NHỮNG CHUYỆN CẢM ĐỘNG VỀ BÀ MÁ MIỀN NAM VỚI BỘ ĐỘI GIẢI PHÓNG - Bài của TS Nguyễn Hữu Nguyên


Ông Nguyễn Hữu Nguyên (bìa trái) cùng đồng đội thời kỳ ở chiến trường

NDĐT- Những tình cảm của nhân dân Nam Bộ dành cho bộ đội miền bắc trong suốt cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước được TS Nguyễn Hữu Nguyên, từng là một người lính giải phóng kể lại, cho thấy tình yêu thương vô bờ bến của những bà má đối với những người con xa nhà đi chiến đấu vì Tổ quốc.
Thương bộ đội chân tình
TS Nguyễn Hữu Nguyên (ảnh), Trung tâm Nghiên cứu chiến lược và chính sách quốc gia (ĐH Khoa học Xã hội và nhân văn TP Hồ Chí Minh) từng được biết đến như một nhà phản biện về văn hóa, kiến trúc và xu hướng phát triển của TP Hồ Chí Minh ngày nay. Nhưng ông cũng từng là một người lính hành quân vào nam từ năm 1965, trải qua nhiều trận chiến sinh tử ở các chiến trường và cuối cùng tham gia chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử để giải phóng Sài Gòn. Dưới đây là những câu chuyện rất cảm động về tình quân dân trong thời chiến, đặc biệt là tình cảm của những bà má miền nam dành cho bộ đội miền bắc mà chúng tôi ghi lại được trong một lần nói chuyện với ông vào một buổi chiều tháng Tư giữa Sài Gòn sau 40 năm giải phóng.
Theo TS Nguyễn Hữu Nguyên, trong những đề tài lịch sử về giải phóng miền nam, thống nhất đất nước, còn một mảng cần khai thác nhiều hơn đó là mối quan hệ giữa quân đội và nhân dân, cả từ góc độ quân sự và chiều kích nghiên cứu văn hóa chiến tranh. Trong đó, có sự tham gia của nhân dân miền nam trong chiến đấu như thế nào, tinh thần chiến đấu mạnh mẽ của bộ đội ta từ miền bắc vào.
Rồi ông kể: “Một nhà văn Mỹ từng gặp gỡ và nói với tôi: "Quân miền bắc cũng như chúng tôi đều ở xa đến nên không giành được sự ủng hộ của dân bản xứ". Tôi nói, "người Mỹ đã nhầm lẫn, đó là họ suy từ thái độ của người dân Nam Bộ với người Mỹ". Chúng tôi ở ngoài kia vào và thấy, các má, các chị Nam Bộ có nét “cục bộ ngược”, tức là yêu thương người lính đi xa như chúng tôi hơn là những người tại chỗ. Lý luận của các má là: “Tụi nó ở mãi xa vào, làm sao “móc” gia đình được? (Móc có nghĩa là liên lạc, móc nối với gia đình khi người lính ở xa). Vì thế chúng tao phải thương hơn, cho chúng nó nhiều thứ hơn”.
Theo ông, sau này, dưới góc độ nghiên cứu, nếu chúng ta không khai thác khía cạnh tình quân dân đặc biệt này thì rất có lỗi với sự đóng góp của nhân dân. “Nếu không có tình cảm đó, những người lính miền bắc như chúng tôi lấy đâu tinh thần chiến đấu? Sự yêu thương đến mức phải cảm động như thế là một phần sức mạnh tinh thần của người lính, chứ không đơn giản là chiếc bánh tét, một miếng cơm hay gói quà. Và cũng để lý giải một điều, như Bác Hồ nói, dân tộc Việt Nam là một, không có sự chia rẽ văn hóa”.
“Đúng là quân với dân như cá với nước, theo nghĩa rất cụ thể, chứ không phải là khẩu hiệu chung chung. Nuôi bộ đội và thương bộ đội, quan trọng nhất là tình thương. Điều đó cũng thể hiện dân tộc Việt Nam không khác biệt về miền văn hóa mà chỉ là miền địa lý. Có những nơi trên thế giới luôn diễn ra hai xu hướng ly khai và sáp nhập. Khi nào ở cùng dòng văn hóa sẽ sáp nhập lại, khác văn hóa sẽ tách ra. Và chúng ta có một dòng văn hóa sông Hồng chảy vào trong này, mang theo cả lịch sử mở mang bờ cõi. Văn hóa sông Hồng là cội nguồn, trộn hoà với văn hóa sông Cửu Long, nó cùng một nguồn cội chứ không xung đột nhau”, người cựu chiến binh, vừa là nhà nghiên cứu, lý giải.
“Trong khi chiến đấu, có vài lần chúng tôi không được nói giọng của mình khi chuyển quân xuống chiến trường miền Tây, nhưng mục đích là để giữ bí mật rằng chưa có bộ đội chủ lực vào tới đây. Chúng tôi được dặn ngồi yên trên xuồng để du kích dẫn đi, nhưng khi dân hỏi thì để cho mấy anh du kích nói, giữ im lặng vì sợ nguy hiểm. Sau đó, khi không giữ bí mật nữa, chúng tôi vẫn nói giọng này chứ làm sao thay đổi được. Nhưng người dân miền nam hoàn toàn không phân biệt điều đó, mà thậm chí ngược lại, họ yêu thương chúng tôi nhiều hơn bộ đội địa phương”. Và ông đã kể những câu chuyện rất cảm động, cụ thể về điều này.
Yêu thương tự nhiên
Câu chuyện thứ nhất của ông kể về người dân ở bên ngoài vùng giải phóng, thời tiểu đoàn của ông phải ở lại đánh giặc vào năm 1970-1971 ở chiến trường Mỹ Tho. Hồi đó, tiểu đoàn của ông không liên lạc được với chiến khu, không có lương thực. Các bà, các mẹ ở đây đã đi vay lúa, mượn tiền của dân để nuôi cả tiểu đoàn trong sáu tháng. Sau đó, khi kết nối được, quân khu mới chuyển tiền trả lại cho các má.
Lúc đó, khi đi chiến đấu, mỗi lần về nhà, bộ đội được bà con yêu thương, giúp đỡ tận tình. Ông kể, lúc tiểu đoàn 9 của đơn vị chiến đấu năm 1969 ở Tây Ninh - Trảng Bàng, lúc đó mới chỉ đang dàn quân chứ chưa đánh, các bà má đã chở một xe bò kéo rất nhiều thực phẩm như mì tôm, nước mắm, rau bầu, bí… đưa đến cho bộ đội. Đến nơi, các má nói: “Chúng tao mang đến cho bộ đội ăn”. Chính trị viên của tiểu đoàn đáp lễ: “Thưa má, chúng con về đây chưa lập được chiến công gì với địa phương, nên má mang đến thế này chúng con chưa dám nhận”. Má bảo: “Tao biết chúng nó đi chiến đấu thế nào, cũng có đứa bị thương, có đứa hy sinh. Thế chúng nó không được ăn sao?”. Lý lẽ đó, chính trị viên không thế nào bác bỏ được nên đành nhận sự giúp đỡ của các má.
Rồi khi đơn vị tôi về một làng ở Củ Chi, bộ đội bắt đầu đào công sự ở bờ tre, ngồi trực chiến ở đó. Các má bắt đầu nấu chè, gánh ra rồi gọi: “Các con ơi đến ăn chè!”. Bộ đội chiến trường hồi đó kỷ luật lắm, không dám nhận. Các má múc mỗi người một chén để ngay công sự rồi nói: “Tụi bay ăn đi!”. Nhưng vẫn không anh lính nào dám đụng đến. Các bà má bàn với nhau, không ăn chắc do chỉ huy, rồi hỏi người chỉ huy đơn vị ở đây. Má vào gặp chính trị viên rồi hỏi tại sao nấu chè mà không cho bộ đội ăn, rồi kéo mấy anh cán bộ ra tận công sự nói: “Bay ra lệnh đi!”. Lúc đó, chính trị viên mới nói các đồng chí ăn chè của các má mang đến đi, và bộ đội mới ăn.
Rồi người cựu chiến binh kết luận: “Họ yêu thương bộ đội đến mức đó. Không hề có sự ép buộc, vận động, phân công, mà dường như đó là tình cảm hết sức tự nhiên".

Phẩm chất của những anh lính Cụ Hồ
Trong những ngày cuối cùng của cuộc chiến tranh, ngày 26, 27, 28-4-1975, ông Nguyên cùng đồng đội đánh ở Sài Gòn. Ông kể lại: Buổi chiều, lúc ông đi về, Ban tác chiến của tiểu đoàn đóng quân trong nhà dân, các chiến sĩ giải phóng báo là chủ nhà định cho bộ đội con chó, anh em đang chuẩn bị bắt thịt. Nhưng khi nói lại với ông Nguyên về việc cho con chó, bà chủ nhà nói thêm một câu: “Từ lúc tôi nói thế, con chó nằm trong gầm giường không dám ra”. Ông Nguyên thấy thế liền từ chối: “Má ơi, con chó như thế là khôn lắm, để nuôi kẻo tội nghiệp”. Quả thật, nghe bà má cúi xuống gầm giường và gọi: “Con ơi con, các chú thương không ăn thịt con đâu”, lúc đó, con chó mới chạy ra. Chứng kiến điều ấy, ông nói với các đồng đội: “Nếu lúc đó chúng ta nhận con chó mổ và ăn ngay ở sân này, dưới con mắt của người dân, chúng ta sẽ như thế nào?”.
Một câu chuyện khác trong những ngày sắp giải phóng ấy ở Sài Gòn, khi tiểu đoàn của ông đi qua một ngôi nhà, có tiếng khóc từ trong vọng ra. Ông đi vào nhà thì thấy một bà má và một người phụ nữ đang ngồi khóc bên quan tài trong ánh đèn mờ. Ông Nguyên hỏi sự tình thì người phụ nữ khoảng 30 tuổi kể lại rằng: “Tụi tôi khi nghe tiếng súng của các anh thì sợ lắm nên hai chị em chạy về phía quân đội quốc gia. Chúng tôi gặp một trung úy Sài Gòn, anh ta đòi “làm bậy” với đứa em gái còn chưa tốt nghiệp tú tài của tôi. Tôi nói với hắn rằng, chồng tôi cũng đi lính như ông, mà em tôi còn đang đi học. Nhưng hắn ta không chịu, kéo em tôi đi. Tôi nghe thấy tiếng la hét rồi có tiếng súng. Cùng lúc đó các anh tràn về phía này, và giúp tôi đưa xác em tôi về lo thủ tục ma chay”. Kể xong, người phụ nữ ngửa mặt than: “Trời ơi, phải biết các anh thế này thì tôi đâu có chạy!”.
Đó là những người mà đến phút chót của cuộc chiến tranh mới tiếp xúc với quân giải phóng. Nhưng một hành động, một cử chỉ như thế thì họ đã phân biệt được người hai phía như thế nào.
Rồi khi Ban tác chiến Trung đoàn của ông về đóng quân trong một nhà dân ở Nhà Bè. Đến ngày ăn mừng chiến thắng, chúng tôi được cấp trên chi tiền mở tiệc ngay tại nhà người dân. Bộ đội nhờ dân nấu hai mâm. Mấy anh lính giải phóng chia nhau ra các mâm để tiếp dân. Tôi ngồi một mâm có chủ nhà, con trai ông chủ nhà là trung sĩ của chế độ Sài Gòn, một ông hàng xóm đối diện là đại úy cảnh sát huyện Nhà Bè và mấy bà con chung quanh. Bữa ăn mừng chiến thắng ấy thật đặc biệt. Lần đầu tiên chúng tôi tiếp xúc với những người phía bên kia chiến tuyến và mời họ ăn. Sau khi rót bia ra, ông đứng lên nói rằng: “Hôm nay bộ đội được ăn mừng chiến thắng. Nhưng ở đây có lẽ chỉ có Việt Nam chúng ta mới có bữa tiệc mà chung quanh là những người đã từng ở hai chiến tuyến như thế này. Cuộc chiến của chúng ta không phải là miền bắc thắng miền nam mà chúng ta đuổi Mỹ rời khỏi miền nam. Vì thế, xin chúc mọi người sức khỏe”.
Ông Nguyên nhấn mạnh, sau giải phóng, Mỹ từng nghĩ rằng sẽ có một cuộc trả thù ở Sài Gòn giống như thời gian sau chiến tranh thế giới thứ hai ở Pháp. Lúc đó người Pháp trả đũa những người theo phát xít Đức một cách thẳng tay. Nhưng điều đó đã không xảy ra ở Việt Nam. Chúng ta đối xử với quân đội và nhân dân Sài Gòn đều nhân đạo. Nhưng thời gian sau giải phóng, trong giai đoạn kinh tế rơi vào khủng hoảng, sự chia rẽ có lẽ bắt đầu xen vào trong từng gia đình. Nhưng chính vì khởi nguồn từ một nền văn hóa chung, khoảng cách ấy cũng từ từ được xóa mờ đi.

