NHỮNG CHỮ QUA CẦU TÂM LINH - NGẪM VỀ TÂM THỨC VÀ HÀNH VI SÁNG TẠO CỦA THI NHÂN - Bài của Nguyễn Hữu Minh

Nhà thơ Triệu Từ Truyền
Thơ là tiếng nói của tình cảm, cảm xúc. Bắt nguồn từ những rung động với cuộc sống muôn màu muôn vẻ và từ mối giao cảm vừa tự nhiên lại vừa tinh tế, thơ phát tiết tự trong tâm hồn của thi sĩ, làm nên hành trình “tâm giao” giữa tự thân với tự thân, giữa tự thân với tha nhân hay có khi là giữa tự thân với cuộc đời. Cuộc hành trình này được nhà thơ Triệu Từ Truyền ví như “Khách lữ hành quẩn quanh trong sa mạc, đi tìm ốc đảo của tình yêu. Chiếc phi thuyền bay tìm quỹ đạo của hành tinh nhân văn, hình tượng ấy phản ánh nhà thơ khám phá ra thơ của chính mình” nhưng “hiểm nghèo hơn khách lữ hành, xác suất thấp hơn phi thuyền vào đúng quỹ đạo. Nhà thơ cam chịu gấp bội lần hơn bất trắc”. Theo như tác giả, việc sáng tác thơ là công việc vừa khó khăn, lại đầy thách thức đối với người cầm bút; vậy làm sao để thi sĩ có thể trở thành thi nhân, có thể viết nên những bài thơ hay, độc đáo? Triệu Từ Truyền cho rằng mỗi nhà thơ cần phải vượt qua được “chiếc cầu tâm linh” của chính họ để “tập hợp ngôn ngữ quanh mình”, “tiêm thẳng vào tủy sống của mình những chữ để sản sinh ra hồng cầu thơ”. Chiếc cầu đặc biệt này vừa là “công cụ nội giới” để sáng tác thơ, vừa là “phương thức sáng tạo thơ”, lại còn là con đường quyết định giá trị của hành vi sáng tạo ở mỗi thi sĩ. Đó cũng là nhịp cầu nối tâm linh giữa thi sĩ với độc giả.
Trong phần lớn nội dung của cuốn sách, tác giả miệt mài bàn luận, phân tích các vấn đề liên quan đến tâm linh và tâm thức sáng tác của người làm thơ cốt yếu làm rõ sự hình dung, tưởng tượng trong lòng người đọc về “chiếc cầu tâm linh”– hình tượng rất đặc thù đối với người nghệ sĩ nói chung và thi sĩ nói riêng. Trăn trở trong hành vi sáng tạo với những bất trắc, mơ ước, nỗi ám ảnh, tâm linh thơ và cái khó của việc làm thơ; tác giả không đứng từ góc độ hữu thần để bàn luận, xem xét những vấn đề liên quan đến tâm linh của thi sĩ mà ông nhận định đó là yếu tố cần thiết phải có của một nhà thơ và là đặc điểm để phân biệt giữa họ với người bình thường. Cụ thể, yếu tố khiến thi sĩ khác với những người bình thường ở chỗ phản thân xác (phản vật chất) của họ “có cường độ tương tác lớn hơn gấp bội”. Điều này khiến họ dễ dàng “kích thích xuất hiện ra vương quốc tâm linh”. Đó chính là sự nhạy cảm trong nghệ thuật, yếu cảm về cái đẹp của người thi sĩ. Bên cạnh đó, Triệu Từ Truyền cũng bàn luận khá chi tiết về tính chất của chiếc cầu tâm linh. Ông nhận thấy sự bất định của nó: “Chiếc cầu ấy vừa bền vững vừa mong manh. Chiếc cầu ấy giữa hai bờ hư thực”. Bền vững bởi chiếc cầu này có khả năng giúp thi sĩ hồi cố về quá khứ xa xôi lẫn tiên tri đến tương lai vô định: “Đôi khi còn bắc lên tận đỉnh ảo ảnh của một ngôi sao đã chết từ trước ngàn năm ánh sáng”; nhưng lại cực kỳ mong manh bởi trong quá trình thực hiện hành vi sáng tạo, không phải đối tượng nào cũng được nhà thơ toàn tâm, toàn ý và có thể càng trở nên hư ảo hơn khi “độ tâm linh” của mỗi nhà thơ chưa đạt đến “độ chín muồi” hay nói cách khác: chiếc cầu tâm linh kia cần có một vị trí “yên vị” trong tâm thức sáng tạo của người làm thơ thì thơ hay mới xuất hiện.

