vậy!
Than dứt lời đầu lìa khỏi cổ!
Đặng Trần Thường bị chém và Lê Văn Duyệt bị đổi đi rồi, nhân dân Bắc Hà lại bàn với nhau rằng:
- Việc giết Ngô Thời Nhậm là do Đặng Trần Thường trả tư thù, đến nỗi Lê Văn Duyệt phải bị vạ lây. Vua Gia Long thật là công minh chính trực.
Vua Gia Long lại phong Lê Văn Duyệt làm tổng trấn Gia Định thành. Các tướng khác đều được phong chức đi trấn nhậm các phủ. Từ ấy bốn phương thiên hạ thái bình.

* * *

Hai năm sau, tả hữu tâu với vua Gia Long rằng:
- Nguyễn Văn Thành làm tổng trấn Bắc thành được hai năm mà bốn cõi yên vui, vạn nhà no ấm. Ông ấy đi đến đâu nhân dân Bắc Hà đều ra khỏi nhà nghiêng đón. Công đức của ông ấy thật là to lớn vậy.
Vua Gia Long liền viết chiếu chỉ sai sứ giả ra Bắc triệu Nguyễn Văn Thành hồi kinh. Về Phú Xuân gặp vua Gia Long, Thành quì tâu:
- Thần là Nguyễn Văn Thành, xin về phục mệnh.
Cho Nguyễn Văn Thành ngồi rồi vua Gia Long bảo:
        - Nay đất Bắc đã yên nên trẫm triệu khanh về giữ chức Trung quân tham mưu kề cận bên trẫm lo việc quốc gia. Khanh có vui lòng chăng?
Thành lạy đáp:
- Thần xin muôn đội hoàng ân!
Nguyễn Văn Thành về đến tư dinh gặp con mình là Nguyễn Văn Thuyên đang sửa soạn bút nghiên, Thành hỏi:
- Con đang làm gì đó?
Thuyên đáp:
- Con có hai người bạn là Nguyễn Đức Nhuận và Nguyễn Văn Khuê ở Thanh Hoá, nổi tiếng văn hay. Con định viết một bài thơ đợi khi cha con ta về Bắc Hà đi ngang Thanh Hoá sẽ gởi thơ mời hai người ấy đến chơi.
Nghe Thuyên nói xong, Thành bảo:
         - Gia đình ta không phải về Thăng Long nữa!
Thuyên ngạc nhiên hỏi:
- Vì sao thế thưa cha ?
Thành kể lại việc vừa gặp vua xong, Thuyên nói:
- Vua là người đa nghi. Con e vua thấy cha lớn quyền ở xứ Bắc đâm nghi sợ, nên mới triệu cha về kinh, cha phải cẩn thận mới được.
Thành nạt liền:
- Vua biết ta một dạ trung quân, sao ngươi dám buông lời dèm xiểm. Về sau còn tái phạm ta quyết trị tội không tha.
Nói xong trong lòng bực bội, Thành bỏ vào phòng riêng. Còn lại một mình, Thuyên liền viết ngay một phong thư và gọi người hầu là Trương Hiệu đến dặn rằng:
- Ngươi hãy mang thư này đến Thanh Hoá trao cho hai bạn ta. Đây là bạc lộ phí hãy kíp đi ngay.
Hiệu vâng lời lãnh bạc và thơ rồi lên đường.
Chẳng dè Hiệu là đứa ham rượu, sẵn bạc của Thuyên đưa làm lộ phí, Hiệu đem uống rượu say rồi vừa đi vừa lải nhải rằng:
- Ta đi mời nhân tài đến giúp nhau xoay đổi hội cơ này!
Ngờ đâu quân tín cẩn của vua nghe được lời ấy liền bắt lấy Hiệu, hỏi:
- Ngươi vừa nói lời phản nghịch là ý thế nào?
Hiệu hoảng sợ liền đưa lá thư của Thuyên và thưa:
- Lời tôi nói là ở trong thư này, nào phải tôi tự đặt ra.
Quan quân hỏi:
- Thư này của ai? Nói mau, phải chém!
Hiệu liền đáp:
- Của Nguyễn Văn Thuyên con quan Trung quân tham mưu Nguyễn Văn Thành.
Quân tín cẩn của vua không dám quyết bèn giải cả Hiệu lẫn thư đến gặp vua Gia Long. Vua đọc thư rằng:
-  “Ái Châu nghe nói lắm người hay
     Ao ước cầu hiền đã bấy nay
     Ngọc phát Kinh sơn tài sẵn đó
     Ngựa Kỳ Ký Bắc biết lâu thay
     Mùi hương hang tối xa ngàn dặm
     Tiếng phượng gò cao suốt chín mây
     Sơn tể phen này dù gặp gỡ
     Giúp nhau xoay đổi hội cơ này”
Xem thư xong, vua Gia Long vỗ án quát:
- Quả nhiên lời lẽ của loạn thần. Quân bay mau bắt hết cả nhà Nguyễn Văn Thành cho ta.
Quân đưa Thành đến qùy dưới thềm. Thành lo sợ và ngạc nhiên hỏi:
- Tâu bệ hạ, thần có tội gì?
Vua cười gằn bảo:
- Ngươi mưu toan làm phản, lại còn vờ không biết tội ư?
Thành thất kinh kêu:
- Oan cho thần lắm. Xin bệ hạ chớ nghe lời xàm tấu mà bắt tội oan cho thần.
Vua Gia Long liền quăng thư của Nguyễn Văn Thuyên ra cho Thành. Đọc xong Thành than:
- Thuyên ôi, con đã hại cha rồi!
Đoạn Thành khóc lạy thưa:
- Thư này là bút tích của con hạ thần tên Nguyễn Văn Thuyên. Nhưng nó chẳng qua là trẻ con nói ngông mà thôi. Xin bệ hạ xét lại mà tha tội cho thần một phen.
Vua Gia Long bảo:
    - Tội hay không phải giao cho viện pháp ty xét xử.   
          Nói xong vua truyền bãi triều. Nguyễn Văn Thành chạy theo níu áo vua khóc lớn rằng:
- Thần theo bệ hạ từ thuở nhỏ, lúc còn đang long đong dựng nghiệp. Nay thần vô tội bệ hạ không xét giùm mà giao cho pháp ty xử thì thần tránh sao khỏi tội. Bệ hạ nỡ lòng nào thấy thần chết mà không cứu!
Vua Gia Long mặc Thành kêu khóc, cương quyết dứt áo mà đi. Các quan trong pháp ty thấy vậy bàn với nhau rằng:
- Ta nên xét tội Nguyễn Văn Thành thế nào?
-Vua giao cho bọn ta xét tất muốn Thành phải chết. Vậy ta còn dám không tuân sao?
Luận tội xong, quan pháp ty dâng bản án lên vua. Vua Gia Long bảo:
- Pháp ty luận tội cha con Nguyễn Văn Thành phải chém. Nhưng ta nghĩ Thành là khai quốc công thần, vậy cho được tự xử.
Nói xong vua sai người vào ngục dâng cho Thành một dải lụa, một thanh gươm và một chén thuốc độc. Thành trông thấy ngửa mặt than:
- Thỏ non đã hết, chó săn phải giết! Thương thay Lê Văn Quân! Thương thay Lê Văn Quân!
Dứt lời, Thành bưng chén thuốc độc uống vào thổ huyết chết ngay. Hay tin ấy Lê Chất than rằng:
- Đến Nguyễn Văn Thành mà còn như thế. Một tướng cũ của Tây Sơn như ta nào có đáng gì, phải liệu mà giữ mình. Đối đãi với công thần thật không ai bằng vua Quang Trung vậy!