HỒNG VÂN - NGÂN ANH
Nguồn: Báo Nhân Dân


Read more…

TỔ QUỐC BÊN BỜ SÓNG (KỲ 13) - Ký sự của Khánh Vinh & Kiến Giang


Tình yêu biển lớn


Tình yêu biển lớn Chúng tôi đón nhận cái bắt tay thân mật và nụ cười hiền hậu của ông Đặng Công Ngữ, nguyên Chủ tịch UBND huyện đảo Hoàng Sa trong một chiều muộn tại cơ quan cũ. Ông bảo, thật vui khi có một đoàn phóng viên đến từ Bình Dương và thực hiện đề tài về biển đảo. Còn chúng tôi cũng nắm lấy cơ hội để hỏi chuyện một trong những người lãnh đạo chính quyền khá nổi tiếng liên quan đến vấn đề biển đảo tại Việt Nam…
Cựu Điệp báo viên A10
Ấn tượng ban đầu của chúng tôi về cái tên Đặng Công Ngữ lại đến từ một buổi họp mặt tại TP.HCM. Buổi gặp mặt đó có một số nhân vật lịch sử quan trọng, như ông Phan Xuân Huy, Nguyễn Hữu Thái... - những thành viên của một cụm điệp báo. Trong câu chuyện giữa những người đồng đội cũ hôm đó, chúng tôi loáng thoáng nghe tên ông Đặng Công Ngữ. Thì ra, nguyên Chủ tịch UBND huyện Hoàng Sa cũng từng là thành viên của Cụm Điệp báo A10 (được thành lập năm 1972) gồm 39 thành viên, phần lớn là trí thức, học sinh, sinh viên Quảng Nam - Đà Nẵng, hoạt động ở Sài Gòn với nhiệm vụ cùng với các lực lượng cách mạng lật đổ Tổng thống VNCH Nguyễn Văn Thiệu để tạo điều kiện thuận lợi cho người khác ôn hòa lên thay thế nhằm sớm ký Hiệp định Paris, chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình cho Việt Nam.
Ông Đặng Công Ngữ giới thiệu cho khách tham quan những tư liệu chứng minh Hoàng Sa là của 
Việt Nam
Sau này, qua một số thành viên của Cụm Điệp báo A10, chúng tôi còn biết thêm đôi ba chuyện về ông Đặng Công Ngữ. Chẳng hạn, năm 1974 chàng sinh viên Đặng Công Ngữ tham gia Cụm Điệp báo A10. Cũng năm đó, ông biết thông tin về Trung Quốc cưỡng chiếm Hoàng Sa. Và cũng thật bất ngờ khi đúng 35 năm sau, vào năm 2009, ông trở thành Chủ tịch UBND huyện đảo Hoàng Sa.
Ông Võ Vân, cháu của nguyên Chủ tịch nước Võ Chí Công, hiện là Phó Chánh Văn phòng Sở GTVT TP.HCM kể: “Đặng Công Ngữ cùng tham gia A10 với tôi, hoạt động ở lõm chính trị Bảy Hiền, bên cạnh sân bay Tân Sơn Nhất từ tháng 4-1974. Chúng tôi có nhiệm vụ nắm tình hình địch ở Bảy Hiền, nhất là các lực lượng mật thám, quân đội, cảnh sát và chuẩn bị các điều kiện để khi thời cơ đến là vùng lên giành chính quyền. 
Vào 6 giờ sáng ngày 30-4-1975, tôi và Đặng Công Ngữ cùng một số anh em điệp báo A10 ở lõm chính trị Bảy Hiền dẫn đầu giành chính quyền. Lúc đó, Dương Văn Minh chưa tuyên bố đầu hàng, nhiều đơn vị quân đội, cảnh sát vẫn cố thủ. Do đó, chúng tôi đã tước vũ khí, trói sĩ quan, binh lính, khoảng 40 - 50 người, dẫn về Dinh Độc Lập để chờ quân giải phóng tiến vào thành phố…Nhiều năm sau này, ông Đặng Công Ngữ được biết đến với những hoạt động bảo vệ chủ quyền biển đảo, cải cách hành chính, xây dựng đội ngũ cán bộ cho TP.Đà Nẵng… nhưng hầu như không mấy ai biết về ông với vai trò của một cán bộ điệp báo A10. Theo hình dung của chúng tôi, điều đó cũng giống như nụ cười rất hiền từ nhưng luôn bí ẩn của ông, một điệp báo viên luôn hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao, để rồi, được tin tưởng hoàn toàn khi trở thành Chủ tịch huyện đảo Hoàng Sa đầu tiên. Ông, trên cương vị và vai trò chủ chốt của mình với tình yêu biển, tình yêu quê hương xứ sở đã tiến hành các hoạt động bảo vệ chủ quyền cho Hoàng Sa thân yêu.
“Chúng ta phải kiên cường đấu tranh!”
Đó là lời khẳng định đanh thép của ông Đặng Công Ngữ khi chúng tôi đề cập về những hành động ngang ngược của ngoại bang xâm phạm chủ quyền biển đảo Việt Nam trong thời gian gần đây. Ông Ngữ nhẩm tính, ông đã có 1.828 ngày ở cương vị Giám đốc Sở Nội vụ Đà Nẵng kiêm Chủ tịch huyện đảo Hoàng Sa (ông nghỉ hưu vào tháng 5-2014). Suốt 1.828 ngày đó có quá nhiều sự kiện nhạy cảm mà một lời nói cũng có thể ảnh hưởng đến đại cuộc cũng như thân phận con người. Nhưng xuyên suốt hành trình dài dằng dặc ấy, cái tên Đặng Công Ngữ luôn được nhắc đến mỗi khi có những sự kiện lớn trên biển Đông.
Và cũng không thể nào quên, trong khó khăn chồng chất ấy, tiếng vang của huyện đảo Hoàng Sa - với những cuộc triển lãm bản đồ, tư liệu khẳng định chủ quyền biển đảo, những hội thảo khoa học đầy trí tuệ, hàng trăm đoàn khách trong và ngoài nước ghé thăm trụ sở UBND huyện, hàng ngàn bài báo, bộ phim, phóng sự truyền hình, hàng trăm tư liệu quý được sưu tầm… đã lan tỏa rộng rãi, vượt qua cả biên giới quốc gia. Tất nhiên, đó là công sức của nhiều người, nhưng chắc ông Ngữ là một phần không thể nào không nhắc đến.Chúng tôi ngồi đối diện với ông Đặng Công Ngữ, con người kiên trung với khuôn mặt nhân từ nhưng đôi mắt vẫn ánh lên những tia nhìn sắc lạnh khi được hỏi về chủ quyền biển đảo, về Hoàng Sa, Trường Sa thân yêu. Với ông, sự kiện giàn khoan Hải Dương 981 và những động thái không thể chấp nhận khác của Trung Quốc trên quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa như là những lưỡi dao cứa vào da thịt xót xa.
Tiễn chúng tôi rời UBND huyện đảo Hoàng Sa, rời TP.Đà Nẵng xinh đẹp và không kém phần hào hùng, ông Đặng Công Ngữ không quên nhắc đi nhắc lại: “Người Việt Nam đã chiến đấu oai hùng, quyết chiến đấu đến cùng cho toàn vẹn lãnh thổ và chủ quyền của dân tộc. Tuy ngoại bang có nhiều thái độ hung hăng, càn quấy nhưng lịch sử và sự thật là không thể nào chối cãi được. Chúng ta phải nhớ rằng, dân tộc ta đã đứng lên và sẽ tiếp tục đấu tranh, kiên quyết bảo vệ, giữ vững chủ quyền quần đảo thiêng liêng này... Tôi xin kính cẩn tri ân đến các dân binh Hoàng Sa, các chiến sĩ, ngư dân, những người đã hiến thân vì Hoàng Sa thân yêu. Tổ quốc sẽ ghi nhớ công ơn họ…”.
Chuyến bay đêm của hãng hàng không Việt Nam Airline đưa chúng tôi dần xa TP.Đà Nẵng xinh đẹp. Từ khoang máy bay nhìn xuống, thành phố biển lấp lánh ánh đèn với cây cầu Rồng vươn mình kiêu hãnh. Xin chào, tạm biệt một tình yêu biển lớn lao và câu nói thật nhẹ nhàng, sâu lắng của ông Đặng Công Ngữ: “Xin cảm ơn đã giúp đỡ huyện! Nhớ là, sau khi xong loạt bài, tập hợp tất cả các bài báo gửi lại để chúng tôi có thêm một tư liệu nữa tuyên truyền về biển đảo nhé!...”.


Nỗi nhớ biển da diết


Khí phách người Việt Nam từ bao đời vẫn thế. Sinh ra trên dải đất hình chữ S, bên bờ sóng vỗ miên man, ngàn đời nay người Việt yêu biển, gắn liền với biển. Bởi thế, đã trót một lần đến, sống ở biển, khi xa người ta nhớ biển vô cùng…
Thành công vẫn quay về với biển
Chiều trên bến cảng Hàm Tử (TP.Quy Nhơn, Bình Định), chúng tôi bắt gặp hai ngư dân Trần Công Thế (42 tuổi) và Võ Văn Khương (40 tuổi) cùng ở xã Hoài Hương (Hoài Nhơn). Anh Trần Công Thế từng có 17 năm thâm niên đi biển. Ngày xưa, tàu của anh chỉ có công suất 45 CV. Tàu nhỏ nên ra ngư trường thường xuyên gặp rủi ro, đánh bắt không hiệu quả. Chính vì thế, sau một lần đi biển bị tàu nước ngoài cố tình gây chuyện, quấy phá, anh đã từng bỏ biển lên bờ làm kinh doanh. Công việc kinh doanh của gia đình anh Thế gặp nhiều thuận lợi nhưng nỗi nhớ biển da diết không bao giờ nguôi ngoai trong lòng. Anh tâm sự: “Đêm về nằm ngủ, chợp mắt một cái đã nghe mùi mặn nồng của biển, sự hào sảng và khí phách của anh em bạn tàu. Họ cũng gặp khó khăn như mình nhưng vẫn quyết tâm bám biển, giữ biển, mình lên bờ sao đành. Trăn trở mãi tôi quyết định dốc vốn đầu tư đóng tàu, đi biển trở lại…”.
Đồng lòng với người anh vợ, ngư dân Võ Văn Khương cũng quyết chí đóng tàu lớn vươn khơi xa, dù anh cũng đã bỏ tàu hơn 25 năm và có kế sinh nhai ổn định trên bờ. Cách đây 25 năm, tàu cá của anh với công suất 260 CV, gọi là có tiếng trong vùng nhưng ra khơi xa vẫn gặp nhiều khó khăn, dù có lần anh đã đóng tàu lớn hơn, công suất 380 CV nhưng vẫn làm ăn không hiệu quả.