Để đạt được điều này, Triệu Từ Truyền đã đặt ra những yêu cầu khá khắc khe đối với thi sĩ, xem như đó là trọng trách, bổn phận tiên quyết của họ trong việc cho ra đời “những đứa con tinh thần”. Trước hết, xuất phát từ bản thân của người làm thơ: “Nhà thơ phải có sức hút lời chữ”. Đó là khả năng vận dụng từ ngữ để tái hình dung, miêu tả, giải đoán, bộc lộ bản chất của đối tượng thơ. Hơn thế, nhà thơ cần có khả năng tương thông, tương cảm đặc biệt với vạn vật, ứng thấu được bản chất văn minh, văn hóa vốn có của nó. Tác giả đã đánh giá khá cao đến tầm quan trọng của sự đòi hỏi cần thiết lẫn thiên tính bẩm sinh ở một nhà thơ: “Nếu không khát vọng vươn lên cái đẹp tuyệt đối, thiếu tố chất đa cảm – đa tình, không phiêu linh vào cõi vô thức chi phối và hơn nữa thiếu sáng tạo hành vi xã hội, nội giới của một người nào ấy chưa thể trở thành nội giới của nhà thơ – nội giới của môi trường thơ – nghĩa là không thể xây dựng chiếc cầu tâm linh”. Từ đó, ông suy ngẫm về sự ám ảnh trong hành vi sáng tạo của thi sĩ: “người làm thơ biết dùng lời chữ để phản ánh hành vi sáng tạo của chính mình, hành vi sáng tạo ấy đã trở thành nỗi ám. Nỗi ám khoét sâu vào tận đáy tâm linh”. Đó là điều kiện để những khoảnh khắc thăng hoa ngôn từ ở mỗi thi sĩ xuất hiện. Điều này được tác giả giải thích: “Viết hay, không phải chỉ quan sát để mô tả, không là khoa học thực nghiệm. Viết hay, là phản ánh nỗi ám ảnh chạm cực độ khủng hoảng tận tâm linh”. Từ khi thơ bắt đầu phát tiết trong tâm hồn, thi sĩ đã dần ám ảnh về hành trình tạo tác nên bài thơ lẫn hành trình hiện tồn của nó trên đời. Ngoài ra, ông cũng bàn luận thêm: “Hành vi của nhà thơ được nhận định là hành vi sáng tạo với điều kiện vừa cưu mang ước mơ nguyên sơ, vừa có cách ứng xử độc đáo”. Đó có thể được xem là “cuộc gặp gỡ vừa kỳ lạ vừa thú vị” giữa yếu tố cũ và yếu tố mới, giữa cái đương tồn tại vốn có lẫn cái mơ hồ không ngừng được hướng đến trong tâm hồn và trí tuệ của mỗi thi sĩ. Bởi hành trình sáng tạo của các nhà thơ tự cổ chí kim đều là hành trình tự khám phá hoặc vô tình hoặc cố ý thể nghiệm bản ngã của chính họ, làm sống lại những giá trị “siêu thực” dù trong bất cứ hoàn cảnh nào, thời đại nào. Đó chính là con người cá tính, phong cách riêng biệt, tài năng thiên phú được trau dồi trong bản thân mỗi thi sĩ.
Nhưng nếu chỉ có tài thôi thì chưa đủ. Giá trị của một thi nhân được tác giả đề cao ở chỗ tâm thức của họ biểu hiện như thế nào trong quá trình thực hiện hành vi sáng tạo. Triệu Từ Truyền cho rằng những nghệ sĩ thực thụ, các thiên tài văn hóa mặc dù “sống với thân xác giới hạn, nhưng tâm thức họ là vô hạn”. Nhà thơ nếu không sáng tác bằng tâm thức thì bài thơ họ viết ra khó lòng lay động lòng người, khó tạo tác được chiếc cầu tâm linh hoàn chỉnh có thể nối kết trọn vẹn giữa tâm hồn với tâm hồn, giữa người với vật hay giữa vật chất với ý thức. Ở đây, sự vô hạn của tâm thức không phải được hiểu theo khả năng dụng bút dồi dào của người nghệ sĩ mà trước hết phải là sự nhạy cảm tiềm tàng và tư duy nghệ thuật sẵn có trong con người họ. Từ đó, Triệu Từ Truyền băn khoăn về cái tài và tâm của người viết thơ: “Người cầm bút cần luyện tập để có con mắt trông cả sáu cõi, nghĩa là phải đọc sách, du lịch, đối thoại; cộng với tấm lòng nghĩ suốt cả nghìn đời; nghĩa là tự tại có trực cảm tâm linh, lòng bao dung với tâm thức.” Đặc biệt, ông quan tâm đến các nhà thơ trẻ: “Phải thật sự có tài năng và liên lục sáng tạo bằng tâm thức, bằng chính nghiệp thơ của mỗi người được dòng năng lượng tâm linh chuyển tải”. Tài thơ có thể do bẩm sinh mà có hoặc được trau luyện mà thành nhưng tâm của người cầm bút trước hết phải được thể hiện qua thái độ nghiêm túc với nghề và tấm lòng quý trọng thơ. Cái nhìn và sự hiểu của thi sĩ khác với cái nhìn và sự hiểu của người bình thường ở chỗ họ có thể thấu cảm được hồn tinh của sự vật, hiện tượng bằng “chiếc cầu tâm linh”. Đó là tâm thức sáng tạo muôn đời của thi sĩ: “Chữ tâm kia mới bằng ba chữ tài”. Bên cạnh đó, tác giả ví von giữa việc viết thơ của thi sĩ với việc trồng lan của người con trai thời xưa: “Người con trai trồng lan đẹp mà không thơm là vì người con trai không có lòng chân thành”  để nhấn mạnh giá trị mang tính quyết định của tâm thức sáng tạo đến việc cho ra thơ hay hay dở. Đặc biệt, tác giả chú ý đến tâm thức sáng tạo của các các nhà thơ hiện đại. Ông khẳng định tâm của người cầm bút trước hết phải gắn với sự tự do và lòng nhân ái: “Thi sĩ không sợ phong ba vì đời là một dòng chảy mà thi sĩ tan trong đó”. Chỉ có tan chảy một cách tự do vào cuộc sống, nhà thơ mới có thể nhận thức được cuộc đời, hiểu về cuộc đời và chiếm lấy cuộc đời bằng thơ. Tuy nhiên, sự tự do này cũng phải được kiềm chế, duy trì ở một chừng mực hợp lý. Tác giả cho rằng hành vi sáng tạo của nhà thơ phải được tự do nhưng “sáng tạo trong hành vi xã hội của mình”. Điều này có nghĩa người cầm bút cần ý thức được mối quan hệ về việc tự do sáng tạo trong sự ràng buộc cần thiết bởi những quy tắc, chuẩn mực ứng xử của xã hội và phải có sự lựa chọn cho riêng mình, phải tìm được hướng đi nhất định để hướng đến.