* * *
Từ ấy về sau đất nước thống nhất, bốn phương thiên hạ thái bình, không còn cảnh binh đao khói lửa. Việc thành bại là ở lòng trời. Kẻ có công, người có tội; ai anh hùng, ai tiểu nhân xin để người đời sau bình luận vậy!
Đời sau có người tên Nguyễn Trọng Trì quê ở Vân Sơn, An Nhơn, Bình Định hoài cảm giai đoạn lịch sử này có viết bài thơ rằng:
    - “Loạn thế anh hùng sản xuất đa
         Bắc Nam dược mã dự huy qua
  Thập niên huyết chiến thành hà sự
  Không thính ngư tiều tuý tửu ca!”
Tạm dịch:
Loạn đời sinh lắm anh hùng
Thanh gươm yên ngựa vẫy vùng Bắc Nam
Mười năm (?) máu đổ (như) mây tuôn
Người câu, hái củi ca buồn giọng say!
                                        
Qui Nhơn, ngày 1-1-2003.
                                      Lê Đình Danh


Read more…

TÂY SƠN BI HÙNG TRUYỆN (Chương 69) - Tiểu thuyết lịch sử của Lê Đình Danh

Lê Đình Danh

Dạ hờn căm, vua Gia Long báo thù
Lòng trung trinh, Lê Thái hậu tự vẫn

* * *

Nói về vua Gia Long ở thành Phú Xuân nghe quân báo đã giải Trần Quang Diệu và Bùi Thị Xuân cùng Đặng Xuân Bảo về đến. Vua truyền giải vào. Vợ chồng Diệu, Xuân vừa đến liền quì mọp khấu đầu dưới trướng. Đặng Xuân Bảo thấy vậy mắng Diệu Xuân:
- Xưa nay ta nghe thiên hạ bảo bảo vợ chồng ngươi là đấng anh hùng. Nay đến đường cùng mới hay loài hèn hạ.
Diệu, Xuân bị sỉ nhục hổ thẹn cúi đầu. Vua Gia Long vỗ ngai quát:
          - Đặng Xuân Bảo to gan! Trước mặt ta sao dám không quỳ?
Bảo trợn mắt mắng lại:
- Đặng Xuân Bảo ta chỉ quỳ dưới trướng của Quang Trung đại đế. Ngoài ra xưa nay chưa biết quỳ trước kẻ khác bao giờ.
Vua Gia Long cười gằn nói:
- Được! Ta tạm giam tụi bay vào ngục chờ giải Cảnh Thịnh về đây ta sẽ đào mả lấy xương anh em thằng buôn trầu Nhạc,Huệ, Lữ, rồi sẽ xử tội kẻ sống lẫn người chết vua tôi nhà Tây Sơn bay một thể.
Võ sĩ xông vào lôi Diệu, Xuân và Bảo đi. Bảo vừa đi vừa mắng Diệu, Xuân rằng:
- Ngày trước nó quỳ khóc van xin nên vợ chồng ngươi tha chết cho nó. Nhưng ngày nay cầu xin thế nào cũng không khỏi chết được đâu. Đừng quỳ trước kẻ tiểu nhân mà mang nhục.
Diệu, Xuân chỉ cúi đầu lê bước mà không dám nói gì.
Vua Gia Long nổi giận quát lên rằng:
         - Quân bay, đưa Đặng Xuân Bảo lên đây.
Võ sĩ lôi Bảo quay lại. Vua Gia Long quắt mắt hỏi:
- Chờ ta đem hài cốt của Nhạc, Huệ, Lữ về đây rồi đưa các ngươi đến trước tôn miếu của tiên vương ta trị tội thử xem làm cách nào mà ngươi không chịu nhục?
Bảo cười to đáp:
- Ta sẽ tự vẫn mà chết, nhất định không chờ đến ngày thọ nhục.
Nói xong Bảo há miệng toan cắn lưỡi. Nguyễn Văn Thành đứng gần nhanh tay bóp miệng Bảo, không cho Bảo cắn lưỡi tự vẫn. Vua Gia Long quát:
- Quân bay bẻ răng nó rồi trói chặt không cho nó có chỗ đập đầu, xem thử nó chết bằng cách nào cho biết.
Võ sĩ vâng lời đè Bảo ra cạy miệng bẻ răng. Bảo máu me đầy miệng vẫn cười to mắng Gia Long rằng:
- Thằng tiểu nhân đê tiện kia ta sẽ nín thở mà chết, xem thử ngươi có cản ta được  chăng?
Nói xong Đặng Xuân Bảo trợn mắt nín hơi không thở nữa. Mặt Bảo vốn đã đỏ, giờ đỏ lên như máu. Giây sau Bảo ngã vật ra mà chết. Vua Gia Long thất kinh than:
- Thật là một sự chết lạ xưa nay chưa từng thấy. Tướng Tây Sơn trung dũng hơn người. Nếu Cảnh Thịnh là một đấng minh quân e rằng ta khó mà phục quốc!
Đoạn vua Gia Long bảo:
- Mau truyền lệnh ta sai người đào mộ lấy cốt Nhạc Huệ Lữ về cho ta trị tội.
Nhớ lại năm trước chiếm thành Quy Nhơn đổi tên là Bình Định, vua Gia Long cũng định quật mồ anh em Tây Sơn, mình can gián vua liền nghe theo; nên Đặng Đức Siêu bước ra can:
- Tâu bệ hạ. Việc ấy không nên!
Vua Gia Long hỏi:
- Vì sao lại không nên?
Siêu quỳ thưa:
- Tâu bệ hạ, đành rằng Nhạc Huệ có tội lớn với tiên vương. Nhưng Nhạc Huệ chết đã mười năm. Vả lại lúc sinh thời cũng là vua một nước. Nếu bệ hạ làm thế e rằng thiên hạ dị nghị ta quá cố chấp chăng?
Đang cơn giận vua Gia Long gắt:
- Anh em thằng buôn trầu giết hết cả nhà ta. Ta bao phen nếm mật nằm gai, lên rừng xuống bể, lênh đênh hải đảo, lưu vong nước người, trăm cay ngàn đắng. Nếu không đào mả lấy xương anh em nó làm tội sao thoả lòng oán hận của ta. Ý ta đã quyết, còn ai can ngăn, chém!
Đặng Đức Siêu sợ hãi lui ra! Vua Gia Long gọi giật:
- Đặng Đức Siêu!
Siêu giật mình đứng laị, Gia Long bảo:
- Khanh văn chương như nước chảy hãy viết bài văn tế Võ Tánh và Ngô Tùng Châu, chờ đến ngày làm tội vua tôi giặc Tây Sơn ta sẽ đem ra đọc cho mọi người cùng nghe.
Đặng Đức Siêu vâng lời bái tạ rồi lui ra.
Ít hôm sau, Nguyễn Văn Trương giải Cảnh Thịnh và Hoàng tộc Tây Sơn về đến, quân sĩ đem hài cốt ba anh em Tây Sơn là Nhạc Huệ Lữ về phục mệnh. Vua tôi Cảnh Thịnh quỳ trước linh vị các chúa Nguyễn và bài vị Võ Tánh, Ngô Tùng Châu chịu tội.Vua Gia Long bảo Đặng Đức Siêu đọc bài văn tế. Siêu quỳ trước bài vị Ngô,Võ đọc rằng:
-“Than ôi!
Đaọ thần tử hết lòng thờ chúa, gian nan từng trải dạ trung thành.
Đấng anh hùng vì nước quyên sinh, điên bái chẳng sai lòng tiết nghĩa.
Ngọc dầu tan vẻ trắng nào phai.
Trúc dẫu cháy tiết ngay vẫn để.
Nhớ hai người xưa:
Thao lựơc ấy tài,
Kinh luân là chí.
Phò vạc Hán thuở ngôi trời chếch lệch, chém gai đuổi lũ hung tàn.
Vớt xe Đường khi thế nước chông chênh, cầm bút ra tay kinh tế.
Mối nghĩa sánh duyên gác tía, bước gian truân từng cậy dạ khuông phò.
Màn kinh giúp sức cung xanh, công mông dưỡng đã đành lòng uỷ ký.
Hậu quân thuở trao quyền tứ trụ, chữ ân uy lớn nhỏ đều phu.
Lễ bộ phen làm việc chánh khanh, bề trung ái sớm khuya chẳng trễ.
Ngoài cõi vuốt nanh ra sức, chí tiêm cừu đà rải xuống ba quân.
Trong thành then khoá chia lo, lòng ưu quốc đã thấu lên chín bệ.
Miền biên khổn hai năm chia sức giặc, vững lòng tôi bao quản thế là nguy.
Cõi Phú Xuân một trận khét oai trời, nặng việc nước phải lấy mình làm nhẹ.
Sữa áo mũ lạy về Bắc khuyết, ngọn quang minh hun mát tấm trung can.
Chỉ non sông giã với cô thành, chén tân khổ nhắp ngon mùi chánh khí.
Há rằng ngại một phen thỉ thạch, giải trùng vây mà tìm đến quân vương.
Bởi rằng thương muôn mạng tỳ hưu, thà nhất tử để cho toàn tướng sĩ.
Tiếng hiệu lệnh mơ màng trước gió, ấn tín xưa người bộ khúc thương tâm.
Bóng tinh trung thấp thoáng dưới đèn, phong nghi cũ kẻ liêu bằng sái lệ.
Cơ đãng định kíp chầy đành hẹn buổi, xót trướng doanh sao vắng mặt thân huân.
Phận truy tuỳ gang tấc cũng đền công, tiếc nhung mạc bỗng thiệt tay trung trí.
Nay gặp tiết thu,
Bày đàn uý tế.
Hai chữ cương thường gánh nặng, rõ cổn hoa cũng thoả chốn u minh.
Ngàn thu hoà nhạc khí thiêng, giúp mao việt để mở nền bình trị.”
Siêu đọc xong,các quan đều rưng rưng ngấn lệ. Vua Gia Long ứa nước mắt nói:
- Ngô, Võ hai khanh! Hãy xem ta trả thù cho hai khanh đây.
Đoạn vua chỉ vào ba cái sọ người rồi hỏi vua tôi Tây Sơn:
- Các ngươi có biết ba cái đầu lâu này là của ai chăng?
Cảnh Thịnh cũng ứa nước mắt đáp:
- Ấy là hài cốt các tiên đế của ta.
Vua Gia Long bảo quân:
- Quân bay đem ba cái đầu lâu của Nhạc, Huệ ,Lữ lấy dây xích lại giam vào ngục, còn xương cốt đem nghiền nát bỏ vào lọ để trước cửa ngục làm đồ đựng nước tiểu cho quân sĩ.
Quân vâng lệnh mang ba bộ hài cốt đem đi. Cảnh Thịnh khóc theo:
- Hoàng bá, Phụ hoàng, Hoàng thúc ơi! Con thật là có tội với các tiên đế!
Bùi Thị Xuân thấy cảnh ấy không dằn lòng được toan mở miệng mắng Gia Long. Trần Quang Diệu ngăn lại nói nhỏ:
- Vợ chồng ta ra hàng chịu nhục là để cứu mẹ. Nếu phu nhân mắng nó, nó giận giết mẹ ta thì sao?
Buì Thị Xuân tức tối gằn nhỏ giọng:
-Vợ chồng ta ra hàng là chấp nhận hy sinh chịu nhục. Nhưng nó làm nhục hài cốt các tiên đế, khiến thiếp không sao nhịn nổi.
Trần Quang Diệu trấn an vợ:
- Nàng đừng lo ! Đó không phải là hài cốt của các tiên đế ta đâu!
Bùi Thị Xuân sửng sốt:
- Sao lại có việc ấy được?
- Nàng có nhớ lúc ta đem quân vào đánh Võ Tánh và Ngô Tùng Châu chiếm lại thành Quy Nhơn chăng?
- Nhớ!
- Nàng có nhớ trước lúc chia tay, nàng khóc vì nghe câu “lạy trời cho chóng gió Nồm, cho thuyền chúa Nguyễn giong buồm thẳng ra” chăng?
- Nhớ!