Giờ thì hai anh em yêu biển, nhớ biển đã thỏa ước nguyện. Đầu năm 2014, cả hai quyết định dốc vốn, vay mượn thêm tiền ngân hàng để đóng 2 con tàu công suất lớn, tiếp tục vươn khơi. Trong năm 2014, tình hình biển Đông có những diễn biến phức tạp, nhiều tàu của ngư dân Việt Nam liên tục bị cản trở, quấy rối từ các tàu nước ngoài, nhưng hai anh vẫn cương quyết đóng tàu lớn ra ngư trường Hoàng Sa, Trường Sa khai thác hải sản. Anh Khương tâm sự: “Bao nhiêu tâm huyết ấp ủ bấy lâu, không lẽ giờ mình chùn bước trước những sự khiêu khích sai trái? Riêng tôi cho rằng, mỗi ngư dân là một cột mốc chủ quyền trên biển của đất nước. Chính vì thế, đóng tàu lớn, khai thác nhiều nguồn lợi từ biển cũng là một hành động yêu nước và góp phần giữ vững chủ quyền biển, đảo quốc gia…”.
Chuẩn bị đón những mùa vui
Theo thông tin mới nhất từ Phòng Kinh tế huyện Hoài Nhơn (Bình Định), sau hơn 4 tháng thi công, 2 con tàu vỏ gỗ của hai anh em Trần Công Thế và Võ Văn Khương đã hoàn thiện các công đoạn cuối để chuẩn bị xuất bến ra ngư trường Hoàng Sa, Trường Sa đánh bắt hải sản. Đây được xem là 2 con tàu mới, hiện đại, có công suất lớn nhất nhì Bình Định. Mỗi chiếc tàu cóchiều cao 3,5m, dài 22,7m vàrộng 6,7m, tải trọng 70 tấn, có 8 hầm chứa khối lượng 50 tấn cá... Trong đó, tàu cá mang số hiệu BĐ 97279 TS của anh Trần Công Thế có tổng công suất 1.200 CV, máy chính 730 CV, 2 máy phụ hơn 470 CV. Còn tàu cá BĐ 97268 TS của anh Võ Văn Khương có tổng công suất hơn 1.400 CV, trong đó máy chính là 1.020 CV, 2 máy phụ 400 CV.
Chúng tôi đứng trên cầu cảng Hàm Tử mải mê ngắm nhìn 2 con tàu của anh Trần Công Thế và Võ Văn Khương. Mùi nước sơn còn sực lên, từng thớ gỗ vỏ tàu bóng mượt, thơm phức. Tàu kiêu hãnh vươn mình đón từng con sóng biển, gió lộng làm tung bay lá cờ đỏ sao vàng trên nóc cabin. Rồi đây, 2 con tàu lớn sẽ đi biển, mỗi chuyến từ 1 tháng rưỡi đến 2 tháng tại ngư trường truyền thống trên biển Đông.
Không chỉ mạnh dạn bỏ vốn lớn đóng tàu lớn, hai anh em ngư dân này cũng đã học hỏi kỹ thuật, chuẩn bị rất kỹ cho việc vận hành con tàu. “Những năm gần đây, chúng tôi xin đi bạn cho các tàu cá có công suất từ 650 - 800 CV để học hỏi thêm kinh nghiệm trước khi quyết định đóng tàu lớn. Hiện nay, nhiều bạn theo tàu chúng tôi đều là những ngư dân có thâm niên từ 10 - 30 năm tham gia đánh bắt trên các tàu công suất lớn. Họ sẽ hỗ trợ chúng tôi trong quá trình đánh bắt dài ngày trên biển nên rất yên tâm…”, anh Thế nói và dẫn chúng tôi lên tận boong tàu để xem bộ lưới vây rút trị giá gần 1 tỷ đồng, loại lưới chuyên dùng đánh bắt xa bờ. Máy móc trang thiết bị trên tàu để dò cá, định vị đều cực kỳ hiện đại...
Sinh ra từ vùng biển, luôn yêu biển, anh Trần Công Thế và Võ Văn Khương đã biến tình yêu biển thành hành động cụ thể bằng việc đóng tàu lớn, vươn khơi xa. Chúng tôi chia tay hai ngư dân dám nghĩ, dám làm trong một ngày nắng đẹp trên cảng Hàm Tử. 2 con tàu lớn dần xa trong tầm mắt, chuẩn bị ra vươn khơi theo dấu biết bao con tàu của ngư dân Việt, mang về những mùa vui từ đại dương bao la.



Gió lộng… buồm căng ta ra khơi

Chúng tôi tìm đến cảng Hòn La (Quảng Bình) trong một ngày lộng gió. Một rừng cờ đỏ sao vàng đang tung bay trong gió trên nóc ca bin các con tàu đang đợi lệnh khởi hành ra khơi. Với hơn 5.700 tàu thuyền khai thác hải sản, Quảng Bình là một trong những địa phương có nhiều tàu vươn khơi, bám biển nhất miền Trung…

 Vũ khúc của biển
Ở Quảng Bình, phương tiện của ngư dân được phân bố ở các ngư trường đánh bắt rất đa dạng. Vùng ven bờ với độ sâu từ 20m trở vào là các phương tiện thủ công, thuyền công suất nhỏ chuyên hoạt động bằng các nghề ven bờ như xăm trủ, te giã ruốc, rê ba lớp, giã tôm, khai thác nhuyễn thể. Vùng lộng sâu từ 20 - 50m là ngư trường chính của tàu, thuyền gắn máy từ 20 - 40CV chuyên nghề mành ánh sáng, giã kéo tôm, mành rút, cá, câu mực. Ngư trường sâu từ 50m trở lên đòi hỏi tàu, thuyền trang bị máy từ trên 45CV, chịu được sóng, gió cấp 5, cấp 6 để làm nghề lưới vây, rê khơi, giã kéo cá, câu và chụp mực. Riêng ngư trường ở độ sâu hơn 100m, tàu đánh bắt phải có công suất từ 90CV trở lên, chịu được sóng gió cấp 6, cấp 7 và đánh bắt dài ngày trên biển bằng các nghề vây, chụp mực, câu khơi...
Theo thống kê của Chi cục Khai thác và Bảo vệ nguồn lợi thủy sản Quảng Bình, toàn tỉnh có 3.700 tàu, thuyền có công suất dưới 45CV, trong đó gần 3.300 phương tiện công suất dưới 20CV. Để thấy hết sự phong phú của tàu bè đi biển của Quảng Bình, chúng tôi được cung cấp một con số thống kê những số liệu biết nói. Riêng xã bãi ngang Hải Ninh, huyện Quảng Ninh có 572 chiếc thuyền công suất dưới 20CV, làm các nghề te đẩy, kéo lưới tôm, giã cào... ở vùng ven bờ.

Từ năm 2006 đến nay, tỉnh Quảng Bình thực hiện nhiều mô hình chuyển đổi nghề khai thác vừa đạt hiệu quả kinh tế, vừa thân thiện với môi trường theo hướng vươn khơi. Năm 2010, Trung tâm Khuyến nông - Khuyến ngư Quảng Bình đã thực hiện mô hình khai thác cá dưa bằng lưới rê tại 2 xã Bảo Ninh, thành phố Ðồng Hới và Quảng Xuân, huyện Quảng Trạch mang lại hiệu quả kinh tế cao. Để khai thác hiệu quả với loại hình này, tàu khai thác phải được thiết kế với công suất từ 45CV trở lên, hoạt động tốt ở độ sâu từ 50m nước, chịu được gió cấp 6, cấp 7. Trên tàu cũng phải được trang bị đầy đủ các thiết bị hỗ trợ thông tin liên lạc và cứu trợ, cứu nạn. Việc ra khơi khai thác thực hiện theo hình thức tổ, đội đoàn kết để hỗ trợ nhau trong quá trình tìm kiếm ngư trường và đánh bắt trên biển. Ông Hoàng Vang, một ngư dân ở xã Bảo Ninh, cho biết: “Nghề lưới rê rất thuận tiện, có hiệu quả kinh tế cao. Sản phẩm khai thác ngoài cá dưa còn có các loài hải sản khác mang giá trị kinh tế cao như cá mú, cá thu, mực...”. Từ 7 tàu đánh bắt làm mô hình “điểm”, hiện nay đã có hơn 50 tàu trong tỉnh Quảng Bình chuyên nghề lưới rê khai thác cá dưa.
Chúng tôi đến cảng Nhật Lệ, một cảng biển nổi tiếng và không kém phần hào hùng trong chiến tranh để tiếp tục chứng kiến những vũ khúc rộn ràng của biển. Hàng trăm tàu đang neo đậu trong âu cảng đợi lấy “tổn” chuẩn bị vươn khơi, đánh bắt cá xa bờ. Sóng nước trong xanh, những khuôn mặt cười rạng rỡ của ngư dân toát lên một vẻ lạc quan trước chuyến đi biển xa.
Đổi mới công nghệ đánh bắt
Theo ngư dân Nguyễn Văn Cẩn, những năm trước, anh và các bạn tàu thường đánh bắt gần bờ. Tàu nhỏ, mỗi khi vươn khơi, chứng kiến tàu lớn của nước khác đến khai thác trong ngư trường của Việt Nam, ai cũng “ấm ức”. Chính vì thế năm 2013, anh rủ thêm nhiều bạn tàu đổi mới công nghệ đánh bắt, lấy nghề lưới rê để đánh bắt cá ở ngư trường lớn. Nghề này dễ làm và ngay cả trong tuần trăng sáng vẫn ra khơi đánh bắt bình thường. Anh Cẩn cho biết: “Lúc thuyền di chuyển đến ngư trường, tôi chỉ cần thả lưới trôi theo dòng nước. Cá vướng vào, nhảy lên sẽ mắc vào lưới bùng nhùng. Sau khoảng 8 giờ đồng hồ thì kéo lưới, thu cá đưa vào hầm bảo quản…”. Với cách làm như vậy, sau 7 chuyến ra khơi, tàu của anh Cẩn đã thu được hơn 6 tấn cá dưa, cá mú và mực, doanh thu gần 400 triệu đồng. Sau khi trừ các chi phí, tàu của anh có thu nhập 218 triệu đồng, bình quân mỗi ngư dân được trả lương hơn 5 triệu đồng...
Xã vùng biển nổi tiếng tỉnh Quảng Bình là Cảnh Dương hiện có 50/334 tàu, thuyền đánh bắt gần bờ, trong đó có 17 tàu làm nghề khai thác ghẹ, ốc hương bằng lồng bẫy cũ nên hiệu quả không cao. Tháng 6-2010, Trung tâm Khuyến nông - Khuyến ngư Quảng Bình đã hướng dẫn và hỗ trợ ngư dân thực hiện mô hình khai thác hải sản bằng lồng bẫy cải tiến. Với quy mô 880 lồng/4 tàu, ngư dân Cảnh Dương thực hiện được 32 chuyến đi biển, bắt được 483kg ốc hương, 1.245kg ghẹ, lãi 160 triệu đồng. Bình quân mỗi chuyến đi biển 4 ngày, ngư dân thu được 10 - 12 triệu đồng/ tàu…
Theo Chủ tịch Hội Ngư dân xã Cảnh Dương Ðồng Thanh Ðắng, lồng bẫy mới có diện tích lớn hơn lồng cũ. Cua, ốc hương bắt mùi thức ăn di chuyển vào trong lồng, chìm dưới đáy biển nên không ra được. Cách làm mới này mang lại hiệu quả cao cho ngư dân. “Gần như toàn bộ số tàu, thuyền khai thác gần bờ ở Cảnh Dương chuyển sang làm nghề khai thác hải sản bằng lồng bẫy cải tiến”, ông Đắng nói.
Cùng với việc đầu tư nâng cấp và đóng mới tàu có công suất lớn để vươn khơi, giảm mật độ tàu, thuyền đánh bắt tại cùng một ngư trường, sự chuyển đổi nghề và cơ cấu lại phương tiện khai thác ven bờ cho ngư dân theo hướng thân thiện với môi trường là hướng đi hợp lý để phát triển bền vững nghề khai thác hải sản ở Quảng Bình. Có tàu, có công nghệ đánh bắt hiện đại, hàng ngày, hàng ngàn con tàu của Quảng Bình đạp sóng vươn xa ra các ngư trường lớn, đánh bắt ắp đầy cá tôm... Tinh thần vươn khơi, bám biển của ngư dân Quảng Bình nói riêng, ngư dân Việt Nam nói chung chưa bao giờ nguội lạnh. Bao đời nay vẫn thế!