Bắt rễ từ cuộc sống, quá trình sáng tạo thơ có thể được hiểu là quá trình không ngừng tôn tạo “chiếc cầu tâm linh” và trực nhận nặng lượng từ nó. Để làm được điều này, thi sĩ “phải dày công tịnh tâm, trong điều kiện minh mẫn và lương thiện”. Hành vi sáng tạo của nhà thơ được ông ví như hành vi thiền định của vị tu sĩ, cả hai đều đi tìm sự giác ngộ từ tâm từ mẫn của họ, chỉ khác là nhà thơ đi tìm kiếm sự giác ngộ của ngôn từ còn tu sĩ đi tìm kiếm sự giác ngộ của ngã. Có thể thấy, việc sáng tác thơ và tâm linh có mối quan hệ chặt chẽ: “Chính thế giới tâm linh chi phối cá tính, tình cảm và thân phận mỗi người… Nếu trực cảm cuộc sống bằng tâm linh, mới có những hành vi nhân bản, mới có đạo đức như người ta thường nói”, tức người làm thơ phải biết nuôi dưỡng sự hài hòa về tâm linh. Đó là quá trình dưỡng tâm để nuôi dưỡng và sáng tạo cái đẹp và ngược lại, mà cái đẹp chính là thơ hay. Hơn nữa, cái tâm của người thi sĩ còn phải được gắn với phong cách sáng tác thơ của chính họ. Tác giả cho rằng: “Bút pháp của mỗi dân tộc, mỗi nhà thơ là dấu vân tay của họ. Vì vậy đừng nên mù quáng bắt chước phong cách mà chỉ nên san sẻ thân phận con người trong thi ca nhân loại”. Việc “chỉ nên san sẻ thân phận con người” kia há chẳng phải xuất phát từ tâm đó sao? “Dấu vân tay” này tuy mang đặc điểm riêng của từng dân tộc và từng thi sĩ nhưng vì cùng xuất phát từ tâm thức chung nên vô tình trở thành vấn đề chung của nhân loại. Bởi dù sinh sống ở đâu trên hành tinh này đi chăng nữa thì con người vẫn là con người, chứ không phải là một sinh thể nào khác. Tuy nhiên, bằng cách nào đó, trong những hoàn cảnh nhất định, người làm thơ sẽ tự tìm ra cho mình một phong cách riêng vừa mang bản sắc của dân tộc lại vừa in đậm dấu ấn cá nhân, cá tính bản thể. Bởi như lời khẳng định của tác giả, một tác phẩm nghệ thuật “càng thể hiện cá tính thì tác phẩm mới độc đáo, tỏa sáng được. Nếu như bài thơ rập khuôn như những chiếc ô tô cùng thương hiệu, chắc chắn bài thơ ấy sẽ rất tệ hại”. Ở đây, tính sáng tạo sẽ cho ra tính mới của bài thơ, cũng như tính mới của bài thơ sẽ làm nên hệ giá trị riêng của tác phẩm. Tuy nhiên, nếu thi sĩ chỉ dưỡng tâm thôi thì vẫn chưa đủ để có thơ hay, thơ ám ảnh. Cái tâm của người làm thơ cần phải bắt nguồn từ trái tim. Tác giả đề nghị thi sĩ cần hòa nhập bản thể cá nhân của mình vào đối tượng thơ để hiểu rõ nhất bản chất của chúng cũng như phải sống chết với ngôn từ nếu cần thiết: “Trong thi ca, trái tim chính là hữu thể (L’être), sự tồn tại nền tảng, song khi bơm máu đi trong các đường gân, thớ thịt phải điên cuồng, bạo liệt như loài quỷ- Đó là một trực cảm vô thường, chuyển hóa giữa lành và dữ, giữa đẹp và xấu, giữa nhân tính và thú tính…”. Thơ lúc này không chỉ là tiếng nói của tình cảm, cảm xúc mà đã trở thành khúc khải hoàn từ trái tim thi nhân.
Để minh giải cho những lý lẽ của mình, Triệu Từ Truyền đưa khá phong phú dẫn chứng về cuộc đời cũng như tài năng của một loạt các tên tuổi nhà thơ, nhà văn, nghệ sĩ nổi tiếng tự cổ chí kim, tự Á sang Âu, ở Việt Nam cũng như trên thế giới như: Rabindranath Tagore, Paul Valéry, Yves Bonnefoy, Erek Walcott, Kenzaburo Oe, Trương Vĩnh Ký, Nguyễn Du, Trịnh Công Sơn, Trần Nhân Tông, Trần Đức Thảo,… Qua việc phân tích một số tác phẩm cũng như phong cách nghệ thuật của họ, tác giả cho chúng ta thấy rằng: “Sáng tạo thơ chính là ở thần khí của bài thơ, thi sĩ chiết ra từ dòng năng lượng tâm linh hòa nhập vào ngôn ngữ tạo ra dung lượng mỗi bài thơ, mới đích thực sáng tạo thơ”. Triệu Từ Truyền sôi nổi phân tích các bài thơ hay, bình những tứ thơ lạ để giúp độc giả thấy được bản chất của thơ hay phải có những đặc điểm nào, phải cấu tứ ra làm sao, phải gắn kết thế giới hữu tâm của thơ với thế giới hữu tâm của con người bằng sợi dây tâm linh như thế nào,… Khi nói về vấn đề hình thức và nội dung trong một tác phẩm thơ, ông ví thơ như nhân vật em trong câu ca dao: “Thân em như tấm lụa đào/ Phất phơ trước gió biết vào tay ai” để khẳng định giá trị của một bài thơ hay phải “đẹp” cả nội dung lẫn hình thức, dù cho “tấm lụa đào” kia rơi vào tay ai. Ở đây, tác giả đề cao vị trí của người sáng tác nhưng lại vô tình hạ thấp tầm đón nhận của độc giả và quên mất rằng độc giả luôn có quyền phán xét cái hay – dở của bài thơ theo góc nhìn và lý lẽ riêng của họ, bởi ông cho rằng: “Thần khí của bài thơ hay luôn tỏa ra bao quanh độc giả, chỉ có độc giả cùng tâm hồn đồng điệu, cùng tần số sóng tâm linh thì mới cảm thụ trọn vẹn cái hay, mát lạnh hay ấm áp tùy chỗ ngồi của độc giả”. Ở một góc độ khác, thơ hay còn được tác giả nhìn nhận, đánh giá qua việc hội tụ đầy đủ các yếu tố về Thần, Khí, Thể và Cách xuất phát từ câu nói của nhà nho Trần Tư Giản; hay từ trường hợp của Rabindranath Tagore để thấy “thơ không chỉ là ý, là tình hay là lời. Thơ kết hợp hài hòa giữa tư tưởng, tình cảm và ngôn ngữ vượt qua không gian và thời gian. Thơ đọng lại, rắn lại từ dung dịch tâm linh, thế sự và thiên nhiên.