Bùi Thị Xuân vẫn trả lời tức khắc và chăm chú lắng nghe câu giải thích của chồng:
- Dù rằng phận làm tướng phải tận trung với chúa. Nhưng người cơ trí phải thấy rằng địa lợi, thiên thời, nhân hòa đã mất, tất sớm muộn gì cũng có ngày này. Phúc Ánh và tiên đế ta là kẻ thù không đội trời chung. Ta e nếu kinh thành thất thủ, Ánh sẽ phạm vào Chiêu Lăng tiên đế nên ta đã bí mật dời long cốt theo trong quân vào Quy Nhơn. Rồi khi vây Võ Tánh và Ngô Tùng Châu trong thành Quy Nhơn, ta đã bí mật đem hài cốt vua Thái Đức và Đông Định vương Nguyễn Lữ về chôn giấu ở núi rừng Tây Sơn Hạ cả rồi…
- Nhưng ba bộ hài cốt này giặc Ánh quật từ các lăng…
- Lăng mộ thật nhưng hài cốt giả! Nếu là thật, thà mẹ ta bị xử lăng trì chứ đời nào ta lại chịu yên như thế!
Những nét nhăn của sự tởm lợm và căm hờn trên mặt Bùi Thị Xuân đã giãn ra. Vua Gia Long thấy vợ chồng Diệu, Xuân nói nhỏ với nhau bèn hỏi:
- Trần Quang Diệu, giờ là lúc ta xử tội ngươi đây. Ngươi có điều gì cần nói chăng?
Diệu khấu đầu lạy rồi đáp:
- Tội của thần chết là đáng lắm. Mẹ thần nay đã ngoài tám mươi tuổi không thể làm hại cho xã tắc được. Xin bệ hạ tha chết cho mẹ thần, thần dù tan xương nát thịt cũng muôn đội hoàng ân.(1)
Vua Gia Long nhìn sang thấy Trần Mẫu đã già nua lụ khụ bèn cười nói:
- Được! Ta mở lượng hiếu sinh tha cho mẹ ngươi được sống. Quân bay lôi Trần Quang Diệu xử lăng trì.
Nguyễn Văn Thành bước ra can:
- Lúc Trần Quang Diệu hạ thành Bình Định do hậu quân Võ Tánh trấn thủ, Diệu chẳng những không giết hại quân ta mà còn cấp cho ghe thuyền lương thực cho quân ta về. Xin bệ hạ giảm cho Diệu tội lăng trì.
Vua Gia Long suy nghĩ giây lâu rồi khoát tay bảo:
- Mang đi chém ngang lưng.
Trần mẫu nghe vậy vùng đứng lên giơ gậy chỉ mặt vua Gia Long mắng rằng:
- Thằng tiểu nhân kia! Chém đầu cũng chết việc gì phải chém ngang lưng cho phơi gan lòi ruột. Ta quyết không vì thân già này mà để cho các con ta chịu nhục.
Nói xong Trần mẫu đập đầu vào bực cấp mà chết. Ngoài sân đao phủ khai đao, Trần Quang Diệu đứt làm hai đoạn. Bùi Thị Xuân đau đớn hét lên một tiếng rồi khóc rằng:
- Mẹ ơi! Vợ chồng con ra nộp mạng là để cứu mẹ. Sao mẹ lại huỷ hoại thân mình như thế!
Bỗng Thị Xuân vùng đứng dậy chỉ mặt vua Gia Long mắng rằng:
- Nay mẹ ta đã chết thì ta và ngươi vai vế ngang hàng. Ta nói cho ngươi biết, ngươi làm điều tàn bạo đào mộ các tiên đế ta. Dù ngươi là kẻ chiến thắng nhưng đời sau ai dám bảo ngươi là đấng anh hùng.
Vua Gia Long mỉm cười hỏi:
- Ngươi bảo ta không phải anh hùng, vậy ta hỏi ngươi ta và Nguyễn Huệ ai hơn ai?
Xuân ung dung đáp:
- Tiên đế ta bốn lượt vào Nam, ba lần ra Bắc. Trong năm ngày đại phá ba mươi vạn quân Thanh do Lê Chiêu Thống cúi đầu cõng sang. Nội một đêm tiêu diệt năm vạn quân Tiêm La do chính ngươi muối mặt rước về. Xét về tài, tiên đế ta như hùm còn ngươi như cẩu việc gì mà phải hỏi.
Vua Gia Long giận tái mặt nhưng vẫn ôn tồn hỏi:
- Còn xét về đức, ta và Nguyễn Huệ thì thế nào?
Bùi Thị Xuân hăng hái lưu loát đáp:
- Tiên đế ta bắt Nguyễn Đăng Trường rồi thả cho đi, bắt Nguyễn Huỳnh Đức dù không hàng được cũng không nỡ giết. Đập đổ hai nhà Trịnh Nguyễn, đi đến đâu trăm họ đều cơm no áo ấm, nhân nghĩa sáng ngời. Còn ngươi rước ngoại bang về tàn hại lương dân, bắt tướng đối phương thì tru di tam tộc. Người chết đã mười năm ngươi còn đào mả lấy xương làm tội. Xét về đức, tiên đế ta như đêm trăng rằm, còn ngươi như đêm ba mươi cần gì phải hỏi.
Bầm gan tím ruột, vua Gia Long gằn giọng:
- Ngươi dám nhục mạ ta, không sợ ta lột da xẻ thịt ư?
Xuân ung dung đáp:
- Lột da xẻ thịt cũng chết là cùng có gì phải sợ! Ta chỉ sợ rằng chết xuống âm phủ gặp tiên đế ta hỏi ta hai tội. Tội thứ nhứt không vâng lệnh mà giết chú ta là Bùi Đắc Tuyên. Tội thứ hai là ở cửa Hàm Luông tha cho thằng tiểu nhân Phúc Ánh.
Bùi Thị Xuân nói xong, các tướng Gia Miêu đều rút gươm khỏi vỏ. Vua Gia Long ngăn lại bảo:
- Giết nó sao thấy được gan nó. Ta có cách này xem nó to gan đến đâu.
Đoạn vua Gia Long bảo võ sĩ:
- Truyền đem con gái Bùi Thị Xuân ra cho voi dày trước mặt nó.
Bỗng một người từ ngoài chạy vào nói lớn:
- Xin Hoàng huynh hãy tha chết cho con gái Bùi Thị Xuân.
Mọi người giật mình nhìn lại, thì ra ấy là Quận chúa Ngọc Du. Vua Gia Long ngạc nhiên hỏi Ngọc Du:
- Chồng nó là Trần Quang Diệu đánh thành Bình Định hại chết chồng em là Võ Tánh. Sao em còn xin tha cho con gái của nó?
Quận chúa Ngọc Du toan mở miệng, nhưng chợt nhớ ra điều gì bèn đến gần vua nói nhỏ:
- Ngày trước Bùi thị Xuân tha cho ba mẹ con ta ở cửa Hàm Luông nên ta mới được như ngày nay. Xin Hoàng huynh nghĩ tình ấy mà tha cho con gái của Xuân.
Vua Gia Long lắc đầu đáp nhỏ với Ngọc Du:
- Ngày trước nó tha cho ta nên mất nước. Ngày nay ta lại bắt chước sự sai lầm của nó hay sao?
Đoạn quay sang bọn võ sĩ ,vua vỗ án quát lớn:
- Nhổ cỏ tận gốc, giết rắn đập đầu. Quân bay mau đem con gái Bùi Thị Xuân ra hành hình.
Võ sĩ vâng lệnh lập tức thi hành. Một con voi to lớn bước chậm rãi đến gần con gái Thị Xuân. Nàng ấy vừa mười bốn tuổi, sợ hãi hét lên:
- Mẹ ơi cứu con!
Xuân nghiêm mặt quát:
        - Con nhà tướng không được sợ chết! Con thà chết đi cùng cha mẹ còn hơn là sống với lũ tiểu nhân kia!
         Xuân vừa dứt lời, voi đã dùng vòi quấn lấy con gái Xuân tung lên không. Khi nàng ấy rơi xuống, voi đưa cặp ngà ra hứng. Ngà voi nhọn hoắc xuyên qua người, nàng ấy quằn quại trên miệng voi mà chết. Voi lại cúi đầu vứt xác nàng xuống đất rồi dùng chân dày đạp lên. Thương thay con gái Bùi Thị Xuân chết nát tan thi thể. Mọi người mục kích đều le lưỡi lắc đầu mà rơi nước mắt.
Thế nhưng, có một người đáng ra phải khóc, mà không khóc! Đó là Bùi Thị Xuân! Xuân kéo lê xích chân đi đến gần con voi vừa hành hình con gái mình. Tên nài voi giục voi quấn Xuân. Voi vừa vươn vòi, Xuân vùng hét lên một tiếng. Voi thất kinh co vòi quay đầu mà chạy. Tên nài dùng búa đánh vào đầu voi bảo voi quay lại, voi vùng hất tên nài xuống đất rồi cắm cổ chạy ra khỏi pháp trường. Đội quân hành hình lại đưa voi khác vào thay. Nhưng con nào cũng thế, khi đến gần nghe Xuân hét lên đều co vòi quay đầu chạy  hết cả.
Tướng sĩ Gia Miêu tuy không hiểu vì lý do gì nhưng thấy vậy thảy đều khiếp đảm. Vua Gia Long ngạc nhiên hỏi quần thần:
- Bùi Thị Xuân có tài gì mà có thể khuất phục được voi như thế?
Tả hữu có người biết chuyện thưa rằng:
         - Bùi Thị Xuân chuyên huấn luyện voi để lập đội tượng binh cho giặc Tây Sơn. Số voi này là của địch do quân ta bắt được. Có lẽ nó nhận ra chủ cũ nên không dám làm hại chăng?
Vua Gia Long bảo:
- Nếu voi dày không được thì đem cho ngũ mã phanh thây. Nhất định phải cho nó chết không toàn thây.
Võ sĩ cột đầu và tứ chi của Bùi Thị Xuân vào năm con ngựa rồi bảo kỵ mã ra roi. Thương thay Bùi Thị Xuân! Đầu, mìmh, tay, chân mỗi phần một ngả!
Vua Tây Sơn là Cảnh Thịnh thấy gia đình Diệu, Xuân bị hành hình xong biết đến lượt mình thì thất linh hồn vía. Cảnh Thịnh vọt miệng nói:
- Trước khi chết xin cho mâm cơm lót dạ kẻo phải làm ma đói.
Vua Gia Long ôm bụng cười một hồi rồi bảo quân dọn mâm cho Cảnh Thịnh. Hoàng đệ Quang Bàn hỏi Cảnh Thịnh:
- Cớ sao Hoàng huynh lại xin cơm của giặc?
Cảnh Thịnh cúi đầu đáp:
- Không phải anh muốn ăn, nhưng để kéo dài thời gian sống được giờ nào hay giờ ấy!
Cơm dọn lên, võ sĩ cỡi trói cho Cảnh Thịnh cùng hoàng tộc. Cảnh Thịnh ngồi vào bàn cầm đũa, Quang Bàn liệng chén quát:
- Chết thì chết việc gì phải đi ăn cơm thừa của giặc!
Cảnh Thịnh vừa ăn vừa rơi nước mắt. Quang Bàn ngửa mặt lên trời kêu rằng:
- Phụ hoàng ơi! Nhà Tây Sơn ta đổ là phải lắm rồi. Chỉ tiếc cho công lao dựng nghiệp của Phụ hoàng mà thôi!
Nói xong Quang Bàn dùng chiếc đũa đâm mạnh vào lỗ tai mà chết. Vua Gia Long thất kinh nghĩ thầm:
- Con của Nguyễn Huệ đến thằng nhỏ này cũng khí khái anh hùng như vậy, mà Quang Toản là người nối ngôi lại hèn hạ u mê. Ấy thật là trời giúp ta !
Cảnh Thịnh ăn xong, vua Gia Long truyền đem ra cho ngũ mã phanh thây.
* * *