 KHÁNH VINH - KIẾN GIANG

Read more…

TỔ QUỐC BÊN BỜ SÓNG (KỲ 12) - Ký sự của Khánh Vinh & Kiến Giang

 

Có một đội quân tóc dài ven biển


Chúng tôi về với đội nữ pháo binh Ngư Thủy trong một chiều nắng vàng rực vùng quê lúa. Những hạt lúa vàng ươm trĩu nặng trong nắng gió… Quê hương ta ôi bình dị và đẹp quá! Cũng tại vùng đất đầy đau thương lẫn hào hùng này, Đại đội nữ pháo binh Ngư Thủy anh hùng (Quảng Bình) đã sống và chiến đấu một thời máu lửa…

    Đại đội nữ pháo binh Ngư Thủy hôm nay tóc ai cũng vẫn dài nhưng đã lốm đốm muối tiêu

    Những ngày hào hùng 
    Đại đội trưởng Đại đội nữ pháo binh Ngư Thủy anh hùng - bà Ngô Thị Kim The cho biết, đại đội được thành lập ngày 20-11-1967 với 37 thành viên, toàn là nữ. Suốt quá trình hoạt động, số lượng của đơn vị lên đến 91 thành viên. Đại đội lúc mới thành lập có 37 đồng chí, được phiên thành 3 trung đội: 1 trung đội chỉ huy (một đài chính và một đài giao hội) và 2 trung đội trận địa, 1 tiểu đội trinh sát, 1 tiểu đội thông tin, 1 đài chỉ huy, 1 đài giao hội và một tiểu đội hậu cần. Trong suốt 10 năm chiến đấu (21-11-1967 đến 16-12-1976), đơn vị đã nhiều lần được bổ sung, vì thế quân số của toàn đại đội lên tới 91 người. 
    Trong quá trình hoạt động, Đại đội nữ pháo binh Ngư Thủy đánh tổng cộng 8 trận (4 trận năm 1968 và 4 trận năm 1972). Đơn vị đã được công nhận 5 lần bắn cháy và chìm tàu chiến Mỹ bằng pháo mặt đất 85 ly để bảo vệ vùng biển đầu giới tuyến Quảng Bình. Bởi thế nên mới có câu thơ về đại đội: “Đêm trận địa tiếng pháo gầm bãi biển/ Đuổi giặc thù nghe rõ tiếng chân em”. Đây là một thành tích rất đáng vinh dự tự hào và ngày 25-8-1970, nhân dịp kỷ niệm lần thứ 25 Quốc khánh, Đại đội nữ pháo binh Ngư Thủy đã được Đảng, Nhà nước tuyên dương đơn vị Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân. Đây là đơn vị dân quân thứ hai của huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình vinh dự trở thành Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân. 
    Tiếp đón chúng tôi, ông Ngô Gia, Chủ tịch UBND xã Ngư Thủy, huyện Lệ Thủy, Quảng Bình xúc động: “Mặc dù phải chiến đấu, chịu mọi nguy hiểm, khó khăn vất vả nhưng các chị vẫn kiên cường bám cao điểm đánh giặc. Năm 1977, sau khi hoàn thành nhiệm vụ, các cô gái ở tuổi từ 18 đến 22, sau 10 năm, lại trở về làm chị, làm mẹ giữa thời bình. Đại đội nữ pháo binh Ngư Thủy nức tiếng xa gần trở về với thiên chức thiêng liêng…”. 
    Thầm lặng đời thường 
    Tiếp chúng tôi trong căn nhà hai tầng khang trang là đôi vợ chồng cựu pháo binh Ngư Thủy, nay đã bước sang tuổi xế chiều. Nụ cười luôn thường trực trên môi, ông bà kể cho chúng tôi nghe về những năm tháng gian khổ nhưng đẹp và ý nghĩa nhất cuộc đời mình. 
    Chính mảnh đất đầy khói lửa ấy đã se duyên cho mối tình của cô gái Ngư Thủy và chàng trai Quảng Trạch để họ có thêm niềm tin, động lực đương đầu với những tàn khốc của cuộc chiến. Thời thanh xuân, người con gái Ngư Thủy vốn xinh đẹp, hiền dịu, nết na có tiếng trong làng. Chính vì thế, nữ pháo binh Trần Thị Thanh Thản được không ít chàng trai “trồng cây si”. Thế nhưng duyên số lại đưa đẩy bà gặp và yêu ông Nguyễn Hữu Đạt từ lúc nào không hay. Bà kể, hồi đầu mới gặp ông, bà chẳng mấy ấn tượng bởi ông “lầm lì, ít nói”. Nhưng tiếp xúc nhiều mới biết ở chàng pháo binh kiệm lời ấy là cả một trái tim nồng ấm và bao la vô nhường. Những ngày cùng huấn luyện, bà được nghe kể nhiều về hoàn cảnh của ông Nguyễn Hữu Đạt. Lúc cha mẹ ông bị vùi dưới lớp bom đạn trong căn nhà bị cháy chỉ còn trơ cột sau trận càn của địch, cũng là lúc ông đang xông pha ngoài chiến trường. Nỗi đau đã biến lòng căm thù trong chàng pháo binh thành ý chí, quyết tâm không thể khuất phục. Ở đơn vị, ông nổi tiếng là một chiến sĩ gan dạ, dũng cảm, luôn hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao. 
    Có lẽ vì thương cho những mất mát quá lớn và cảm cái sự hiền lành mà gan lì, dũng cảm của chàng pháo binh Nguyễn Hữu Đạt nên bà Thản mới bắt đầu “để ý” đến. Và chính những ngày gắn bó khi cùng huấn luyện pháo đã “đẩy” hai người xích lại gần nhau, rồi tình yêu nảy nở trong cảm giác ngỡ ngàng của chính hai người. Trong mưa bom lửa đạn và những kỷ luật nghiêm khắc của quân đội, tình yêu của họ vẫn nảy nở đẹp như “hoa xương rồng” trên cát. Hòa bình trở lại, theo dấu chân từng đoàn quân chiến thắng trở về Bắc, chàng pháo binh Nguyễn Hữu Đạt hạnh ngộ vợ con trong niềm vui khôn xiết. Giờ thì đứa con nhỏ ngày nào sinh ra trong mưa bom, bão đạn đã là chàng thanh niên khôi ngô, tuấn tú. Và, đôi vợ chồng se duyên trong khói lửa vẫn ngày ngày sống giản dị giữa vùng quê trĩu lúa… Câu chuyện về nữ pháo binh Ngư Thủy Trần Thị Thanh Thản với anh Nguyễn Hữu Đạt chỉ là một trong rất nhiều câu chuyện ly kỳ về các thành viên của Đội nữ pháo binh Ngư Thủy. Hòa bình lập lại, đội quân tóc dài Ngư Thủy tiếp tục trở lại với thiên chức làm mẹ, làm vợ và tăng gia sản xuất xây dựng xã hội chủ nghĩa. 
    Chúng tôi, trong hành trình thực hiện loạt bài “Tổ quốc bên bờ sóng”, đã may mắn có dịp về thăm các chị, các mẹ bên bờ sóng xã Ngư Thủy. Nơi đây hằn in bao chiến công của họ lẫn cả xác quân thù trên biển cả. Biển mặn ghi dấu ngàn năm những chiến công lẫy lừng của Đại đội nữ pháo binh Ngư Thủy là thế…
    Ngày 20-11-1967, Ban Chấp hành Tỉnh đội Quảng Bình quyết định thành lập Đại đội pháo nữ dân quân Ngư Thủy gồm 37 chiến sĩ tuổi từ 16 - 22. Để đánh địch có hiệu quả, đại đội đã xây dựng trận địa cơ động dọc theo 22km bờ biển của xã. Trận địa Trong Chuối (nay thuộc xã Hải Thủy) là một trong những địa điểm đại đội lập được nhiều chiến công bắn cháy tàu chiến Mỹ.
    Ngày 7-2-1968, chưa đầy 3 tháng sau ngày thành lập, Đại đội pháo nữ dân quân Ngư Thủy đã dùng pháo 85 ly bắn cháy khu trục hạm số 013 của đế quốc Mỹ. Ngày 27-3-1968, đại đội lại bắn cháy tàu khu trục hạm số 719. Ngày 16-5- 1968, các nữ pháo binh tiếp tục bắn cháy khu trục hạm số 742… Chỉ trong vòng 100 ngày kể từ khi mới thành lập, đơn vị đã anh dũng bắn cháy 3 tàu khu trục hạm của hải quân Mỹ, góp phần bảo vệ vùng biển thân yêu của Tổ quốc. Với thành tích đó, ngày 25-8- 1970, đại đội được Quốc hội và Chính phủ tuyên dương đơn vị Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân. Trong 2 ngày 5-5 và 6-9-1972, đại đội đã nổ súng bắn cháy 2 tàu chiến Mỹ được Bộ Tư lệnh Pháo binh gửi điện khen ngợi…



     “Vua” cá ngừ đại dương Năm Rỵ


    Ở tuổi 64, lão ngư Trần Kim Hoa (tức Năm Rỵ) không còn trực tiếp đánh bắt cá ngừ đại dương nữa. Tuy nhiên, trong lòng nhiều người gắn bó với nghề khai thác nguồn lợi từ biển này, ông vẫn là “vua” cá ngừ, vì có công tìm ra một hướng đi mới cho hàng ngàn ngư dân bám biển…


      Ngư dân bám biển để khai thác cá ngừ đại dương đã góp phần bảo vệ chủ quyền vùng biển của Tổ quốc Ảnh: KHÁNH VINH

      Từ cá mập đến cá ngừ đại dương
      Chúng tôi tìm đến nhà ông Năm Rỵ ở phường 6, TP.Tuy Hòa (Phú Yên). Không còn cưỡi sóng, đạp gió ra khơi nhưng ngày ngày ông vẫn ở nhà theo dõi tọa độ, ngư trường qua bản đồ và chỉ huy 3 con tàu do các con làm thuyền trưởng. Năm Rỵ là một biệt danh trìu mến mà nhiều người trong nghề đặt cho ông vì cảm phục cái tính lì lợm, kiên gan bám biển của ông.
      Ông kể, lúc 15 - 16 tuổi, ông đã ra biển, nối nghiệp cha làm nghề câu cá mập. Con cá mập nặng cả trăm kg, chỉ cần một sơ sót nhỏ thôi cũng có thể bị những chiếc răng sắc nhọn của nó ngoạm đứt tay, đứt chân như chơi. Chính vì thế, nghề câu cá mập dạy cho ông tính gan lì, cẩn thận vốn rất cần thiết cho một người dân đi biển. Cũng từ sự kiên gan ấy, ông cảm thấy rất bất bình khi tàu lớn của nước khác tìm đến vùng biển của Việt Nam để đánh bắt cá. Ông cho biết: “Hồi ấy tàu của mình còn nhỏ, không ra được xa bờ nên thấy tàu của nước ngoài tìm đến tận vùng biển của mình để bắt cá, tui ức lắm, vì biết vùng biển chủ quyền của mình còn xa nữa, nhưng tàu nhỏ không làm gì được…”. Cũng chính vì vậy mà ông đã tìm ra một nghề đánh bắt thủy sản mới ở biển khơi: Câu cá ngừ đại dương.
       