Có thể thấy, mỗi nhà thơ nói riêng và mỗi người nghệ sĩ nói chung đều có cho mình một định nghĩa riêng, cảm quan riêng về thơ hay. Đối với Triệu Từ Truyền, ông nhận định: “Thơ không chỉ là lời chữ để thông tin, không chỉ là lời chữ để mô tả, để ca ngợi, để trình bày, để tâm sự… Thơ là lời chữ được thử thách qua nhiều chặng đường gian nan của tâm linh, chữ nào đứng được và gắn vào một câu có biên độ lớn, lay động lòng người, làm giật mình người đọc mới thật sự là câu thơ hay. Một chữ phải tích được điện thơ”. Đúng vậy, như Đỗ Phủ từng nói: “Lạc bút kinh phong vũ/Thi thành khấp quỷ thần”(Hạ bút làm kinh hoàng mưa gió/Thơ làm xong khiến quỷ thần phải khóc), thơ được viết ra có thể xuất phát từ nhiều mục đích khác nhau nhưng cái cốt lõi, điều còn lại sau cùng chính là sức ám ảnh của những con chữ. Sức ám ảnh này không chỉ nói lên giá trị của bài thơ mà còn kết nối được mọi người trong thế giới hữu tâm lại bên nhau. Đó chính là sức mạnh “siêu thực” của thơ. Điều quan trọng nhất, thi nhân muốn tạo ra những câu thơ ám ảnh như thế phải vừa có tài lại vừa có tâm để dựng nên những “chiếc cầu tâm linh” vững chắc, giúp thuần phục những con chữ này từ những âm binh chữ” hóa thành “một sinh thể thơ”. Mặc dù không phải bao giờ “những âm binh chữ” cũng vô nghĩa và không có giá trị. Bởi chữ là công cụ của một kiểu sáng tạo. Với nhiều khuynh hướng, trường phái thơ, người sáng tác để “cuộc say” của chữ diễn ra hết sức tự do, nhiều khi tạo ra thứ tưởng chừng vô nghĩa. Nhưng trong một sự cảm nhận, đánh giá ở những khía cạnh nhất định, nó có thể lại chứa đựng nhiều nghĩa, mang nhiều yếu tố độc đáo, gây ấn tượng lạ.
Từ đây, chúng ta đặt ra câu hỏi thi sĩ viết thơ để làm gì? Triệu Từ Truyền cho hay: “Nếu nhà văn, nhà sử học được xem là thư ký của thời đại, thì thi sĩ, nhạc sĩ được xem là tri kỷ của kiếp người. Tri là biết, biết ở đây không phải chỉ biết như nhà ngoại cảm, tiên tri, hay nhà tâm lý với con người nào đó, mà biết đau nỗi đau, khổ nỗi khổ của đời người”. Hóa ra người thi sĩ viết thơ trước là cho bản thân họ và sau là cho người đời thấy được Tình Người. Xuất phát từ tâm thức của thiên lương, tâm thức của cái đẹp, thơ đối với bậc thi nhân không chỉ là phương tiện chuyển tải, gửi gắm tư tưởng, tình cảm, cảm xúc mà còn là chốn hạnh phúc để dung chứa và nuôi dưỡng cái đẹp, tìm đến sự cân bằng hài hòa trong tâm hồn và thế tục, “lánh nạn” khỏi những hiện thực khắc nghiệt của cuộc sống: “Thơ là một cách tiếp cận khác với yếu tính vũ trụ, với tuyệt đối khác hẳn công cụ khoa học và các lĩnh vực khác. Bởi vì nhà thơ biết hơn ai hết cần có môi trường thơ vì sự bất lực của nhiều môi trường trong cuộc hiện sinh”. Hơn thế, “thơ làm phong phú tâm hồn, cao hơn thơ nâng cao tâm thức của người đọc, giúp người đọc trực cảm được nhiều vấn đề về thế giới quan trọng lúc đọc thơ… Thơ là chiếc cầu tâm linh nối tâm hồn với tâm hồn, nối người với vật, nối vật chất với ý thức”. Đó là giá trị vĩnh cửu mà thơ có thể mang lại cho bất cứ ai khi tiếp xúc với nó cả người viết thơ lẫn người thưởng thơ.  
Đọc Những chữ qua cầu tâm linh , ta thấy rõ được sự lo lắng lẫn nghi ngại của tác giả về tâm thức và hành vi sáng tạo của một bộ phận người viết thơ thời nay, cũng như cảm được phần nào tấm lòng mà Triệu Từ Truyền đã dành cho thơ lẫn cho nghiệp viết của mình. Ông đau đáu về vấn đề văn học truyền thống trung đại của nước ta trong một thời gian dài bị bỏ ngỏ, trì trệ. Trong khi chúng ta cứ mãi đề cao thơ phương Tây mà quên mất rằng thơ Việt Nam đã từng có những thi phẩm mang giá trị tư tưởng lẫn nghệ thuật vượt thời đại và xứng đáng được có vị thế cao hơn. Tác giả mời độc giả chiêm nghiệm lại một trong những thi phẩm như thế của Cao Bá Quát: “… Nàng ngỡ dung nhan bền lâu/ Đành bọc trăng vào tà áo/ Giữ lại hương sắc thuở nào/ Cắt áo viết lời nhung nhớ/ Gửi chàng ước vọng bên nhau”. Chỉ riêng chừng đó câu, cứ ngỡ là chuyện “biết rồi, khổ lắm, nói mãi”, ấy thế mà Triệu Từ Truyền đánh giá như vậy là đã đủ nâng tầm của Thánh Quát lên cao hơn một bậc so với nhà thơ cùng thời – Alphonse de Lamartine. Thật vậy, có lẽ chúng ta đã đánh giá không tương xứng giá trị của văn học nước nhà khi luôn so sánh với các trào lưu, trường phái văn học phương Tây để rồi tỏ thái độ dựa dẫm, lấy chúng làm quy chuẩn lúc nào chẳng hay. Bởi vậy, tác giả đặt ra vấn đề nhức nhối, cũng là “nỗi đau chung” của nhiều lĩnh vực trong đó có văn học: “Nếu chỉ bắt chước người khác thì không mong gì bằng được người ta, nói gì đến có tác phẩm độc đáo tầm cỡ quốc tế”. Một trong những nguyên nhân khiến nền văn học của chúng ta không có sự đột phá, mới mẻ so với thế giới cũng được tác giả phân tích khá kỹ là vì ý thức quy chuẩn, điển phạm của các thi sĩ nước ta quá lớn: “Nếu ở thế kỉ 21, mà chỉ làm thơ như ở thế kỉ 13, 15 hay 17 thì không nên làm, vì thời đại nào cũng có đỉnh cao thi ca của nó, bắt chước y như cũ không thể hay hơn được, dẫn đến ước lệ nhàm chán. Đồng thời, bắt chước làm mới theo kiểu hình thức nào đó, giống như ghép nhiều sợi chỉ dọc với nhau, không có sợi chỉ ngang của tâm tư, tình cảm, không thể dệt được tấm lụa thơ óng ả. Hơn nữa, ai chỉ làm thơ vì cái gì ở bên ngoài nội tâm thì không thể có sáng tạo”. Để tìm ra “tấm lụa óng ả” của thơ, trước hết thi sĩ cần ý thức được sự sáng tạo tự thân, dù có bắt chước thì cũng phải tìm cho ra được yếu tố mới, yếu tố riêng của mình trong sự bắt chước ấy. Nếu chỉ “dĩ Âu vi trung” thì nền văn học nước nhà chẳng mấy chốc trôi tuột theo viễn cảnh “người sáng tác và người đọc vẫn trong trạng thái người mù sờ voi. Người loay quay đi tìm các trường phái của nước ngoài để áp đặt vào văn chương trong nước, người mù quáng quờ đụng một lối viết nào đó, của sự dốt nát, sự làm xiếc, sự đánh lận con đen để nổi tiếng, rồi ngợi ca như tác phẩm của thiên tài”.