Làm tội vua tôi Tây Sơn xong, vua Gia Long lại hạ lệnh cho quân trấn thủ Bình Định lùng bắt bà con tông tộc của các tướng Tây Sơn đem làm tội. Vì việc ấy mà ở phủ Quy Nhơn người bị chém đầu lên đến hàng ngàn. Vua Gia Long lại hạ lệnh truy lùng tất cả sách vở dưới triều Quang Trung Nguyễn Huệ gom về đốt cả đi và kẻ nào ghi chép bất cứ điều gì về nhà Tây Sơn phải bị tru di tam tộc! Vua Gia Long bảo:
- Ta muốn từ nay về sau dân ta không được nói về giặc Tây Sơn và anh em thằng buôn trầu Nhạc Huệ nữa!
Vua vừa dứt lời, xảy quân vào báo:
- Tâu bệ hạ, quân ta vừa bắt được Lê Thái hậu vợ Quang Trung Nguyễn Huệ giải về cho bệ hạ xét xử.
Vua Gia Long ngạc nhiên hỏi:
- Ngọc Hân chết đã ba năm nay, có văn tế hẳn hoi thì làm gì còn Ngọc Hân nào đây nữa?
Quân đáp:
- Tâu bệ hạ, các cung nữ hầu hạ trong Bắc cung dưới thời Nguyễn Huệ đều xác nhận người ấy là Bắc cung Hoàng Hậu Lê Ngọc Hân.
Vua Gia Long lấy làm lạ bèn truyền cho vào. Quân đưa một thiếu phụ đến thi lễ dưới thềm. Vua Gia Long liếc nhìn, thiếu phụ cực kỳ diễm lệ. Lòng bồi hồi xúc động, vua Gia Long hỏi:
- Nàng kia! Nàng có phải là Ngọc Hân vợ Nguyễn Huệ không?
Nàng ấy đáp:
-Thưa, tôi chính là Ngọc Hân công chúa nhà Lê vợ Quang Trung Hoàng đế!
Vua Gia Long dò hỏi:
- Ngọc Hân đã chết năm Kỷ Mùi (1799) có văn tế của Cảnh Thịnh rành rành. Sao ngươi dám mạo nhận là Ngọc Hân công chúa!
Ngọc Hân đáp:
- Nguyên chồng tôi là Quang Trung Hoàng đế định đến cuối thu năm Nhâm Tý (1792) sẽ đem quân vào Gia Định tiệu diệt bệ hạ, rồi sẽ cất quân đánh Tàu đòi đất Lưỡng Quảng xưa kia là của nước ta. Chồng tôi có hỏi ý của La Sơn phu tử Nguyễn Thiếp. Phu tử bảo không có điều bình Nam, Bắc tiến. Đến khi chồng tôi băng ha, tôi mới tin điều phu tử nói là đúng, nên tôi mới giả chết trốn đi. Chẳng ngờ nay lộ ra tông tích tuỳ bệ hạ muốn xử thế nào thì xử.
Vua Gia Long nhìn Ngọc Hân hồi lâu rồi bảo:
- Tuy nàng là vợ giặc Huệ tội đáng phải chết. Nhưng nàng lại là công chúa nhà Lê, mà các tiên vương của ta trước cũng là tôi của vua Lê. Nghĩ tình ấy ta tha không giết.
Đoạn quay sang võ sĩ vua bảo:
- Truyền giam Ngọc Hân vào ngục đối xử tử tế chờ xét sau.
Quân đưa Ngọc Hân đi rồi, Nguyễn Văn Thành hỏi:
- Bệ hạ định xử Ngọc Hân thế nào?
Vua Gia Long vui vẻ đáp:
- Ta sẽ tuyển nàng vào hậu cung.
Thành can:
- Bệ hạ là vua một nước, thiếu gì cung phi mỹ nữ cần gì phải lấy vợ thừa của giặc.
Vua Gia Long gạt đi bảo:
- Nước cuả nó ta còn lấy được, vợ của nó ta lại không lấy được hay sao?
Nói xong vua Gia Long lui về hậu cung rồi truyền đưa Ngọc Hân đến hầu. Đến nơi, biết ý vua Gia Long, Ngọc Hân mắng rằng:
        - Ta là công chúa nhà Lê lại là vợ Quang Trung đại đế. Nay ngươi muốn giết cứ giết, đời nào ta lại để thằng tiểu nhân như ngươi làm nhục hay sao.
Mắng rồi Ngọc Hân lao đầu vào tường mà chết.
Vua Gia Long sửng sốt một hồi, rồi gọi người tín cẩn nhất đến bảo:
- Ngươi mau đem xác Ngọc Hân bí mật chôn ở sau vườn thượng uyển, rồi ra ngoài thành phao câu ca như thế này… Nếu việc lộ ra lập tức mất đầu.
Người tín cẩn y lệnh thi hành.
Hôm sau khắp kinh thành ai nấy đều nghe lắm kẻ hát câu ca rằng:
“Gái đâu có gái lạ lùng
Con vua mà lấy hai chồng làm vua
Bá tánh già trẻ bàn tán với nhau:
- Ngọc Hân công chúa nhà Lê đã là Bắc cung Hoàng hậu dưới triều Quang Trung Hoàng đế. Nay dù bị bắt thì nên chết đi mới phải sao lại chịu nhục mà làm thiếp cho vua Gia Long thế? Thật xấu hổ thay!
Thương thay thái hậu Ngọc Hân đã chết thảm còn mang tiếng nhơ oan ức!
Xong việc ấy, Nguyễn Văn Trương lại đến tâu:
- Tướng quân Lê Văn Duyệt sai thần giải Cảnh Thịnh về kinh cho bệ hạ trị tội và xin lệnh bệ hạ xét xử các văn thần nhà Lê như Ngô Thời Nhậm, Phan Huy Ích sau theo giặc Tây Sơn phải tội như thế nào?
Vua Gia Long nhanh trí cười vui vẻ đáp liền:
- Bọn họ trước là tôi thần của nhà Lê, mà ta đây rất quý nhà Lê. Vậy truyền tha tội chỉ đánh mỗi người hai mươi trượng rồi đuổi về dân dã.
Nguyễn Văn Trương vâng lệnh lên đường ra Bắc. Ra ngoài thành, Trương nghe thiên hạ bàn tán rằng:
- Các tôi thần của Tây Sơn đều bị tru di tam tộc. Sao vua Gia Long lại tha chết cho bọn cựu thần nhà Lê là Ngô Thời Nhậm và Phan Huy Ích?
Kẻ khác lại bảo:
- Ấy là vì công chúa nhà Lê là Ngọc Hân đã về làm thiếp cho vua Gia Long, vì lấy lòng Lê Ngọc Hân nên mới tha chết cho bọn cựu thần nhà Lê đó!
Nói xong họ lại ca rằng:
“Gái đâu có gái lạ lùng
Con vua mà lấy hai chồng làm vua
Nguyễn Văn Trương vừa đi vừa nghĩ:
- Lê Ngọc Hân thật chẳng ra gì!