      Ông Năm Rỵ đón chuyến câu cá 
      ngừ đại dương trở về. Ảnh: KHÁNH VINH
       Đó là vào năm 1992, khi thấy hai tàu lạ của nước ngoài vào tận vùng biển thuộc chủ quyền của ta đánh bắt, ông đặt dấu hỏi: Họ đến tận biển của mình để làm gì? Băn khoăn, ông bí mật tìm hiểu, nghiên cứu vài lưỡi câu và rẻo câu của tàu lạ. Lạ ở chỗ, lưỡi câu không phải loại dùng để câu cá mập. Ông mắc vào thử chung với dàn lưỡi câu của mình. Chuyến đi biển ấy, thuyền ông bội thu cá mập, đáng chú ý, từ lưỡi câu nước ngoài lại dính một con cá ngừ đại dương.
      “Tui mang con cá ngừ đại dương về, vợ tui xỉa xói quá trời. Vì lúc đó con cá ngừ đại dương không ai ăn, độ 6.000 - 8.000/kg, chỉ nấu cho heo!”, ông ngậm ngùi nhớ lại. Nhưng cũng từ chuyến đi biển này, Công ty Thủy sản Bình Định nghe tin ông Năm Rỵ săn được cá ngừ đại dương vội vàng cho người vào tận nơi thu mua. Rồi bỗng dưng, loại cá này có giá. Ông nhờ người thân đặt mua thêm lưỡi câu, dụng cụ câu từ Đài Loan rồi về hướng dẫn các tàu khác cùng đi câu cá ngừ đại dương với mình. Đó là năm 1994, nghề câu cá ngừ đại dương Việt Nam ra đời từ đó.
      Trăn trở với biển khơi
      Trong ngành thủy sản, Phú Yên là tỉnh đầu tiên có nghề câu cá ngừ đại dương. Còn người Phú Yên lại xem ông Năm Rỵ là “ông tổ” của nghề này. Hiện nay, 3 tỉnh Bình Định, Phú Yên, Khánh Hòa đã có tổng cộng hơn 1.000 tàu đánh bắt xa bờ, chủ yếu là câu cá ngừ đại dương. Bởi cá ngừ đại dương giờ có giá 70.000 - 80.000 mỗi kg nên nghề này không chỉ trở thành nghề chính để ngư dân khai thác nguồn lợi từ biển cả mà còn trở thành động lực lớn để ngư dân miền Trung vươn khơi, bám biển góp phần giữ vững chủ quyền biển đảo đất nước.
      Đưa chúng tôi ra cảng cá, ông Năm Rỵ đứng trên một mũi tàu lớn cười sảng khoái: “Ai đâu ngờ mình lại phát hiện ra một nghề khai thác mới cho hàng ngàn người. Trong 10 năm qua, con cá ngừ đại dương đem lại thu nhập hàng ngàn tỷ đồng cho ngư dân…”. Riêng với bản thân, nghề câu cá ngừ đại dương biến ông từ một lão ngư nghèo đã trở thành một tỷ phú. Hiện ông có trong tay 3 tàu cá trị giá hơn 4 tỷ đồng và một cơ ngơi đáng mơ ước.
      Tuy kiếm được bộn tiền từ nghề câu cá ngừ đại dương và chia đều các tàu cá cho các con trai tiếp tục vươn khơi làm nghề nhưng trong lòng ông “vua” cá ngừ Năm Rỵ vẫn còn nhiều trăn trở. Ông cho biết, chiếc tàu lớn nhất của ông hiện nay cũng chỉ ở mức 370 CV. Đây là một trở ngại lớn đối với những ngư dân như ông. Chính vì thế, ông chỉ ước ao sau này các con và bạn tàu có đủ vốn để đóng những chiếc tàu lớn hơn, thậm chí là tàu vỏ sắt theo chương trình hỗ trợ của Chính phủ hay tàu composite do những người bạn Nhật hỗ trợ.
      Anh Trần Kim Chẩn, con trai út của ông Năm Rỵ cho biết: “Nhiều lần trên biển cả, đương đầu với tàu lớn của nước ngoài rất bực mình vì các hành động khiêu khích, đâm va nhưng phải ngậm ngùi rút dây câu, thu lưới bỏ đi nơi khác. Nếu có tàu to hơn, chắc chắn tình thế sẽ khác…”. Trong số 30 tàu của đội tàu tình nguyện vừa đánh bắt vừa bảo vệ chủ quyền biển đảo của Phú Yên, có 2 tàu của nhà ông Năm Rỵ do các con ông làm thuyền trưởng.
      Chia tay Năm Rỵ, ông “vua” cá ngừ đại dương, chúng tôi không khỏi cảm phục trước sự sáng tạo, tinh thần vươn ra biển lớn của ngư dân Việt Nam. Ông Võ Thiên Lăng, Phó Chủ tịch Hiệp hội Nghề cá Việt Nam, cho biết: “Cá ngừ đại dương chỉ có ở vùng biển xa nên nếu được tổ chức tốt, chính ngư dân câu cá ngừ đại dương sẽ góp phần quan trọng rào việc bảo vệ chủ quyền biển đảo của Tổ quốc. Tôi đánh giá rất cao sự tìm tòi để phát triển nghề này của ông Năm Rỵ. Ông ấy đáng được vinh danh…”.



       Thọ Quang rộn ràng sóng vỗ


      “Muốn hiểu thêm về tinh thần vươn khơi bám biển của ngư dân miền Trung, mời bạn cứ ra âu thuyền Thọ Quang…”. Chúng tôi nghe theo lời giới thiệu của một đồng nghiệp Báo Thanh Niên tìm đến Thọ Quang, một âu thuyền thuộc loại lớn nhất miền Trung, cũng là vựa hải sản rất phong phú…


         Tàu cá đang neo đậu ở âu thuyền Thọ Quang chờ ngày ra khơi

        Nơi những con tàu vươn khơi
        Giữa trưa nắng chang chang, bán đảo Sơn Trà vạm vỡ đứng hiên ngang bên vịnh Đà Nẵng. Đi qua cầu Rồng, thêm một đoạn dài qua các dãy phố thênh thang, xanh, sạch của Sơn Trà, chúng tôi đến âu thuyền Thọ Quang (quận Thanh Khê, TP.Đà Nẵng). Âu thuyền chen chúc người trên bến, dưới thuyền khiến cho chúng tôi quên đi cảm giác oi bức của cái nắng trưa hè. Những con tàu san sát cập bờ cảng Thọ Quang đang đợi bốc dỡ hải sản sau một chuyến đi biển đầy ắp cá tôm. Thọ Quang không chỉ là âu tàu an toàn tránh bão, mà còn là một trong những chợ hải sản lớn nhất miền Trung.
        Ông Phạm Bá Hùng, Phó Trưởng ban Quản lý âu thuyền Thọ Quang cho biết: “Trong những ngày qua, lượng tàu thuyền của ngư dân miền Trung cập cảng cá Thọ Quang khá lớn, có ngày hơn 70 tàu cập bến. Phần lớn là tàu cá của ngư dân Đà Nẵng, Quảng Bình, Quảng Ngãi, Bình Định, Thừa Thiên - Huế... Theo thiết kế, âu thuyền Thọ Quang có thể tiếp nhận khoảng 1.200 tàu có công suất 30 CV trở lên cùng một thời điểm. Tuy nhiên, từ năm 2012 đến nay, âu thuyền luôn là điểm cập bến quen thuộc của tàu thuyền đánh bắt cá gần bờ, xa bờ và nhất là tàu thuyền khai thác hải sản ở ngư trường Hoàng Sa, Trường Sa trở về. Có lúc, số lượng tàu cập âu thuyền Thọ Quang lên đến 1.600 chiếc, nhộn nhịp vô cùng.
        Chúng tôi bắt gặp anh Nguyễn Quang Hiển, một chủ tàu đánh bắt cá xa bờ vừa cập cảng Thọ Quang. Anh cho biết, chuyến đi biển vừa rồi thuyền có 8 thuyền viên, đi suốt 13 ngày mới về. Sau khi trừ các chi phí, mỗi người thu được từ 5 - 10 triệu đồng. Đây là một thu nhập không nhỏ đối với người ngư dân bám biển. Chính vì thế, từ giờ đến cuối năm, tàu của anh tiếp tục ra khơi.

         Ngư dân sửa lưới trước khi rời âu thuyền Thọ Quang đánh bắt xa bờ

        Và những trái tim giữ biển
        Ngư dân trẻ Trần Văn Mười mời chúng tôi lên tận cabin tàu câu mực của mình, chỉ từng vết nứt trên mạn tàu. Anh kể, trong chuyến câu mực vừa rồi, dù bị nhiều tàu nước khác vây, gây khó dễ nhưng tàu vẫn cương quyết bám lấy ngư trường Hoàng Sa, Trường Sa, tiếp tục khai thác trên vùng biển của mình. Dẫu thế, nhiều tàu vỏ sắt của các thế lực nước ngoài vẫn hay quấy nhiễu, nhiều lần đâm vào mạn tàu của anh để cản trở việc đánh bắt hợp pháp. Vậy nhưng anh rất tự tin: “Tàu của tôi thuộc loại lớn nhất ở đây. Có bị quấy nhiều, tôi cũng phải khai thác đầy tàu rồi mới về. Rời âu thuyền Thọ Quang đi đúng 2 tháng, tàu của tôi về mang đầy ắp mực xà, thu lợi hơn 2 tỷ đồng…”.
        Âu tàu Thọ Quang nằm thoai thoải bên giữa biển và những vách núi sừng sững của bán đảo Sơn Trà. Cũng từ đây, hàng ngàn lượt tàu ra, về. Họ về Thọ Quang lấy “tổn” rồi hiên ngang đạp sóng, cưỡi gió, vươn ra biển lớn bất chấp những khó khăn, thậm chí là nguy hiểm rình rập ở khơi xa. Chúng tôi lặng người bên tàu QNg 97093 TS khi bắt gặp cảnh 4 - 5 ngư dân đang ngồi vá lại những mảnh lưới bị rách bươm sau lần đi biển đầy bất trắc. Ngư dân trẻ Trần Văn Bạn cho biết: “Có lần bọn tôi thả lưới vây xong, đang chuẩn bị kéo thì tàu nước ngoài cố tình đi băng qua làm đứt lưới. Bất bình nhưng chúng tôi vẫn kiên gan gia cố tạm rồi kéo lưới. Giữa biển cả mênh mông, mình là tàu gỗ công suất nhỏ nên vừa bám biển bằng sự gan góc, vừa phải tỉnh táo để làm việc của mình…”.
        Đứng trên mạn tàu QNg 97093, bên những tiếng nói cười rộn rã, hồn nhiên của những anh ngư dân vá lưới, chúng tôi thầm nghĩ về những vết nứt trên tàu câu mực của anh Trần Văn Mười. Giữa biển khơi, họ kiên gan bám biển, giữ vững ngư trường trước bao khó khăn, thách thức của cả thiên tai và “nhân tai”. Nếu nói vì miếng cơm manh áo thôi cũng không đúng. Đó còn là truyền thống, là sự bền bỉ, kiên định của ngư dân Việt trên ngư trường của cha ông bao đời để lại.
        Chúng tôi rời âu thuyền Thọ Quang khi hàng chục chiếc tàu công suất lớn đang khẩn trương lấy “tổn” để chuẩn bị cho chuyến ra khơi mới. Âu thuyền ngày ngày vẫn rộn ràng sóng vỗ, đưa tiễn những con tàu bám biển, ra khơi đầy khí thế để mang nhưng sản vật của đại dương trở về. Theo thống kê từ Ban quản lý âu thuyền và cảng cá Thọ Quang, năm 2013 sản lượng tàu cá cập cảng khoảng 17.800 chiếc với hơn 77.300 tấn hải sản các loại. Hiện nay, cảng cá Thọ Quang chưa trang bị được cân điện tử nên số lượng chỉ tính trên cơ sở ước lượng sản lượng mỗi tàu. Cảng cá Thọ Quang đang phấn đấu để lên cảng loại 1 và trở thành chợ đầu mối lớn nhất phục vụ ngư dân khu vực miền Trung.
        Thọ Quang một ngày biển lộng, đầy nắng. Những con thuyền đang neo đậu chỉnh tề trong âu thuyền đợi ngày vươn mình trên biển. Cờ đỏ sao vàng tung bay phấp phới trên đỉnh những cabin tàu tựa như một vũ điệu lấp lánh màu sắc dưới nắng vàng trên bán đảo Sơn Trà. Ngày ngày, biển vẫn dang tay ôm vào lòng những con tàu ra đi từ Thọ Quang, mang theo hàng ngàn trái tim giữ biển, giữ vững chủ quyền đất nước.