Triệu Từ Truyền càng lo lắng hơn về “Chuyện con khỉ ăn cam” đã và đang lan rộng trong bộ phận lớn người đọc ngày nay: “Con khỉ vừa cạp vỏ cam, vội ném đi vì trái cam vừa the vừa đắng. Nó không biết lột vỏ để tìm vị ngọt thanh – chất bổ dưỡng của trái cam – nên mãi mãi tưởng trái cam là đồ bỏ đi. Tác phẩm nghệ thuật cũng là một trái cam chất lượng cao. Bạn muốn thưởng thức, nên biết cách lột vỏ”. Bởi thơ nói riêng và văn học hiện đại nói chung ngày càng được mở rộng biên độ của chức năng giải trí. Hệ lụy đi cùng là yếu tố nhận thức và thẩm mỹ ngày càng eo hẹp, bị ẩn tàng, ít được đông đảo thị hiếu tiếp nhận quan tâm, thậm chí bị hiểu nhầm một cách quá đáng: “Một số đông người chỉ muốn ăn củ khoai vì không cần lột vỏ khoai cũng ăn được. Dần dần thị hiếu bị xuống cấp, thẩm mỹ bị đồng hóa với dung tục, tư tưởng bị nô dịch cho kẻ khác và cuối cùng mất nhân cách vẫn không hay biết” . Một khi văn chương dễ dãi kiểu mỳ ăn liền lên ngôi thì kiểu tư duy, cảm nhận tác phẩm theo bóng chữ đương nhiên trở thành khó hiểu, thậm chí được xem như sự quái gở. Tính hư cấu của văn chương dễ dàng được đồng nhất với hiện thực thực tế như một sự phản ánh quy chụp. Đó mới chính là sự lố bịch thực sự khi văn chương bị đánh mất đi phẩm giá vốn có của chính nó. Ngoài ra, tác giả còn chú ý đến việc sử dụng ngôn ngữ dân tộc trong việc sáng tác thơ. Bởi những đặc tính đặc trưng của tiếng Việt đã giúp cho thơ có “mảnh đất trù phú” vừa thuận lợi mà lại vừa thách thức đối với người làm thơ trong quá trình “gieo hồn, gặt thơ”. Ông cho rằng: “Thơ hay không phải do thể loại, trường phái hay quan niệm làm thơ, song trước hết muốn có thơ hay là trung thực với chính mình, nghĩa là biết tự hào ngôn ngữ dân tộc mình”. Đó chính là tinh thần tự tôn của mỗi quốc gia, cũng là tính dân tộc của thơ nói riêng và văn chương nói chung.
Có nhà thơ nổi tiếng đã từng phát biểu rằng: “Thơ xuất hiện rất nhiều. Đó là điều mừng, là dấu hiệu của thời kỳ yên bình, vui vẻ”. Lời phát biểu trên không hẳn đã đúng nhưng cũng không sai trong nhiều trường hợp văn chương đã được lịch sử ghi nhận. Nhưng đó cũng là vấn đề đáng để chúng ta quan tâm, suy ngẫm về một thời đại khi mà thơ phần lớn bị rẻ rúng, được xem là thể loại đi trước về sau. Cũng bởi đặc thù của thơ khác với các thể loại khác, thơ hay, thơ ám ảnh không phải là cái gì dễ dàng có được. Bằng kinh nghiệm và tâm hồn của một nhà thơ, mỗi câu chuyện, mỗi luận giải, mỗi dẫn chứng thơ trong Những chữ qua cầu tâm linh đã đưa người đọc đến với thế giới thơ thông qua “chiếc cầu tâm linh” đầy bí ẩn và thú vị. Nó chẳng ở đâu xa lạ mà gần gũi trong cái tài và cái tâm của mỗi thi sĩ. Tác giả đã minh giải rất nhiều vấn đề và đưa ra nhiều dẫn chứng thú vị, hấp dẫn. Tuy nhiên, trong vị thế của một người nghệ sĩ luôn tâm huyết về thơ, đôi vấn đề được tác giả đánh giá còn hơi chủ quan và cực đoan. Ông khẳng định rằng: “Các triết gia phương Tây luôn bị đầu óc phân tích và tổng hợp kiểu lý tính thuần túy, luôn nhận thức theo thuyết duy lý nên chỉ có tầm nhìn của tri thức, thiếu hẳn tầm nhìn của tâm thức”. Điều đó thực không đúng vì nếu như vậy thì chắc chắn cuốn “Thi học” của Aristotle sẽ không trở thành tác phẩm nền tảng chung cho sự đào sâu và mở rộng thành những lý thuyết văn học phương Tây sau này, cũng như không được chính Triệu Từ Truyền lấy ví dụ nhiều đến thế trong cuốn sách của mình. Bởi tự cổ chí kim, tự Đông sang Tây, dù là thi sĩ hay triết gia, nếu không có tầm nhìn của tâm thức thì những tác phẩm họ viết ra không thể lưu truyền đến hậu thế rộng rãi và dài lâu. Hay một nhận định khá chủ quan khác của tác giả: “Bởi vì nhà thơ biết hơn ai hết cần có môi trường thơ vì sự bất lực của nhiều môi trường trong cuộc hiện sinh”. Từ khi con người biết làm thơ, biết nhận thức về kiếp sống hiện tồn của chính họ và mối quan hệ giữa con người với vạn vật, cuộc hiện sinh kia đã tồn tại trong nhiều môi trường khác nhau, trong đó có thơ. Ngay chính bản thân các khuynh hướng, trào lưu thơ của thời kỳ hiện đại và hậu hiện đại lại càng ý thức rõ hơn về sự bất lực này, chí ít là bất lực hơn so với các thể loại khác như tiểu thuyết hay truyện ngắn,… Thơ thời nay tỏ ra vị thế của một vị công chúa đỏng đảnh, khó đoán, không phải ai cũng đến được gần nàng và hiểu được “bóng chữ” của nàng.
Bằng tình yêu thơ và tâm huyết của mình với văn chương, nhà thơ Triệu Từ Truyền đã viết Những chữ qua cầu tâm linh như một triết luận về thơ ca, và gửi gắm trong đó những ý kiến, đánh giá, bài học thực sự đáng quan tâm. Đó là những vấn đề rất quan trọng và đáng quan ngại trong diện mạo của thơ Việt Nam nói chung và thơ ngày nay nói riêng.  