(Hết chương 69)


(1)-Trích thư của giáo sĩ De La Bissachère: “Còn về phần quan Thiếu Phó (Trần quang Diệu) là kẻ được người trong gia đình và tất cả người quen thuộc tôn kính, quan đã làm một việc hiếu trong ngày quan bị xử hay là ngày trước đó. Quan đã tâu thấu đến vua rằng mẹ quan già đã tám mươi tuổi không thể làm hại cho xã tắc được nữa, xin vua hãy tha chết cho bà, vì bà mắc tội cũng là tại quan. Quan được như ý. Phần quan chỉ bị chém thôi…”
(Trích: “Việt Nam thời bành trướng: Tây Sơn” của linh mục Nguyễn Phương. Khai Trí, Sài Gòn x.b năm 1958, trang 396)

Read more…

CÁCH NHẬP COMMENT TRÊN HƯƠNG QUÊ NHÀ

Đầu tiên, nhấp chuột vào ô Nhập nhận xét của bạn rồi viết comment. Viết xong, nhấp chuột vào ô Tài khoản Google. Sau đó nhấp chuột vào Tên/URL thì sẽ hiện ra 2 ô. Ô phía trên, ghi Họ và tên của bạn. Ô phía dưới, ghi dòng chữ:huongquenha.com

Cuối cùng, nhấp chuột vào ô Tiếp tục và nhấp chuột tiếp vào ô Xuất bản là xong. (Nếu bạn đã có sẵn Tài khoản Google, thì sau khi viết comment, chỉ cần nhấp chuột vào ô Xuất bản là thành công)