         Kỳ 13: Tình yêu biển lớn

         KHÁNH VINH - KIẾN GIANG
          

        Read more…

        CÁCH NHẬP COMMENT TRÊN HƯƠNG QUÊ NHÀ

        Đầu tiên, nhấp chuột vào ô Nhập nhận xét của bạn rồi viết comment. Viết xong, nhấp chuột vào ô Tài khoản Google. Sau đó nhấp chuột vào Tên/URL thì sẽ hiện ra 2 ô. Ô phía trên, ghi Họ và tên của bạn. Ô phía dưới, ghi dòng chữ:huongquenha.com

        Cuối cùng, nhấp chuột vào ô Tiếp tục và nhấp chuột tiếp vào ô Xuất bản là xong. (Nếu bạn đã có sẵn Tài khoản Google, thì sau khi viết comment, chỉ cần nhấp chuột vào ô Xuất bản là thành công)

        Số lượt xem tháng trước


        -------------------------------------------------------------------------


        TÁC GIẢ & TÁC PHẨM
        * TÁC GIẢ & TÁC PHẨM * TÁC GIẢ & TÁC PHẨM * TÁC GIẢ & TÁC PHẨM * TÁC GIẢ & TÁC PHẨM---------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------
        Ái Nhân (21) Ambrose Bierce (1) ẢNH (58) Anh Ngọc (1) Anh Nguyên (1) Anh Phong (4) Anh Phương (9) âm nhạc (2) âm thanh (1) Ân Thiên (1) Bạch Diệp (5) Bách Mỵ (2) BÀN TRÒN VĂN NGHỆ (87) Bảo Hồ (1) Bảo Lâm (1) Bảo Ninh (2) Bé Hải Dân (1) Bích Ái (3) Bích Lê (4) Bích Ngọc (1) Bích Vân (2) Bình Địa Mộc (3) Bình Nguyên (1) Bình Nguyên Trang (2) binh pháp (1) Bình Tâm (1) Bobby Nam Giang (3) Bùi Anh Sắc (1) Bùi Công Thuấn (1) Bùi Danh Hải Phong (1) Bùi Đức Ánh (66) Bùi Hoài Vân (5) Bùi Huyền Tương (2) Bùi Hữu Phước (1) Bùi Nguyên Bằng (25) Bùi Nhựa (4) Bùi Văn Bồng (5) Bùi Việt Thắng (2) BÚT KÝ (17) Ca Dao (2) Cao Duy Thảo (1) Cao Kim Quy (1) Cao Thị Thu Hà (3) Cao Thọ Thêm (2) Cao Thoại Châu (1) Cao Thu Hà (1) Cao Trọng Quế (1) Cao Văn Tam (5) Cát Du (7) Catherine Mansfield (1) Cẩm Lệ (4) Cẩm Tú Cầu (1) Chàng Cát (1) Chánh Đức (1) CHÀO XUÂN 2014 (1) CHÂN DUNG VĂN NGHỆ SĨ (2) Châu Đoàn (1) Châu Quang Phước (1) Châu Thạch (9) Châu Thường Vinh (1) Chí Anh (1) Chính Đức (1) chủ (1) CHỦ BIÊN (141) Chu Giang Phong (1) Chu Lai (2) Chu Ngạn Thư (10) Chu Trầm Nguyên Minh (16) Chu Vương Miện (1) Chúa Sơn Lâm (1) Cỏ Dại (7) covid 19 (1) Công Nguyễn (1) Cơ Xương (1) Cúc Dương (1) Cuộc thi văn chương (1) CỬA SỔ VĂN HÓA (6) Dạ Ngân (1) Dã Phong Bình (2) Dã Phương (1) Dạ Thảo (2) Dạ Thy (1) Diệp Linh (18) Diệp Uy (1) Dino Buzzati (3) DỌC ĐƯỜNG (29) Du Tử Lê (1) Dung Thị Vân (28) Duy Bằng (1) Duy Phạm (6) Dương Diệu Minh (1) Dương Đăng Huệ (1) Dương Hải Yến (2) Dương Hằng (7) Dương Kim Nhi (4) Dương Kim Thoa (1) Dương Phương Vinh (1) Dương Thành Thái (3) Dương Thị Yến Trinh (2) Dương Xuân Triều (6) Dzạ Lữ Kiều (6) Đàm Lan (17) Đan Ngọc (2) đạo đức (2) Đào Hiền (2) Đào Hữu Thức (2) Đào Khương (2) Đào Minh Hiệp (2) Đào Phạm Thuỳ Trang (82) Đào Quang Bắc (1) Đào Quý Thạnh (1) Đào Thanh Hoà (14) Đào Thị Quý Thanh (1) Đào Thị Thu Hiền (3) Đào Văn Đạt (31) Đào Viết Bửu (7) Đặng Châu Long (1) Đặng Diệu Thoa (1) Đăng Đăng (1) Đăng Huỳnh (1) Đặng Quốc Khánh (8) Đặng Quý Địch (3) Đặng Tấn Tới (2) Đặng Thị Hoa (2) Đặng Thị Xuân (1) Đặng Toán (1) Đăng Trình (1) Đặng Tường Vy (3) Đặng Văn Sử (1) Đặng Việt Trinh (1) Đặng Xuân Xuyến (9) ĐIỂM BÁO (2) Điêu Thuyền (1) Đinh Lốc (2) Đình Thậm (1) Đinh Vương Khanh (4) Đoàn Khương Duy (1) Đoàn Thị Minh Hiệp (4) Đoàn Tình (1) Đoàn Tuyết Thu (1) Đoản văn (1) ĐỌC SÁCH (30) Đỗ Chiến Thắng (6) Đỗ Duy Hoàng (15) Đỗ Hồng Ngọc (5) Đỗ KIm Dung (1) Đỗ Phu (1) Đỗ Quyên (2) Đỗ Tâm Linh (1) Đỗ Tấn Đạt (2) Đỗ Thị Kim Hải (2) Đỗ Trúc Hàn (1) Đỗ Văn Tiến (1) Đỗ Xuân Phương (1) Đức Linh (1) Đức Tiên (3) Elena Pucillo Truong (6) gan jing world (1) Ghi chép (2) Giang Đình (8) Giang Hiền Sơn (6) Giáo dục (1) Guy de Maupassant (1) Hà Đoàn (2) Hạ Ly (1) Hà Nguyên (2) Hà Nhi (1) Hà Nhữ Uyên (2) Hà Phi Phượng (1) Hạ Thi (3) Hà Thị Thu Hằng (1) Hà Tùng Sơn (1) Hải Điểu (1) Hải Miên (3) Hải Phong (2) Hải Thăng (1) Hải Thuỵ (6) Hải Yến (2) Hàm Sơn (1) Hàn Dã Thảo (2) Hàn Du Tử (17) Hàn Hữu Yên (1) Hàn Lâm (1) Hãn Nguyên Nguyễn Nhã (1) Hàn Nguyệt (1) Hàn Phong Vũ (19) Hàn Tín (1) Hạng Vũ (1) Hậu Cốc Ngang (1) Hậu Đậu (1) Hiếu Dũng (1) Hoa Hướng Dương (1) Hoa Mai (2) Hoa Tím Buồn (4) Hoa Tuyết (2) Hoà Văn (10) Hoa Xuyến Chi (1) Hoài Huyền Thanh (53) Hoan Giang (1) Hoàng Anh (6) Hoàng Anh 79 (26) Hoàng Chẩm (53) Hoàng Chẫm (1) Hoàng Đình Quang (2) Hoàng Giao (4) Hoàng Hạ Miên (6) Hoàng Hữu (1) Hoàng Khánh Duy (5) Hoàng Kim (1) Hoàng Kim Chi (1) Hoàng Kim Oanh (2) Hoàng Linh (6) Hoàng Long (2) Hoàng Lộc (8) Hoàng Mẫn (1) Hoàng Minh Tường (2) Hoàng Nghĩa Lược (1) Hoàng Ngọc Xuân (4) Hoàng Nguyên (1) Hoàng Phủ Ngọc Tường (1) Hoàng Thảo Chi (1) Hoàng Thị Bích Hà (1) Hoàng Thị Nhã (8) Hoàng Thị Thu Thủy (2) Hoàng Trang (1) Hoàng Trần (1) Hoàng Trọng Quý (9) Hoàng Trọng thắng (1) Hoàng Tuấn Sơn (1) Hoàng Tuyên (2) Hoàng Vũ Thuật (1) Hoàng Xuân Hiến (1) Hoàng Xuân Niên (1) Hồ Bích Ngọc (4) Hồ Bích Vân (2) Hồ Đắc Thiếu Anh (1) Hồ Hải (2) Hồ Lê Diêm (1) Hồ Nam (1) Hồ Ngọc Diệp (1) Hồ Nhật Quang (1) Hồ Sĩ Duy (1) Hồ Thanh Ngân (10) Hồ Thế Hà (2) Hồ Thế Phất (3) Hồ Thế Sinh (1) Hồ Tĩnh Tâm (1) Hồ Tịnh Thuỷ (21) Hồ Vũ Khánh Linh (1) Hồ Xuân Thu (3) Hội Nhà văn TP. HCM (1) Hồng Hạnh (3) Hồng Liễu (1) Hồng Phúc (8) Hồng Tâm (10) Huệ Triệu (3) HUMICHI (5) Huy Nguyên (15) Huy Vọng (17) Huy Vũ (1) Huyết Kiệt (1) Huỳnh Dạ Thảo (1) Huỳnh Gia (18) Huỳnh Kim Bửu (1) Huỳnh Minh Lệ (2) Huỳnh Ngọc Nga (1) Huỳnh Ngọc Phước (29) Huỳnh Như Phương (1) Huỳnh Thanh Lan (1) Huỳnh Thị Quỳnh Nga (1) Huỳnh Thúy Thúy (1) Huỳnh Văn Diệu (1) Huỳnh Văn Mỹ (1) Huỳnh Văn Yên (1) Huỳnh Xuân Sơn (3) Hương Đêm (1) Hương Đình (4) Hương Quê Nhà (1) Hương Văn (6) Hửu Thỉnh (1) Irina Polianxkaia (1) James Dylan (4) James Joyce (1) Jeffrey Thai (9) Jerry Thu Trà (7) Kai Hoàng (1) Kate Chopin (1) Kha Tiệm Ly (4) Khả Xuân (1) Khán Võ (2) Khảo Mai (1) khoa học (1) Khổng Trường Chiến (3) Khổng Vĩnh Nguyên (1) KỊCH BẢN (1) Kiên Giang (1) Kiến Giang (12) Kiều Huệ (1) Kim Chuông (4) Kim Dung (2) Kim Ngoan (15) Kim Quyên (1) Kim Sơn Giang (22) Kim Tiết (10) Kim Yến (1) Kỳ Nam (2) Ký sự (14) Lã Bố (1) La Hán (1) La Mai Thi Gia (1) Lạc Thảo (1) Lại Ngọc Thư (1) Lam Giang (3) Lan Anh (1) Lan Phương (1) Lan Thanh (1) Lãng Du (6) Lâm Bích Thuỷ (8) Lâm Cẩm Ái (3) Lâm Hạ (11) Lâm Huy Nhuận (1) Lâm Trúc (30) Lâm Xuân Vi (1) Lâu Văn Mua (1) Lê Ân (5) Lê Bá Duy (9) Lê Đình Danh (79) Lê Đức Hoàng Vân (1) Lê Đức Lang (13) Lê Giang Trần (1) Lệ Hằng (3) Lê Hoài Lương (4) Lê Hoàng (2) Lê Hứa Huyền Trân (39) Lê Khánh Luận (1) Lê Minh Chánh (1) Lê Minh Dung (2) Lê Minh Hải (3) Lê Minh Vũ (3) Lê Ngân (3) Lê Ngọc Phái (1) Lê Ngọc Trác (1) Lê Ngũ Nam Phong (11) Lê Nhựt Triết (8) Lê Phương Châu (30) Lê Quang Trạng (23) Lê Sa Long (2) Lê Thanh Hùng (34) Lê Thanh My (8) Lê Thấu (1) Lê Thị Cẩm Tú (6) Lê Thị Hồng Thắm (1) Lê Thị Kim (1) Lê Thị Ngọc Lệ (1) Lê Thị Ngọc Nữ (33) Lê Thị Thu Hiền (1) Lê Thị Xuyên (13) Lê Thiếu Nhơn (15) Lê Thống Nhất (6) Lê Thụy Phương (2) Lê Tiến Dũng (1) Lê Tiến Mợi (6) Lê Trọng Nghĩa (3) Lê Trung Hiếu (1) Lê Tuân (4) Lê Uyên (1) Lê Văn Hiếu (12) Lê Văn Ngăn (3) Lê Vi Thuỷ (1) Lê Vinh (4) Lê Xuân Tiến (1) Lindsay Polak (1) Linh Lan (7) Linh Lan (Quảng Nam) (8) Linh Phương (3) Linh Thy (2) Long Khánh (4) Long Vương (1) luân hồi (1) Lữ Hồng (3) Lư Nhất Vũ (1) Lương Cẩm Quyên (1) Lương Duyên Thắng (3) Lương Đình Khoa (1) Lương Sơn (27) Lưu Ly (6) Lưu Quang Minh (15) Lưu Thành Tựu (1) Lưu Thị Mười (2) Lưu Xuân Cảnh (2) Lý Khánh Vinh (15) Lý Thành Long (1) Lý Thời Miễn (1) M.T.N.H (7) Mã Nhị Lan (1) Mạc Minh (2) Mạc Tố Hồng (1) Mạc Tường (2) Mai Đức Trung (6) Mai Hạnh (1) Mai Kiệm (1) Mai Loan (12) Mai Nhật (2) Mai Thanh (1) Mai Thị Vân (1) Mai Thìn (3) Mai Tuyết (37) Mang Viên Long (63) Marie Hải Miên (4) Mẫu Đơn (1) Mèo Con (1) Mi Thu (1) Miên Đức Thắng (2) Miên Linh (1) Minh Châu (2) Minh Đan (Lọ Lem Đất Võ) (6) Minh Nguyên (15) Minh Nguyễn (3) Minh Nguyệt (15) Minh Nguyệt (NT) (1) Minh Nhân Tông (1) Minh Vy (25) Mỗi tháng một tác giả và một bài thơ hay (2) Mộng Cầm (8) Mộng Nam (1) Mùa Xanh (3) Mưa (1) Mường Mán (1) MỸ THUẬT (6) My Tiên (1) Mỹ Vân (1) Nam Art (2) Nam Cao (1) Nam Thi (17) Năm Bửu (1) Nấm Độc (1) NCCGL (4) Ngàn Thương (33) Ngày Đẹp Tươi (1) nghệ thuật. (1) nghiên cứu (1) Ngọc Bút (8) Ngọc Diệp (35) Ngọc Thịnh (1) Ngô Càn Chiểu (1) Ngô Cự Chính (2) Ngô Diệp (6) Ngô Đình Hải (7) Ngô Hồng Nhung (1) Ngô Liêm Khoan (1) Ngô Minh Trãi (3) Ngô Nguyên Ngiễm (1) Ngô Thị Hoà (1) Ngô Thị Ngọc Diệp (10) Ngô Thuý Nga (30) Ngô Thúy Nga (16) Ngô Thy Học (7) Ngô Văn Cư (52) Ngô Văn Giảng (11) Ngô Văn Khanh (17) Ngô Viết Hòa (2) Nguyễn (1) Nguyễn An Bình (70) Nguyễn An Đình (4) Nguyễn Ánh 9 (1) Nguyễn Bá Nhân (1) Nguyễn Bích Sao Linh (1) Nguyễn Bình (1) Nguyễn Bính Hồng Cầu (2) Nguyên Cẩn (26) Nguyễn Châu (2) Nguyễn Chinh (4) Nguyễn Công Thụ (2) Nguyễn Công Tùng Chinh (1) Nguyễn Cử Tú Quỳnh (2) Nguyên Diệp (1) Nguyễn Dũng (1) Nguyễn Duy Khương (6) Nguyễn Duy Phương (1) Nguyễn Duy Thịnh (3) Nguyễn Đại Duẩn (2) Nguyễn Đặng Mừng (3) Nguyễn Đăng Thanh (20) Nguyễn Đăng Trình (4) Nguyễn Đình Bảng (1) Nguyễn Đình Trọng (1) Nguyễn Đoan Tuyết (25) Nguyễn Đồng Bội Thảo (1) Nguyễn Đức Chính (5) Nguyễn Đức Cơ (1) Nguyễn Đức Mậu (2) Nguyễn Đức Minh (6) Nguyễn Đức Minh Hùng (10) Nguyễn Đức Nhân (1) Nguyễn Đức Phú Thọ (26) Nguyễn Đức Quyền (4) Nguyễn Đức Tấn (6) Nguyễn Đức Tình (4) Nguyễn Gia Long (1) Nguyên Hạ (11) Nguyễn Hải Thảo (2) Nguyễn Hậu (2) Nguyễn Hiếu (8) Nguyễn Hiếu Học (2) Nguyễn Hòa Hiệp (2) Nguyễn Hoài Ân (1) Nguyễn Hoàng Thức (2) Nguyễn Hồng Diệu (1) Nguyễn Huệ (3) Nguyên Hùng (1) Nguyễn Huy (3) Nguyễn Huy (HD) (1) Nguyễn Huy Khôi (1) Nguyễn Huỳnh (1) Nguyễn Hữu Minh (1) Nguyễn Hữu Phú (1) Nguyễn Hữu Quý (2) Nguyễn Hữu Thuần (4) Nguyễn Hữu Trung (2) Nguyễn Khiêm (1) Nguyễn Khoa Đăng (51) Nguyễn Kiều Lam (2) Nguyễn Kiều Phương (3) Nguyễn Kim Hương (7) Nguyễn Kim Thịnh (1) Nguyễn Lam (2) Nguyễn Lương Vỵ (4) Nguyên Minh (1) Nguyễn Minh Dũng (46) Nguyễn Minh Hoà (1) Nguyễn Minh Khiêm (1) Nguyễn Minh Nguyệt (1) Nguyễn Minh Phúc (47) Nguyễn Minh Quang (5) Nguyễn Minh Thuận (9) Nguyễn Minh Toàn (1) Nguyễn Mỳ (1) Nguyễn Mỹ Nữ (3) Nguyễn Nga (14) Nguyễn Nghiêm (3) Nguyễn Ngọc Dũng (1) Nguyễn Ngọc Đặng (1) Nguyễn Ngọc Hà (4) Nguyễn Ngọc Hưng (6) Nguyễn Ngọc Minh Anh (1) Nguyễn Ngọc Thơ (31) Nguyễn Ngọc Tư (5) Nguyễn Nguy Anh (21) Nguyễn Nguyên Phượng (69) Nguyễn Nhật Hùng (4) Nguyễn Như Tuấn (14) Nguyễn Phin (30) Nguyên Phong (1) Nguyễn Phú Yên (8) Nguyễn Phượng (2) Nguyễn Phương Dung (2) Nguyễn Quang Quân (8) Nguyễn Quang Tâm (2) Nguyễn Quang Tuấn (1) Nguyễn Quân (2) Nguyễn Quốc Ái (1) Nguyễn Quốc Bảo (1) Nguyễn Quốc Đông (1) Nguyễn Quy (2) Nguyên Tâm (1) Nguyễn Tấn Thuyên (3) Nguyễn Thái An (3) Nguyễn Thái Dương (6) Nguyễn Thái Huy (35) Nguyễn Thành Công (48) Nguyễn Thành Giang (22) Nguyễn Thanh Hải (1) Nguyễn Thanh Huyền (8) Nguyễn Thanh Mừng (1) Nguyễn Thánh Ngã (1) Nguyễn Thành Nhân (18) Nguyễn Thanh Tuấn (7) Nguyễn Thanh Xuân (2) Nguyễn Thế Kiên (1) Nguyễn Thế Kỷ (1) Nguyễn Thị Ánh Huỳnh (2) Nguyễn Thị Bích Phượng (2) Nguyễn Thị Cẩm Thuỳ (3) Nguyễn Thị Chi (2) Nguyễn Thị Diệu Hiền (3) Nguyễn Thị Hải (1) Nguyễn Thị Hằng (7) Nguyễn Thị Hậu (1) Nguyễn Thị Hồng Đào (10) Nguyễn Thị Huệ (1) Nguyễn Thị Kim Huệ (2) Nguyễn Thị Mây (127) Nguyễn Thị Ngọc Hải (1) Nguyễn Thị Ngọc Sen (2) Nguyễn Thị Như Tâm (3) Nguyễn Thị Phụng (27) Nguyễn Thị Thanh Bình (6) Nguyễn Thị Thành Nhân (1) Nguyễn Thị Thanh Toàn (1) Nguyễn Thị Thanh Xuân (1) Nguyễn Thị Thu Ba (23) Nguyễn Thị Thu Hiền (1) Nguyễn Thị Thu Hoài (1) Nguyễn Thị Thu Thuý (3) Nguyễn Thị Thùy Linh (3) Nguyễn Thị Tiết (3) Nguyễn Thị Tuyết (1) Nguyễn Thị Việt Hà (39) Nguyễn Thị Xuân Hương (14) Nguyễn Thu Hằng (1) Nguyễn Thủy (4) Nguyễn Thúy Ngân (13) Nguyễn Thuý Quỳnh (2) Nguyễn Thường Kham (3) Nguyễn Thượng Trí (2) Nguyễn Tiến Đường (8) Nguyễn Trần (1) Nguyễn Trí Tài (40) Nguyễn Trọng Luân (2) Nguyễn Trung (1) Nguyễn Trung Nguyên (1) Nguyễn Tuyển (4) Nguyễn Văn Ân (68) Nguyễn Văn Bút (6) Nguyễn Văn Công (2) Nguyễn Văn Cường (CCK) (4) Nguyễn Văn Hiến (5) Nguyễn Văn Hoà (5) Nguyễn Văn Hòa (2) Nguyễn Văn Học (55) Nguyễn Văn Ngọc (1) Nguyễn Văn Thanh (1) Nguyễn Văn Thành (1) Nguyễn Văn Thảo (17) Nguyễn Văn Toan (1) Nguyên Vi (1) Nguyễn Việt Hà (2) Nguyễn Vinh (1) Nguyễn Vĩnh Bình (3) Nguyễn Xuân Cảm (3) Nguyễn Xuân Dương (1) Nguyễn Xuân Khánh (1) Nguyễn Xuân Thuỷ (1) Nguyễn Xuân Thủy (1) Nguyễn Xuân Tư (3) Nguyệt Linh (5) Nguyệt Quế (1) Ngưng Thu (44) Nhã Ngọc (1) Nhã Thiên (7) nhà Thương (1) Nhân Hậu (2) NHÂN VẬT (1) Nhật Nguyệt Xuân Hương (1) Nhật Quang (17) Nhất Sinh (1) Nhật Vũ (1) Nhi Hạ (1) NHỚ THUỞ ẤU THƠ (37) Như Hoài (4) NHỮNG ÁNG VĂN HAY VỀ LÀNG QUÊ VIỆT NAM (7) NHỮNG NGƯỜI BẠN ĐÂT THỦ (6) NHỮNG NGƯỜI THỰC HIỆN HQN (5) Nông Quốc Lập (2) NP phan (1) Nửa Đời hư (1) NỬA THÁNG MỘT TÁC GIẢ VÀ MỘT BÀI THƠ HAY (38) nước (1) O. Henry (1) P.N. Thường Đoan (1) Pearl (1) Phạm Ánh (34) Phạm Anh Xuân (3) Phạm Bá Nhơn (2) Phạm Cao Hoàng (1) Phạm Đình Nghi (1) Phạm Hổ (1) Phạm Hữu Hoàng (20) Phạm Kiều Hưng (1) Phạm Lâm (1) Phạm Lê Tường Vi (1) Phạm Minh Dũng (14) Phạm Minh Hiền (9) Phạm Minh Thuận (10) Phạm Mỹ (1) Phạm Ngân (3) Phạm Như Vân (1) Phạm Phan Hòa (1) Phạm Phương Lan (1) Phạm Quỳnh An (1) Phạm Thái Ba (4) Phạm Thị Hải Dương (9) Phạm Thị Liên (1) Phạm Thị Mỹ Liên (30) Phạm Thị Phương Thảo (3) Phạm Thuý (6) Phạm Trần Ái Linh (4) Phạm Trung Tín (2) Phạm Tuấn Vũ (29) Phạm Tử Văn (21) Phạm Văn Phương (16) Phạm Văn Thạnh (1) Phạm Vũ (1) Phan Anh (12) Phan Cung Việt (1) Phan Đức Nam (1) Phan Hoài Thương (1) Phan Hoàng (2) Phan Huỳnh Điểu (1) Phan Hữu Lý (1) Phan Khanh (2) Phan Mai Thư Nhã (6) Phan Nam (20) Phan Quỳnh Như (1) Phan Sửu (1) Phan Tấn Lược (6) Phan Thanh Cương (2) Phan Thị