N.H.M

Read more…

VĂN MINH LÀ CỐ GẮNG TẠO TÁC CÂN BẰNG - Tiểu luận Triệu Từ Truyền

                     

                                                Nhà thơ Triệu Từ Truyền
                                              

Lịch sử cho thấy con người luôn làm hết sức mình để san bằng bất công, để tạo thế quân bình,  kềm chế những thế lực cực đoan.
Từ nguyên thủy con người sinh ra giữa thiên nhiên hoang dã, hoang dã tự nhiên là một trở lực lớn cho con người tồn tại và phát triển, vì vậy con người phải chế ngự thiên nhiên để phục vụ cho con người suốt nhiều triệu năm qua, thế rồi thế kỷ 20 ngộ ra nếu tàn phá thiên nhiên quá đáng, thiên nhiên sẽ đe dọa sinh tồn của sinh vật kể cả con người. Bây giờ con người đang chăm sóc thiên nhiên như chăm sóc em bé, thế nhưng chưa hẳn thiên nhiên chịu hồi sinh, chịu bước ra khỏi phòng săn sóc đặc biệt để cùng tồn tại với sinh vật như 50 triệu năm qua. Thậm chí thiên nhiên còn biến dị, trở thành "ác thần",  nổi loạn như thời tiết cực doan để trả đũa loài người.
Có lúc hành tinh phủ toàn thực vật xanh biếc, không có chỗ trống để dựng lều, đi tìm suối nước phải vượt qua gai gốc, nên con người phải phá bỏ những chướng ngại ấy vừa đủ, vì bản năng sống. Tạo tác cân bằng thô sơ giữa con người và tự nhiên bắt đầu như vậy!
Thiên nhiên cũng vui với nhiều thành phố nhỏ, dù bị chặt bỏ ít nhiều cây rừng, san bằng vài ngọn đồi thấp, lấp một ít ao hồ sông rạch... Bộ mặt tự nhiên xinh xắn lên nhờ bàn tay khéo léo, tài hoa của con người, như một phụ nữ tỉa tót trang điểm vừa phải, thiên nhiên và phụ nữ hấp dẫn như nhau, diễm lệ như nhau!
Vài thế kỷ gần đây, con người đua nhau đục khoét, tàn phá hành tinh vì những công trình kỳ vỹ cho quân sự, kinh tế, kể cả phô trương thành phố to tát, tượng đài đầy dục vọng... thu hẹp dần núi rừng và đất sống cho các sinh vật khác. Phải chăng lần này chính thủ phạm là con người phá vỡ cân bằng với tự nhiên?
Con người có trí nhưng khổng hẳn tinh khôn đích thực?!
Lý trí giúp con người khôn ra từ vài ngàn năm trước, để thoát khỏi hoang dã suốt gần năm mươi triệu năm kể từ khi loài người hiện hữu trên hành tinh. Tuy nhiên, lý trí cũng chệch hướng khi duy lý rơi vào lộ trình cực đoan, lúc ấy tư duy cũng phản bội con người, Descartes rất đau buồn vì câu nói nổi tiếng "tôi tư duy là tôi hiện hữu" bị phản tác dụng. Thành tựu tư duy mới nhất, gần nhất của con người là tìm thấy nguyên tử rồi hạ nguyên tử, ngoài những vận dụng phục vụ cho con người, cũng bị vận dụng để hủy diệt con người, như bom nguyên tử; bom kinh khí,..
Phải chăng đe dọa mất cân bằng cho sinh tồn của loài người là do chính con người gây ra?! Đã đến lúc con người phài tự vấn lại phương thức tư duy của chính mình, sau khi đã tự vấn mọi hành vi tệ hại của mình.
Lý tri cho con người khám phá cái cực nhỏ của vật chất và du hành vào vùng cực lớn của vật chất, tuy nhiên cho đến nay, chỉ mới giới hạn ở vài phần trăm (4,9%, còn lại 95,1 % là năng lượng và vật chất tối) *   nghĩa là chỉ ở phần sáng,  trong khi phần tối đa số tuyệt đối này đang chi phối liên tục vào phần sáng, phải chăng vì vậy con người chỉ tính được xác suất mà thôi, thậm chí tri thức đành bất lực: dẫn đến phương thức tư duy sai lầm!

Như vậy, hạn chế tối đa sai lầm trong tư duy là bước đầu tiên dẫn đến tạo tác cân bằng.
Loài người chứng kiến biết bao học thuyết, biết bao nhận thức sai lầm suốt mấy ngàn năm qua, nhưng không sao nó sẽ được cải chính, được bổ sung, dần dần hoàn thiện giúp ích cho nhân loại. Phải chăng cho đến tận bây giờ, chưa thật sư có một phương thuốc nào chữa tận gốc được các bệnh tật về văn hóa xã hội kinh tế chính trị trên hành tinh này?
Chúng ta biết ơn những nhà tư tưởng, những hiền triết và nhiều triết gia vì động cơ cứu giúp nhân loại thoát khỏi hỗn mang và hoang dã mà xây dựng biết bao học thuyết, đề xuất biết bao định đề, nguyên lý… Họ vắt óc, quên mình vì lý tưởng giải phóng nhân loại. Tuy nhiên, do khoa học chưa đạt những thành tựu như đầu thế kỷ 21, vật lý chưa có thuyết tương đối và thuyết lượng tử, chưa biết có năng lượng tối và vật chất tối, chưa biết có nhiều vũ trụ song song, v.v... nên họ không đủ dữ liệu để phán đoán, chưa hình thành phương thức tư duy thỏa đáng để xây dựng phạm trù và quy luật cũa nhận thức. Ngay cả họ tạo được phương thức tư duy hoàn hảo nhất thì cũng chỉ đáp ứng được nhận thức của 5% thuộc về phần sáng của vật chất. Muốn nhận thức được chút ít gì của 95% phần tối của vật chất, cần phải có phương thức tiếp cận khác, không chỉ đơn thuần động não mà thôi.
Cho đến nay, con người biết được hai khả năng tiếp nhận thực tại, tiếp nhận bằng trí tuệ và tiếp nhận bằng trực cảm tâm linh. Cả hai phương thức bổ sung cho nhau, chuyển hóa lẫn nhau, giống hai chân người bước di, ấy là bước đi của nhận thức, càng ngày càng đi xa hơn trên đường tiệm cận thực tại. Rất tiếc, hàng ngàn năm qua loài người thường đi một chân thôi, ở phương Đông chỉ dùng chân trực cảm, ngược lại phương Tây chỉ dùng chân lý trí. Vì vậy chúng ta tiến lên rất chậm, thậm chí dẫm chân tại chỗ. Gần đây, (có thể bắt đầu từ thế kỷ 18 phải không?) những thức giả của cả hai phương trời mới nhận ra sai lầm này.
Tiếp nhận bằng lý trí, dùng tri giác và cao hơn là khoa học thực  nghiệm chỉ tiếp cận được phần vật chất sáng, nghĩa là đạt tối đa tri thức chỉ vỏn vẹn 5% thực tại. Nhận thức qua trực cảm có thể nhìn thấy được phần vật chất tối, nghĩa là từng lúc từng nơi thấy được một hoặc nhiều mặt nào đó của 95% thực tại. Tuy nhiên tiép nhận qua trực cảm tâm linh rất ít người có đủ năng lượng để làm rõ nét thực tại, nên nhận thức trong mơ hồ. Do vậy cần công cụ của lý trí sáng tạo như toán học và vật lý lượng tử… soi sáng rõ nét hơn.
           Không chỉ những nhà tư tưởng, nhà thơ, nhà văn, những nghệ sĩ sáng tác cần  cân bằng trong tư duy và thể hiện, mà ngay cả mỗi công dân luôn ý thức cân bằng trong tư duy và hành động, trước hết là những công dân có trách nhiệm chỉ huy, lãnh đạo.