-------------------------------------------------------------------------


TÁC GIẢ & TÁC PHẨM
* TÁC GIẢ & TÁC PHẨM * TÁC GIẢ & TÁC PHẨM * TÁC GIẢ & TÁC PHẨM * TÁC GIẢ & TÁC PHẨM---------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------
Ái Nhân (15) ẢNH (58) Anh Ngọc (1) Anh Nguyên (1) Anh Phong (4) Anh Phương (7) Ân Thiên (1) Bạch Diệp (5) Bách Mỵ (2) BÀN TRÒN VĂN NGHỆ (87) Bảo Hồ (1) Bảo Lâm (1) Bảo Ninh (2) Bé Hải Dân (1) Bích Ái (3) Bích Lê (4) Bích Ngọc (1) Bích Vân (2) Bình Địa Mộc (2) Bình Nguyên (1) Bình Nguyên Trang (2) Bobby Nam Giang (4) Bùi Anh Sắc (1) Bùi Công Thuấn (1) Bùi Danh Hải Phong (1) Bùi Đức Ánh (62) Bùi Hoài Vân (5) Bùi Huyền Tương (2) Bùi Hữu Phước (1) Bùi Nguyên Bằng (13) Bùi Nhựa (4) Bùi Văn Bồng (5) Bùi Việt Thắng (1) BÚT KÝ (17) Cao Duy Thảo (1) Cao Kim Quy (1) Cao Thị Thu Hà (3) Cao Thọ Thêm (2) Cao Thoại Châu (1) Cao Thu Hà (1) Cao Văn Tam (5) Cát Du (6) Cẩm Lệ (3) Cẩm Tú Cầu (1) Chàng Cát (1) CHÀO XUÂN 2014 (1) CHÂN DUNG VĂN NGHỆ SĨ (1) Châu Quang Phước (1) Châu Thạch (9) Châu Thường Vinh (1) Chí Anh (1) Chính Đức (1) CHỦ BIÊN (101) Chu Lai (2) Chu Ngạn Thư (10) Chu Trầm Nguyên Minh (16) Chu Vương Miện (1) Cỏ Dại (7) Công Nguyễn (1) Cuộc thi văn chương (1) CỬA SỔ VĂN HÓA (6) Dạ Ngân (1) Dã Phong Bình (2) Dã Phương (1) Dạ Thảo (2) Dạ Thy (1) Diệp Linh (7) Diệp Uy (1) Dino Buzzati (3) DỌC ĐƯỜNG (29) Du Tử Lê (1) Dung Thị Vân (25) Duy Bằng (1) Duy Phạm (2) Dương Diệu Minh (1) Dương Đăng Huệ (1) Dương Hải Yến (2) Dương Hằng (7) Dương Kim Nhi (4) Dương Kim Thoa (1) Dương Phương Vinh (1) Dương Thành Thái (3) Dương Thị Yến Trinh (2) Dương Xuân Triều (6) Dzạ Lữ Kiều (6) Đàm Lan (17) Đào Hiền (2) Đào Hữu Thức (2) Đào Khương (2) Đào Phạm Thuỳ Trang (57) Đào Quang Bắc (1) Đào Quý Thạnh (1) Đào Thanh Hoà (14) Đào Thị Quý Thanh (1) Đào Thị Thu Hiền (3) Đào Văn Đạt (28) Đào Viết Bửu (7) Đặng Châu Long (1) Đặng Diệu Thoa (1) Đăng Huỳnh (1) Đặng Quốc Khánh (1) Đặng Quý Địch (3) Đặng Tấn Tới (2) Đặng Thị Hoa (2) Đặng Thị Xuân (1) Đăng Trình (1) Đặng Tường Vy (1) Đặng Văn Sử (1) Đặng Xuân Xuyến (8) ĐIỂM BÁO (2) Đinh Vương Khanh (2) Đoàn Khương Duy (1) Đoàn Thị Minh Hiệp (4) ĐỌC SÁCH (1) Đỗ Chiến Thắng (6) Đỗ Duy Hoàng (10) Đỗ Hồng Ngọc (5) Đỗ Phu (1) Đỗ Tấn Đạt (2) Đỗ Trúc Hàn (1) Đỗ Xuân Phương (1) Đức Linh (1) Đức Tiên (3) Elena Pucillo Truong (6) Ghi chép (1) Giang Đình (8) Giang Hiền Sơn (3) Hạ Ly (1) Hà Nguyên (2) Hà Nhữ Uyên (2) Hạ Thi (3) Hà Thị Thu Hằng (1) Hà Tùng Sơn (1) Hải Miên (3) Hải Phong (2) Hải Thăng (1) Hải Thuỵ (6) Hải Yến (2) Hàm Sơn (1) Hàn Dã Thảo (2) Hàn Du Tử (17) Hàn Hữu Yên (1) Hãn Nguyên Nguyễn Nhã (1) Hàn Nguyệt (1) Hàn Phong Vũ (19) Hậu Cốc Ngang (1) Hậu Đậu (1) Hiếu Dũng (1) Hoa Hướng Dương (1) Hoa Mai (2) Hoa Tím Buồn (4) Hoa Tuyết (1) Hoà Văn (10) Hoa Xuyến Chi (1) Hoài Huyền Thanh (52) Hoàng Anh (6) Hoàng Anh 79 (26) Hoàng Chẩm (38) Hoàng Đình Quang (2) Hoàng Giao (4) Hoàng Hạ Miên (6) Hoàng Hữu (1) Hoàng Khánh Duy (4) Hoàng Kim (1) Hoàng Kim Chi (1) Hoàng Kim Oanh (2) Hoàng Linh (6) Hoàng Long (2) Hoàng Lộc (8) Hoàng Mẫn (1) Hoàng Minh Tường (2) Hoàng Nghĩa Lược (1) Hoàng Ngọc Xuân (4) Hoàng Nguyên (1) Hoàng Phủ Ngọc Tường (1) Hoàng Thảo Chi (1) Hoàng Thị Nhã (8) Hoàng Trang (1) Hoàng Trần (1) Hoàng Trọng Quý (9) Hoàng Trọng thắng (1) Hoàng Tuấn Sơn (1) Hoàng Tuyên (1) Hoàng Vũ Thuật (1) Hoàng Xuân Hiến (1) Hoàng Xuân Niên (1) Hồ Bích Ngọc (4) Hồ Bích Vân (2) Hồ Đắc Thiếu Anh (1) Hồ Hải (2) Hồ Lê Diêm (1) Hồ Nam (1) Hồ Ngọc Diệp (1) Hồ Nhật Quang (1) Hồ Sĩ Duy (1) Hồ Thanh Ngân (10) Hồ Thế Hà (2) Hồ Thế Phất (3) Hồ Tĩnh Tâm (1) Hồ Tịnh Thuỷ (21) Hồ Vũ Khánh Linh (1) Hồ Xuân Thu (3) Hồng Hạnh (3) Hồng Liễu (1) Hồng Phúc (8) Hồng Tâm (10) Huệ Triệu (3) HUMICHI (5) Huy Nguyên (15) Huy Vọng (17) Huy Vũ (1) Huỳnh Dạ Thảo (1) Huỳnh Gia (16) Huỳnh Kim Bửu (1) Huỳnh Minh Lệ (2) Huỳnh Ngọc Nga (1) Huỳnh Ngọc Phước (26) Huỳnh Như Phương (1) Huỳnh Thanh Lan (1) Huỳnh Thúy Thúy (1) Huỳnh Văn Diệu (1) Huỳnh Văn Mỹ (1) Huỳnh Văn Yên (1) Huỳnh Xuân Sơn (3) Hương Đêm (1) Hương Đình (4) Hương Văn (6) Hửu Thỉnh (1) James Dylan (7) Jeffrey Thai (9) Jerry Thu Trà (7) Kai Hoàng (1) Kha Tiệm Ly (4) Khả Xuân (1) Khán Võ (2) Khảo Mai (1) Khổng Vĩnh Nguyên (1) KỊCH BẢN (1) Kiên Giang (1) Kiến Giang (12) Kim Chuông (4) Kim Dung (2) Kim Ngoan (15) Kim Quyên (1) Kim Sơn Giang (22) Kim Yến (1) Kỳ Nam (2) Ký sự (14) Lạc Thảo (1) Lại Ngọc Thư (1) Lam Giang (3) Lan Anh (1) Lan Phương (1) Lãng Du (6) Lâm Bích Thuỷ (8) Lâm Cẩm Ái (3) Lâm Hạ (11) Lâm Huy Nhuận (1) Lâm Trúc (29) Lâm Xuân Vi (1) Lê Ân (5) Lê Bá Duy (7) Lê Đình Danh (79) Lê Đức Hoàng Vân (1) Lê Đức Lang (13) Lê Giang Trần (1) Lệ Hằng (3) Lê Hoài Lương (4) Lê Hoàng (2) Lê Hứa Huyền Trân (39) Lê Khánh Luận (1) Lê Minh Chánh (1) Lê Minh Dung (2) Lê Minh Vũ (3) Lê Ngân (3) Lê Ngọc Trác (1) Lê Ngũ Nam Phong (11) Lê Nhựt Triết (8) Lê Phương Châu (30) Lê Quang Trạng (20) Lê Sa Long (2) Lê Thanh Hùng (23) Lê Thanh My (8) Lê Thấu (1) Lê Thị Cẩm Tú (6) Lê Thị Hồng Thắm (1) Lê Thị Kim (1) Lê Thị Ngọc Lệ (1) Lê Thị Ngọc Nữ (21) Lê Thị Thu Hiền (1) Lê Thị Xuyên (13) Lê Thiếu Nhơn (14) Lê Thống Nhất (6) Lê Tiến Dũng (1) Lê Tiến Mợi (6) Lê Trọng Nghĩa (3) Lê Trung Hiếu (1) Lê Tuân (4) Lê Uyên (1) Lê Văn Hiếu (10) Lê Văn Ngăn (3) Lê Vi Thuỷ (1) Lê Xuân Tiến (1) Linh Lan (7) Linh Lan (Quảng Nam) (8) Linh Phương (3) Linh Thy (2) Long Khánh (4) Lữ Hồng (3) Lư Nhất Vũ (1) Lương Duyên Thắng (3) Lương Đình Khoa (1) Lương Sơn (26) Lưu Ly (6) Lưu Quang Minh (15) Lưu Thành Tựu (1) Lưu