Huỳnh Trang (2) Phan Tiên Phát (1) Phan Tình (1) Phan Trang Hy (25) Phan Văn Bình (1) Phan Văn Thạnh (1) Phan Văn Thuần (3) Phan Vĩnh (1) phần 1 (1) phần 2 (1) phần 3 (1) phần 4 (1) Phiêu Vân (1) Phong Dương (2) Phong Điệp (1) Phỏng vấn (7) Phú Ngọc (1) Phú Quang (3) Phú Xuân (8) Phùng Gia Lộc (1) Phùng Hiếu (10) Phùng Hiệu (1) Phùng Hoàng Chương (1) Phùng Phương Quý (7) Phụng Thiên (1) Phùng Văn Khai (1) Phước Vũ (1) Phương Phương (10) Phương Uy (5) Quan Thế Âm (1) Quảng Ngọc (1) Quảng Ngôn Lê Ngữ (1) Quang Thám (1) Quang Tuấn Dũng (9) Quốc Hùng (2) Quốc Tuyên (1) quy luật dịch (1) Quỳnh Lệ (1) Quỳnh Nga (16) Quỳnh Trâm (1) Rason Helmandollar (1) Raymond Carver (1) Raymond Thư (1) Rêu (Cao Hoàng Từ Đoan) (13) SÁCH BẠN VĂN (71) SARAH HALL (1) SINH NHẬT (1) Song Ninh (11) Sông Hương (11) Sông Lam (1) Sông Song (8) Sơn Tịnh (2) Sơn Trần (15) Sruthi Thekkiam (1) Stephen Crane (1) T.T.Hiếu Thảo (22) Tạ Nghi Lễ (1) Tạ Thị Hoa (14) Tam quốc diễn nghĩa (4) TẢN VĂN (230) TẠP BÚT (624) Tạp chí Văn Mới (1) TẠP CHÍ VN BÌNH DƯƠNG (11) Tashi Dawa (1) Tâm Lãng (1) Tâm Nhiên (2) Tấn Hòa (1) Tần Khánh (4) Tân Vương Huy (1) TẬP SAN ÁO TRẮNG (39) Tập san Văn học nghệ thuật Hương Quê Nhà (1) Tây bá hầu Cơ Phát (1) Tây Du Ký (1) Tây Sơn bi hùng truyện (2) Thạch Anh (2) Thạch Cầu (1) Thạch Đà (7) Thạch Lam (1) Thạch Sene (5) Thái An Khánh (2) Thái Hoà (1) Thanh Bình Nguyên (27) Thành Dũng (1) Thanh Hải (1) Thanh Huyền (2) Thanh Lương (2) Thanh Minh (4) Thanh Phong (1) Thanh Sơn (1) Thanh Thảo (3) Thanh Trắc Nguyễn Văn (42) Thanh Tùng (7) Thành Văn (3) Thạnh Văn (1) Thanh Xuân (2) Thảo Nguyễn (1) Thâm Tâm (1) Thần Y (1) Thi Ngọc Lan (1) Thiên Ân (1) Thiên Di (5) Thiên Sơn (1) Thiên Thần Áo Trắng (7) Thiên Tôn (10) Thiên Trần (1) Thiệp chúc mừng năm mới (4) Thiệp chúc Tết (3) Thiệp mừng (3) Thông báo (1) Thơ (3149) Thơ Lê Nhựt Triết (1) THƠ MỜI HOẠ (7) THƠ PHỔ NHẠC (106) Thời sự Văn nghệ (6) Thu Dung (3) Thu Hằng (1) Thu Hiền (1) Thu Hoài (1) Thu Nga (1) Thuận Thảo (8) Thuận Yến (1) Thục Minh (7) Thuỳ Anh (13) Thuỵ Du (1) Thụy Du (3) Thuỳ Dương (1) Thùy Dương (1) Thủy Điền (1) Thuỳ Nhân (1) Thư cảm ơn (1) Thư ngỏ (1) THƯ NGỎ CỦA HQN (2) Thư tin (285) THƯ VIỆN TÁC GIẢ (1) Tiểu luận (4) Tiểu Mục Đồng (1) Tiểu Nguyệt (5) Tiểu thuyết (107) Tiêu Tương (1) Tin buồn (2) TIN VĂN (2) Tịnh Bình (19) Tịnh Minh Tiến (2) Tô Hồng Phương (1) Tô Kiều Ngân (1) Tố Mai (3) Tô Minh Yến (21) Tôn Nữ Hỷ Khương (2) Tôn Thất Út (2) Tôn Tư Mạc (1) Tống Ngọc Hân (1) Tống Xuân Tám (1) Trà Bình (4) TRABATHA (1) Trác Phi (1) Trang Linh (1) Trang Lộc (1) Trang Thơ Chào Xuân Mậu Tuất 2018 (1) TRANG THƠ CHỦ NHẬT (528) Trang Thơ Đón Xuân Đinh Dậu 2017 (1) TRANG THƠ ĐƯỜNG LUẬT (17) Tranh ảnh (3) Trầm Mặc (4) Trần Anh Dũng (1) Trần Bảo Định (4) Trần Băng Khuê (1) Trần Biên Thùy (1) Trần Dần (1) Trần Duy Đức (17) Trần Dzạ Lữ (4) Trần Định (1) Trần Đình Sử (2) Trần Đoàn Luận (1) Trần Đức ÁI (2) Trần Đức Hiển (1) Trần Đức Tín (1) Trần Hà Nam (4) Trần Hoàng Vy (2) Trần Hồng Vân (5) Trần Huiền Ân (2) Trần Huy Minh Phương (2) Trần Hữu Du (1) Trần Hữu Hội (17) Trần Kim Đức (5) Trần Kim Loan (2) Trần Kim Quy (1) Trần Lê Sơn Ý (2) Trần Linh Chi (1) Trần Long Thạch (1) Trần Lưu (1) Trần Mai Hường (11) Trần Mạnh Hảo (1) Trần Minh Nguyệt (16) Trần Năm (1) Trần Ngọc Hồ Trường (4) Trần Ngọc Mỹ (11) Trần Nguyên Hạnh (6) Trần Nhã My (2) Trần Như Luận (3) Trần Nhương (1) Trần Phù Nam (1) Trần Quang Dũng (4) Trần Quang Khanh (12) Trần Quang Lộc (1) Trần Quang Ngân (10) Trần Quốc Tiến (8) Trần Quốc Toàn (1) Trần Quốc Việt (1) Trần Tâm (7) Trần Thái Hưng (5) Trần Thanh Hải (3) Trần Thành Nghĩa (1) Trần Thế Nhân (13) Trần Thị Bích Thu (1) Trần Thi Ca (9) Trần Thị Cổ Tích (2) Trần Thị Huệ (1) Trần Thị Huyền Trang (3) Trần Thị Mai (1) Trần Thị Ngọc Hồng (1) Trần Thị Thanh (5) Trần Thị Thắng (1) Trần Thị Thương Thương (4) Trần Thị Trúc Hạ (1) Trần Thị Uyên (8) Trần Thiện (3) Trần Thiện Tuấn (1) Trần Thoại Nguyên (2) Trần Thuận (7) Trần Thúy Lành (6) Trần Thuỳ Trang (1) Trần Thư (1) Trần Thương Nhiều (1) Trần Trọng Hưng (2) Trần Trọng Tân (1) Trần Trọng Vũ (2) Trần Tuấn Anh (2) Trần Tuấn Thanh (10) Trần Vạn Giã (2) Trần Văn Bạn (16) Trần Văn Nhân (5) Trần Văn Thiên (1) Trần Việt (1) Trần Viết Dũng (11) Trần Võ Thành Văn (24) Triết học (2) Triều Âm (2) Triều Châu (1) Triều La Vỹ (2) Triệu Lam Châu (1) Triệu Từ Truyền (30) Trịnh Bửu Hoài (106) Trịnh Duy Sơn (2) Trịnh Hoài Linh (5) Trịnh Huy (4) Trịnh Thuỳ Mỹ (1) Trịnh Tuyên (1) Trịnh Viết Hiền (1) Trịnh Viết Hiệp (1) Trịnh Yến (2) Trọng Mật (2) trụ vương (1) Trúc Giang (4) Trúc Lập (1) Trúc Linh Lan (2) Trúc Thanh Tâm (12) Trúc Thuyên (3) trung quốc (1) Trung Trung Đỉnh (1) Trung Y (1) Truong Nguyen (1) Truyện dài (10) TRUYỆN DỊCH (17) Truyện ký (2) TRUYỆN NGẮN (1173) TRUYỆN VỪA (14) Trương Công Tưởng (16) Trương Diễm Phiến (1) Trương Đình Phượng (8) Trương Đình Tuấn (3) Trương Hồng Phúc (14) Trương Huỳnh Như Trân (2) Trương Lan Anh (1) Trương Nam Chi (5) Trương Thanh Cường (2) Trường Thắng (65) Trương Thị Thanh Tâm (22) Trương Thị Thúy (2) Trường Thịnh (6) Trương Tri (2) Trương Văn Dân (21) Trương Viết Hùng (1) TTM (1) Tuấn Nguyễn (7) Tuấn Quỳnh (3) Tuệ Mỹ (1) Tuti (2) Tuỳ bút (2) TÙY BÚT (120) Tuyết Nhung (2) Tuyết Vân (1) tứ đại mỹ nhân (1) Tường Vi (1) TX (1) Út Lãng Tử (1) Uyên Khuê (2) Uyên Minh (1) Uyển Phan (1) Vạn Lộc (1) Vành Khuyên (1) Văn (2483) Văn Công Mỹ (2) văn hóa truyền thống (5) Văn học nước ngoài (13) Văn Lưu (1) Văn Nguyên (1) Văn Nguyên Lương (7) Văn Nhược Ba (1) Văn Thạnh (2) Văn Thành Lê (1) Văn Thắng (23) Văn Trọng Hùng (1) Vân Đồn (3) Vân Giang (12) Vân Khanh (2) Vân Phi (32) Vân Tùng (2) Vi Ánh Ngọc (2) Vi Quốc Hiệp (1) Victor Remizov (1) VIDEO CLIP (2) Viễn Trình (25) Việt Quỳnh (1) Việt Trang (1) Việt Trương (1) Vĩnh Sơn (7) Vĩnh Thông (43) Vĩnh Tuy (21) Võ Bá Cường (1) Võ Chân Cửu (17) Võ Chí Nhất (3) Võ Công Liêm (1) Võ Diệu Thanh (18) Võ Dõng (1) Võ Đông Điền (4) Võ Hà (1) Võ Hạnh (2) Võ Mỹ Cát (1) Võ Ngọc Thọ (4) Võ Như Văn (3) Võ Thị Nga (13) Võ Thị Thu Thủy (1) Võ Thuỵ Như Phương (15) Võ Văn Hoa (1) Võ Văn Luyến (1) Võ Xuân Phương (3) Vũ Bình Lục (1) vũ đạo (1) Vũ Đình Huy (9) Vũ Đình Liên (1) Vũ Đình Minh (1) Vũ Đình Nguyệt (2) Vũ Đình Thung (2) Vũ Đức Trọng (1) Vũ Hạ (1) Vũ Hạnh (3) Vũ Hùng (2) Vũ Miên Thảo (5) Vũ Thành An (1) Vũ Thị Huyền Trang (115) Vũ Thụy Khuê (8) Vũ Trọng Quang (1) Vũ Trọng Tâm (2) Vũ Trọng Thanh (1) Vương Doãn (1) Vương Hạnh (1) Vương Hoài Uyên (4) Vương Tâm (3) Xanh Nguyên (4) Xuân Đài (1) Xuân Phong (6) Xuân Phương (1) Xuân Tiến (20) Ý Thu (3) Yên Kha (7) Ziken (2)
        -------------------------------------------------------------------------
        + 817 TÁC GIẢ CÓ BÀI ĐĂNG TRÊN HƯƠNG QUÊ NHÀ
        -------------------------------------------------------------------------

        Top Hot