Đạ B’lao Am, mùa thu 2017 
T.T.T




Read more…

NHÀ THƠ LỆ THU ĐÃ “TỰ NHỦ” VỚI LÒNG MÌNH ĐIỀU GÌ? - Bài của Mang Viên Long

Nhà thơ Lệ Thu





Nhà văn Mang Viên Long

      Cho đến tháng 8 năm 2014, nhà thơ Lệ Thu đã có 10 tập thơ được xuất bản, tính từ tập thơ đầu tiên là “Xứ Sở Loài Chim Yến” (năm 1980) và tuyển tập 268 bài thơ (và một trường ca gồm 12 chương) có tựa “Điềm Đạm Việt Nam” vừa được nhà xuất bản Văn Học ấn hành; như “tổng kết” một chặng đường dài làm thơ của chị!
      Gần nửa thế kỷ làm thơ, sống gắn bó với thơ - Lệ Thu đã chứng tỏ sự nhạy bén và tinh tế qua từng tác phẩm được giới thiệu; điều nầy cho thấy, sức sáng tạo của chị rất đỗi phong phú, bền bỉ; nhất là luôn “bắt nhịp” được với mọi biến chuyển vi tế của đời sống, của thời đại, cho dầu vẫn với phong cách “điềm đạm” của những vần thơ giàu âm điệu, trong sáng và trữ tình!
      Bài thơ “Tự Nhủ” được Lệ Thu viết vào năm 1999, năm cuối cùng của thế kỷ 20 - cũng là bài thơ “đón chào” thiên niên kỷ mới của chị. Mở đầu bài thơ, Lệ Thu đã “tự nhủ” với lòng mình ngay hai điều:
      “Đừng viết về niềm vui
        khi lòng ta thực sự buồn
        Đừng viết về nỗi buồn
        khi ta quá cách xa những cuộc đời bất hạnh…”
      Hai lần “đừng” (không nên) là hai lần “tự dặn lòng” đầu tiên mà chính Lệ Thu đã từng trải nghiệm (hay “nhìn” thấy); coi đây là “kim chỉ nam” cho những bước đi tiếp theo trong lộ trình sáng tác của mình - cũng là “lời nhắn nhủ” với tất cả một cách khiêm cung, tế nhị: “Đừng viết về niềm vui/khi lòng ta thực sự buồn” - Lòng ta đang buồn nẫu ruột, sao lại viết là vui? Đó là một thái độ sáng tạo nghiêm túc, chân chính cần có nơi người nghệ sĩ. Người đọc, sẽ nhận ra, nếu có kẻ nào làm ngược lại - tức là “viết về niềm vui/ khi lòng thực sự buồn”, là tự lừa dối mình và lừa dối người khác! Đây là một việc làm đã không phải là của văn học, mà còn cho thấy phẩm chất thấp kém, yếu hèn của người sản sinh ra nó. Là tự mình “bôi đen” tên tuổi, danh dự của chính mình!
      “Đừng viết về nỗi buồn
        khi ta quá cách xa những cuộc đời bất hạnh…”
      Lần “đừng” (không nên) thứ hai nầy, tuy đơn giản - nhưng lại là điều rất quan yếu mà người cầm bút cần phải “tâm niệm” (và tránh xa) mỗi khi làm công việc gọi là “sáng tạo”: Sự giả trá “khi ta quá cách xa những cuộc đời bất hạnh” mà huênh hoang, tô vẽ, hay bóp méo (vvv) về  “nỗi buồn” của con người trước cuộc sống -  là đồng nghĩa với sự “học đòi & đạo đức giả” mà thôi! Đây cũng là một thái độ lợi dụng văn học, cho ý đồ xấu xa được che đậy lộ liễu…
       Cả hai sự “lừa dối” nầy, đều phát xuất từ một cái tâm không chính đáng - hay rõ hơn, là từ một người cầm bút không có đức “tàm sỉ” (tự xấu hổ), và không có tài năng!   
       Và thơ (hay văn) phải là:
              “những con sóng đi tìm bầu bạn
                những trái tim chân thật đợi chờ
       Sự rung cảm tự nhiên được dâng trào sôi nổi như “những con sóng đi tìm bầu bạn” và tình thương yêu giữa người và người phải được nở ra ngát hương với “những trái tim chân thật đợi chờ”. Đây là một lời quy kết ngắn gọn, nhẹ nhàng, nhưng vô cùng sâu sắc, bền vững!
        Nhà thơ đã tiếp tục khẳng định một điều tưởng đã cũ - nhưng là điều phải được nhận như là lời “tuyên ngôn” cho bất cứ người làm công tác sáng tạo nghệ thuật nào:
                “Phải biết làm người trước lúc làm thơ”
         Thơ (văn - nghệ thuật nói chung) có mặt vì con Người có mặt. Tất cả là để phục vụ cho con Người - nâng cao tâm hồn, cải thiện cuộc sống; đồng thời chuyển hóa cái xấu ác thành cái nhân bản, thiện lành! Thiêng trách trước tiên của người làm nghệ thuật là phải “làm Người” cái đã. (Không biết “làm người” thì viết để làm gì, cho ai?). Chúng ta có thể hiểu thêm rằng “phải biết làm Người trước khi làm tất cả mọi việc”
               “Phải biết nhận về mình chát chua cay đắng
                 để vị ngọt cuộc đời còn đọng ở câu thơ…”
          Mở đầu bài thơ là hai lần “đừng” (không nên) và tiếp theo là hai lần “phải” (nên làm) - nhà thơ đã “điềm đạm” tự nhủ với lòng: “Phải biết nhận về mình chát chua cay đắng/để vị ngọt cuộc đời còn đọng ở câu thơ” - như một lời tâm sự thì thầm tha thiết. Hy sinh cuộc đời riêng cho lợi lạc số đông, là một “thông điệp” mà người nghệ sĩ có tâm huyết, có hoài bão - cần phải trui rèn, học tập. Một nhà văn phương Tây đã từng bày tỏ: “Muốn cho người khóc ta, thì chính ta phải khóc trước đó!” cũng là điều dễ hiểu. Sự từng trải gian khó, khổ đau; chịu nhiều bất hạnh, cô đơn (…) luôn là nguồn năng lực vô song, giúp người nghệ sĩ đạt đến ước mơ dâng hiến một cách trọn vẹn và hoàn hảo nhất! Nhà văn Nga PauxTopxki cũng đã nói: “Thơ là cuộc sống được thể hiện ở dạng hoàn thiện nhất, là thế giới mở ra trong tất cả chiều sâu mà cặp mắt dửng dưng lười nhác không thể bao quát được”.
            Hệ quả tất yếu mầu nhiệm của Thơ phải là:
            “và khi…chiều vãn nắng
              bóng tối mình không đổ xuống những chồi xanh
              Khi mặt trời lặn sau địa cầu
              xin thơ hãy làm trăng
              làm giọt sương đêm cho hoa ủ mật.”
                   “Khi chiều vãn nắng” (ngày đang hết/ cuộc đời đang trôi qua) -  nhà thơ đã “tự nhủ” phải làm sao cho "Bóng tối mình không đổ xuống những chồi xanh”- bằng cái tâm rộng mở nhân ái, rằng không thể để lại sự yếu hèn, thấp kém, tội lỗi cho “những chồi xanh” của một ngày mai đang phơi phới. Cụm từ “bóng tối mình” được sử dụng ở đây thật bao quát, sâu thẳm và vô cùng gợi cảm!
            Nhà thơ đã tâm niệm (hay ước mơ):
                “Khi mặt trời lặn sau địa cầu
                  xin thơ hãy làm trăng
                 làm giọt sương đêm cho hoa ủ mật.”
           Tôi nhớ lời phát biểu của nhà thơ Đức -Wolfgang Goethe (1749 - 1832): “Lời thơ làm ra tôi chứ không phải tôi làm ra lời thơ” - chức năng của thơ tự nó “làm ra tất cả” khi được phát nguồn từ trái tim nhạy cảm chân thật! Một chút “ánh trăng” êm ái hay những “giọt sương đêm” phơn phớt trong lành; nhưng đã là duyên lành “cho hoa ủ mất”, cho đời thêm hương vị ấm nồng!
           “Nghìn đời xưa và nghìn đời sau
            Thơ không làm hành khất
            Thi sĩ gian truân
             thơ ứa lệ đồng hành…”
         Thơ chung thủy với thi sĩ, luôn “làm kẻ đồng hành” như bóng với hình trong cõi nhân sinh đầy hệ lụy! “Thi sĩ gian truân” thì thơ liền “ứa lệ”! Thơ gắn bó keo sơn với thi sĩ là vậy - và nhất định không thể “làm hành khất” cho dầu bị trôi dạt vào trong một bến bờ đen tối nào! Muốn đạt được sự “đồng nhất” trọn tình nầy, trước hết - nhà thơ phải nặng nghĩa “sống chết” với thơ trong suốt cuộc đời mình (chứ không thể tự nhiên mà có được)!
          Nhà thơ đã tinh tế gợi ra hình ảnh “hạt cát thông minh” cùng với “người vĩ đại vô danh”, để giải bày một cách nhẹ nhàng, lời “tự nhủ” với mình (và với người):
           “Có triệu triệu con người vĩ đại vô danh
             Hạt cát thông minh không tách riêng mình
             để tự xưng sa mạc…”