Thị Mười (2) Lý Khánh Vinh (15) Lý Thành Long (1) M.T.N.H (7) Mã Nhị Lan (1) Mạc Minh (2) Mạc Tường (1) Mai Đức Trung (6) Mai Kiệm (1) Mai Loan (12) Mai Nhật (2) Mai Thanh (1) Mai Thị Vân (1) Mai Thìn (3) Mai Tuyết (35) Mang Viên Long (53) Marie Hải Miên (4) Mẫu Đơn (1) Mèo Con (1) Mi Thu (1) Miên Đức Thắng (2) Miên Linh (1) Minh Châu (2) Minh Đan (Lọ Lem Đất Võ) (5) Minh Nguyên (14) Minh Nguyễn (3) Minh Nguyệt (9) Minh Nguyệt (NT) (1) Minh Vy (25) Mỗi tháng một tác giả và một bài thơ hay (2) Mộng Cầm (8) Mường Mán (1) MỸ THUẬT (6) My Tiên (1) Mỹ Vân (1) Nam Cao (1) Nam Giang James Dylan (2) Nam Thi (1) Năm Bửu (1) Nấm Độc (1) NCCGL (4) Ngàn Thương (32) Ngày Đẹp Tươi (1) Ngọc Bút (7) Ngọc Diệp (34) Ngọc Thịnh (1) Ngô Càn Chiểu (1) Ngô Diệp (6) Ngô Đình Hải (6) Ngô Hồng Nhung (1) Ngô Liêm Khoan (1) Ngô Minh Trãi (3) Ngô Nguyên Ngiễm (1) Ngô Thị Hoà (1) Ngô Thuý Nga (30) Ngô Thúy Nga (14) Ngô Thy Học (7) Ngô Văn Cư (31) Ngô Văn Giảng (11) Ngô Văn Khanh (17) Nguyễn (1) Nguyễn An Bình (65) Nguyễn An Đình (4) Nguyễn Ánh 9 (1) Nguyễn Bá Nhân (1) Nguyễn Bích Sao Linh (1) Nguyễn Bình (1) Nguyễn Bính Hồng Cầu (2) Nguyên Cẩn (26) Nguyễn Châu (1) Nguyễn Chinh (4) Nguyễn Công Thụ (2) Nguyễn Công Tùng Chinh (1) Nguyễn Cử Tú Quỳnh (2) Nguyên Diệp (1) Nguyễn Duy Khương (6) Nguyễn Duy Thịnh (2) Nguyễn Đặng Mừng (3) Nguyễn Đăng Thanh (20) Nguyễn Đăng Trình (4) Nguyễn Đình Bảng (1) Nguyễn Đình Trọng (1) Nguyễn Đoan Tuyết (25) Nguyễn Đồng Bội Thảo (1) Nguyễn Đức Chính (5) Nguyễn Đức Cơ (1) Nguyễn Đức Mậu (2) Nguyễn Đức Minh (6) Nguyễn Đức Minh Hùng (10) Nguyễn Đức Phú Thọ (20) Nguyễn Đức Quyền (4) Nguyễn Đức Tấn (5) Nguyễn Gia Long (1) Nguyên Hạ (8) Nguyễn Hải Thảo (2) Nguyễn Hậu (2) Nguyễn Hiếu (8) Nguyễn Hiếu Học (2) Nguyễn Hòa Hiệp (1) Nguyễn Hoài Ân (1) Nguyễn Hoàng Thức (2) Nguyễn Hồng Diệu (1) Nguyễn Huệ (3) Nguyên Hùng (1) Nguyễn Huy (3) Nguyễn Huy (HD) (1) Nguyễn Huy Khôi (1) Nguyễn Huỳnh (1) Nguyễn Hữu Phú (1) Nguyễn Hữu Quý (2) Nguyễn Hữu Thuần (4) Nguyễn Hữu Trung (1) Nguyễn Khiêm (1) Nguyễn Khoa Đăng (37) Nguyễn Kiều Lam (2) Nguyễn Kim Hương (5) Nguyễn Lam (2) Nguyễn Lương Vỵ (4) Nguyên Minh (1) Nguyễn Minh Dũng (45) Nguyễn Minh Hoà (1) Nguyễn Minh Khiêm (1) Nguyễn Minh Phúc (28) Nguyễn Minh Quang (5) Nguyễn Minh Thuận (9) Nguyễn Minh Toàn (1) Nguyễn Mỳ (1) Nguyễn Mỹ Nữ (3) Nguyễn Nga (14) Nguyễn Nghiêm (3) Nguyễn Ngọc Dũng (1) Nguyễn Ngọc Đặng (1) Nguyễn Ngọc Hà (4) Nguyễn Ngọc Hưng (5) Nguyễn Ngọc Thơ (31) Nguyễn Ngọc Tư (5) Nguyễn Nguy Anh (21) Nguyễn Nguyên Phượng (67) Nguyễn Nhật Hùng (4) Nguyễn Như Tuấn (13) Nguyên Phong (1) Nguyễn Phú Yên (8) Nguyễn Phượng (2) Nguyễn Quang Quân (8) Nguyễn Quang Tâm (2) Nguyễn Quang Tuấn (1) Nguyễn Quân (2) Nguyễn Quốc Ái (1) Nguyễn Quốc Bảo (1) Nguyễn Quốc Đông (1) Nguyễn Quy (2) Nguyên Tâm (1) Nguyễn Tấn Thuyên (1) Nguyễn Thái An (3) Nguyễn Thái Dương (6) Nguyễn Thái Huy (35) Nguyễn Thành Công (48) Nguyễn Thành Giang (22) Nguyễn Thanh Hải (1) Nguyễn Thanh Mừng (1) Nguyễn Thành Nhân (17) Nguyễn Thanh Tuấn (7) Nguyễn Thanh Xuân (2) Nguyễn Thế Kiên (1) Nguyễn Thị Ánh Huỳnh (2) Nguyễn Thị Bích Phượng (1) Nguyễn Thị Cẩm Thuỳ (3) Nguyễn Thị Chi (2) Nguyễn Thị Diệu Hiền (3) Nguyễn Thị Hải (1) Nguyễn Thị Hậu (1) Nguyễn Thị Huệ (1) Nguyễn Thị Kim Huệ (2) Nguyễn Thị Mây (104) Nguyễn Thị Ngọc Hải (1) Nguyễn Thị Ngọc Sen (2) Nguyễn Thị Như Tâm (3) Nguyễn Thị Phụng (19) Nguyễn Thị Thanh Bình (6) Nguyễn Thị Thành Nhân (1) Nguyễn Thị Thanh Toàn (1) Nguyễn Thị Thu Ba (19) Nguyễn Thị Thu Hiền (1) Nguyễn Thị Thu Hoài (1) Nguyễn Thị Thu Thuý (3) Nguyễn Thị Thùy Linh (3) Nguyễn Thị Tiết (3) Nguyễn Thị Tuyết (1) Nguyễn Thị Việt Hà (39) Nguyễn Thị Xuân Hương (12) Nguyễn Thủy (4) Nguyễn Thúy Ngân (13) Nguyễn Thuý Quỳnh (2) Nguyễn Thường Kham (1) Nguyễn Thượng Trí (2) Nguyễn Tiến Đường (8) Nguyễn Trí Tài (39) Nguyễn Trọng Luân (2) Nguyễn Trung (1) Nguyễn Trung Nguyên (1) Nguyễn Tuyển (3) Nguyễn Văn Ân (66) Nguyễn Văn Bút (1) Nguyễn Văn Cường (CCK) (4) Nguyễn Văn Hiến (5) Nguyễn Văn Hoà (5) Nguyễn Văn Học (20) Nguyễn Văn Ngọc (1) Nguyễn Văn Thảo (17) Nguyễn Văn Toan (1) Nguyễn Việt Hà (2) Nguyễn Vinh (1) Nguyễn Vĩnh Bình (3) Nguyễn Xuân Cảm (3) Nguyễn Xuân Dương (1) Nguyễn Xuân Khánh (1) Nguyễn Xuân Thuỷ (1) Nguyễn Xuân Thủy (1) Nguyễn Xuân Tư (3) Nguyệt Linh (5) Nguyệt Quế (1) Ngưng Thu (39) Nhã Ngọc (1) Nhã Thiên (7) Nhân Hậu (2) NHÂN VẬT (1) Nhật Quang (17) Nhất Sinh (1) Nhật Vũ (1) Nhi Hạ (1) NHỚ THUỞ ẤU THƠ (37) NHỮNG ÁNG VĂN HAY VỀ LÀNG QUÊ VIỆT NAM (7) NHỮNG NGƯỜI BẠN ĐÂT THỦ (6) NHỮNG NGƯỜI THỰC HIỆN HQN (5) Nông Quốc Lập (1) NP phan (1) Nửa Đời hư (1) NỬA THÁNG MỘT TÁC GIẢ VÀ MỘT BÀI THƠ HAY (38) P.N. Thường Đoan (1) Pearl (1) Phạm Ánh (20) Phạm Anh Xuân (3) Phạm Bá Nhơn (2) Phạm Cao Hoàng (1) Phạm Đình Nghi (1) Phạm Hổ (1) Phạm Hữu Hoàng (20) Phạm Lâm (1) Phạm Minh Dũng (14) Phạm Minh Hiền (9) Phạm Minh Thuận (10) Phạm Mỹ (1) Phạm Ngân (3) Phạm Như Vân (1) Phạm Phan Hòa (1) Phạm Quỳnh An (1) Phạm Thái Ba (4) Phạm Thị Hải Dương (9) Phạm Thị Liên (1) Phạm Thị Mỹ Liên (26) Phạm Thị Phương Thảo (3) Phạm Thuý (6) Phạm Trần Ái Linh (4) Phạm Trung Tín (2) Phạm Tuấn Vũ (28) Phạm Tử Văn (21) Phạm Văn Phương (14) Phạm Văn Thạnh (1) Phạm Vũ (1) Phan Anh (7) Phan Cung Việt (1) Phan Đức Nam (1) Phan Hoài Thương (1) Phan Hoàng (1) Phan Huỳnh Điểu (1) Phan Hữu Lý (1) Phan Khanh (2) Phan Mai Thư Nhã (6) Phan Nam (16) Phan Sửu (1) Phan Tấn Lược (6) Phan Thanh Cương (2) Phan Thị Huỳnh Trang (2) Phan Tiên Phát (1) Phan Trang Hy (22) Phan Văn Bình (1) Phan Văn Thạnh (1) Phan Văn Thuần (3) Phan Vĩnh (1) Phiêu Vân (1) Phong Điệp (1) Phỏng vấn (7) Phú Ngọc (1) Phú Quang (3) Phú Xuân (8) Phùng Gia Lộc (1) Phùng Hiếu (8) Phùng Hoàng Chương (1) Phùng Phương Quý (8) Phùng Văn Khai (1) Phương Phương (10) Phương Uy (5) Quảng Ngọc (1) Quảng Ngôn Lê Ngữ (1) Quang Thám (1) Quang Tuấn Dũng (9) Quốc Hùng (2) Quốc Tuyên (1) Quỳnh Lệ (1) Quỳnh Nga (5) Quỳnh Trâm (1) Raymond Thư (1) Rêu (Cao Hoàng Từ Đoan) (13) SÁCH BẠN VĂN (71) Song Ninh (7) Sông Hương (11) Sông Lam (1) Sông Song (7) Sơn Tịnh (2) Sơn Trần (15) T.T.Hiếu Thảo (22) Tạ Nghi Lễ (1) Tạ Thị Hoa (14) TẢN VĂN (187) TẠP BÚT (514) Tạp chí Văn Mới (1) TẠP CHÍ VN BÌNH DƯƠNG (11) Tâm Nhiên (2) Tần Khánh (4) TẬP SAN ÁO TRẮNG (33) Tập san Văn học nghệ thuật Hương Quê Nhà (1) Tây Sơn bi hùng truyện (2) Thạch Anh (2) Thạch Cầu (1) Thạch Đà (7) Thạch Lam (1) Thái An Khánh (2) Thái Hoà (1) Thanh Bình Nguyên (27) Thanh Hải (1) Thanh Huyền (2) Thanh Lương (2) Thanh Minh (4) Thanh Phong (1) Thanh Sơn (1) Thanh Thảo (3) Thanh Trắc Nguyễn Văn (28) Thanh Tùng (7) Thành Văn (3) Thanh Xuân (2) Thảo Nguyễn (1) Thâm Tâm (1) Thi Ngọc Lan (1) Thiên Ân (1) Thiên Sơn (1) Thiên Thần Áo Trắng (7) Thiên Tôn (10) Thiên Trần (1) Thiệp chúc mừng năm mới (1) Thiệp chúc Tết (2) Thiệp mừng (3) Thơ (2774) Thơ Lê Nhựt Triết (1) THƠ MỜI HOẠ (7) THƠ PHỔ NHẠC (76) Thời sự Văn nghệ (6) Thu Dung (3) Thu Hoài (1) Thuận Thảo (8) Thuận Yến (1) Thục Minh (7) Thuỳ Anh (6) Thuỵ Du (1) Thụy Du (3) Thuỳ Dương (1) Thủy Điền (1) Thuỳ Nhân (1) Thư cảm ơn (1) Thư ngỏ (1) THƯ NGỎ CỦA HQN (2) Thư tin (277) THƯ VIỆN TÁC GIẢ (1) Tiểu luận (3) Tiểu Mục Đồng (1) Tiểu Nguyệt (5) Tiểu thuyết (98) Tiêu Tương (1) TIN VĂN (2) Tịnh Minh Tiến (2) Tô Hồng Phương (1) Tô Kiều Ngân (1) Tô Minh Yến (19) Tôn Nữ Hỷ Khương (2) Tôn Thất Út (2) Tống Xuân Tám (1) Trà Bình (3) TRABATHA (1) Trang Linh (1) Trang Lộc (1) Trang Thơ Chào Xuân Mậu Tuất 2018 (1) TRANG THƠ CHỦ NHẬT (304) Trang Thơ Đón Xuân Đinh Dậu 2017 (1) Tranh ảnh (3) Trầm Mặc (4) Trần Anh Dũng (1) Trần Bảo Định (4) Trần Băng Khuê (1) Trần Biên Thùy (1) Trần Dần (1) Trần Duy Đức (17) Trần Dzạ Lữ (4) Trần Định (1) Trần Đình Sử (2) Trần Đoàn Luận (1) Trần Đức ÁI (2) Trần Hà Nam (4) Trần Hoàng Vy (1) Trần Hồng Vân (5) Trần Huiền Ân (2) Trần Huy Minh Phương (2) Trần Hữu Du (1) Trần Hữu Hội (17) Trần Kim Đức (5) Trần Kim Loan (2) Trần Kim Quy (1) Trần Lê Sơn Ý (2) Trần Linh Chi (1) Trần Long Thạch (1) Trần Lưu (1) Trần Mai Hường (11) Trần Mạnh Hảo (1) Trần Minh Nguyệt (13) Trần Năm (1) Trần Ngọc Mỹ (11) Trần Nguyên Hạnh (6) Trần Nhã My (2) Trần Nhương (1) Trần Phù Nam (1) Trần Quang Dũng (4) Trần Quang Khanh (9) Trần Quang Lộc (1) Trần Quang Ngân (8) Trần Quốc Tiến (8) Trần Quốc Việt (1) Trần Tâm (7) Trần Thái Hưng (5) Trần Thanh Hải (3) Trần Thành Nghĩa (1) Trần Thế Nhân (9) Trần Thị Bích Thu (1) Trần Thi Ca (9) Trần Thị Cổ Tích (2) Trần Thị Huyền Trang (3) Trần Thị Ngọc Hồng (1) Trần Thị Thanh (5) Trần Thị Thương Thương (4) Trần Thị Trúc Hạ (1) Trần Thiện Tuấn (1) Trần Thoại Nguyên (1) Trần Thuận (7) Trần Thuỳ Trang (1) Trần Thư (1) Trần Thương Nhiều (1) Trần Trọng Hưng (2) Trần Trọng Tân (1) Trần Trọng Vũ (2) Trần Tuấn Anh (2) Trần Tuấn Thanh (10) Trần Vạn Giã (2) Trần Văn Bạn (16) Trần Văn Nhân (5) Trần Văn Thiên (1) Trần Viết Dũng (11) Trần Võ Thành Văn (23) Triết học (2) Triều Âm (2) Triều Châu (1) Triều La Vỹ (1) Triệu Lam Châu (1) Triệu Từ Truyền (21) Trịnh Bửu Hoài (97) Trịnh Duy Sơn (2) Trịnh Hoài Linh (5) Trịnh Huy (4) Trịnh Thuỳ Mỹ (1) Trịnh Tuyên (1) Trịnh Viết Hiền (1) Trịnh Viết Hiệp (1) Trịnh Yến (2) Trúc Giang (4) Trúc Lập (1) Trúc Linh Lan (2) Trúc Thanh Tâm (12) Trúc Thuyên (3) Trung Trung Đỉnh (1) TRUYỆN DỊCH (1) Truyện ký (2) TRUYỆN NGẮN (1004) Trương Công Tưởng (16) Trương Diễm Phiến (1) Trương Đình Phượng (8) Trương Đình Tuấn (3) Trương Hồng Phúc (14) Trương Huỳnh Như Trân (2) Trương Lan Anh (1) Trương Nam Chi (5) Trương Thanh Cường (2) Trường Thắng (63) Trương Thị Thanh Tâm (21) Trương Thị Thúy (2) Trường Thịnh (6) Trương Tri (2) Trương Văn Dân (21) Trương Viết Hùng (1) TTM (1) Tuấn Nguyễn (7) Tuấn Quỳnh (3) Tuti (2) Tuỳ bút (2) TÙY BÚT (111) Tường Vi (1) TX (1) Út Lãng Tử (1) Uyên Minh (1) Uyển Phan (1) Vành Khuyên (1) Văn (2103) Văn Công Mỹ (2) Văn Lưu (1) Văn Nguyên Lương (3) Văn Nhược Ba (1) Văn Thành Lê (1) Văn Thắng (22) Văn Trọng Hùng (1) Vân Đồn (3) Vân Giang (12) Vân Khanh (2) Vân Phi (31) Vân Tùng (2) Vi Ánh Ngọc (2) Vi Quốc Hiệp (1) VIDEO CLIP (2) Viễn Trình (25) Việt Quỳnh (1) Việt Trang (1) Việt Trương (1) Vĩnh Sơn (7) Vĩnh Thông (33) Vĩnh Tuy (14) Võ Bá Cường (1) Võ Chân Cửu (17) Võ Công Liêm (1) Võ Diệu Thanh (16) Võ Dõng (1) Võ Đông Điền (4) Võ Hà (1) Võ Hạnh (2) Võ Mỹ Cát (1) Võ Ngọc Thọ (4) Võ Như Văn (3) Võ Thị Nga (10) Võ Thị Thu Thủy (1) Võ Thuỵ Như Phương (15) Võ Văn Hoa (1) Võ Văn Luyến (1) Võ Xuân Phương (3) Vũ Bình Lục (1) Vũ Đình Huy (7) Vũ Đình Liên (1) Vũ Đình Minh (1) Vũ Đình Nguyệt (2) Vũ Đình Thung (2) Vũ Đức Trọng (1) Vũ Hạ (1) Vũ Hạnh (3) Vũ Miên Thảo (5) Vũ Thành An (1) Vũ Thị Huyền Trang (94) Vũ Thụy Khuê (8) Vũ Trọng Quang (1) Vũ Trọng Tâm (2) Vũ Trọng Thanh (1) Vương Hạnh (1) Vương Hoài Uyên (4) Vương Tâm (2) Xanh Nguyên (4) Xuân Đài (1) Xuân Phong (6) Xuân Phương (1) Xuân Tiến (20) Ý Thu (3) Yên Kha (7) Ziken (2)
-------------------------------------------------------------------------
+ 759 TÁC GIẢ CÓ BÀI ĐĂNG TRÊN HƯƠNG QUÊ NHÀ
-------------------------------------------------------------------------