          Con người thường có ảo tưởng về mình - nhất là người nghệ sĩ, luôn “tách riêng mình để tự xưng sa mạc…”: dầu họ chỉ là một hạt cát! Cái “ảo tưởng” nguy hại nầy sẽ giết chết sự sáng tạo, ngăn chận bước tiến của nghệ thuật ngày mỗi đổi mới. Muốn được là “hạt cát thông minh” không phải là điều dễ làm! Điều kiện trước tiên, là phải có cái “Tâm như đất”. Đại sư Nalada đã nói: “Có một điều ta luôn có thể làm được, đó là giữ Tâm bình thản như đất!” khi đứng trước mọi nghịch cảnh. (“Ai người như đất khiêm cung/Giữ lòng ấm áp, bao dung, nồng nàn/Nhận về nắng dội, mưa chan/Mà cho trái ngọt, mùa vàng, hoa thơm (…)” - Tri Âm Của Đất, Lệ Thu -  thì mới có thể thành tựu.

           Điều kiên thứ hai:
          “Không nhất thiết uống những gì thiên hạ khát
            Phải biết sợ thời gian, biết sợ chính mình.”
           Bên cạnh cái tâm an tĩnh như nhiên rộng mở ấy (Bi) - là một sự lựa chọn (Trí)  để có thái độ cương quyết (Dũng):Không nhất thiết uống những gì thiên hạ khát”.
           Kết thúc những lời “Tự Nhủ” - nhà thơ đã dặn lòng: “Phải biết sợ thời gian, biết sợ chính mình.”. Hai điều “nhắc nhở” mình sau cùng là hai cái “sợ”: “sợ thời gian & sợ chính mình”. “Sợ” thời gian qua mau, đời người ngắn ngủi khi chưa làm được gì cho mình, cho đời - nên cần phải trân quý, đã đành; nhưng tại sao lại “sợ chính mình”?
            Thái độ luôn biết tỉnh giác tự “phòng hộ mình” là một thái độ minh triết. Nói rõ hơn, “phòng hộ mình”  (hay “sợ chính mình”) là phòng hộ cái tâm điên đảo buông lung luôn giao động chạy theo cái bất thiện. (“Tâm phàm phu cứ lén lút đi một mình, rất xa, vô hình vô dạng, như ẩn náu hang sâu. Điều phục được Tâm thì giải thoát khỏi vòng ma trói buộc” - PC 37). Tâm niệm “sợ chính mình” chính là sự chánh niệm, để giữ mình luôn trong sáng, chất trực trước mọi thử thách, cám dỗ!
          Bằng một giọng thơ rất “điềm đạm”, nhà thơ Lệ Thu đã “nói với mình” (và nói với người) rất nhiều điều tâm huyết, sau gần nửa thế kỳ sống với thơ ca. Bài “Tự Nhủ” có thể xem như “lời trần tình” về thơ của Lệ Thu cùng chúng ta vậy!

Tháng 9 năm 2014
M.V.L (Bình Định)

TỰ NHỦ - Thơ Lệ Thu

Đừng viết về niềm vui
khi lòng ta thực sự buồn
đừng viết về nỗi buồn
khi ta quá cách xa những cuộc đời bất hạnh
những con sóng đi tìm bầu bạn
những trái tim chân thật đợi chờ

Phải biết làm người trước lúc làm thơ
Phải biết nhận về mình chát chua cay đắng
để vị ngọt cuộc đời còn đọng ở câu thơ
và khi… chiều vãn nắng
bóng tối mình không đổ xuống những chồi xanh
Khi mặt trời lặn sau địa cầu
xin thơ hãy làm trăng
làm giọt sương đêm cho hoa ủ mật.

Nghìn đời xưa và nghìn đời sau
Thơ không làm hành khất
Thi sĩ gian truân
thơ ứa lệ đồng hành

Có triệu triệu con người vĩ đại vô danh
Hạt cát thông minh không tách riêng mình
để tự xưng sa mạc
Không nhất thiết uống những gì thiên hạ khát
Phải biết sợ thời gian, biết sợ chính mình.

1999
LỆ THU

          
Read more…

TỪ TƯƠNG TÁC TỰ NHIÊN ĐẾN TƯƠNG TÁC NHÂN SINH - Tiểu luận của Triệu Từ Truyền

  
Năm rồi Nhà thơ Triệu Từ Truyền đã xuất bản tiểu thuyết luận đề Tương Tác - 320 trang, NXB Hội Nhà Văn - 2013. Theo yều cầu của một số độc giả, muốn hiểu ý niệm tương tác là gì? Hương Quê Nhà xin đăng phần mở đầu của bản thảo triết luận này.

                                          Nhà thơ Triệu Từ Truyền


Con người không ngừng đi tìm những giải pháp cho đời sống. Đời sống của con người từ nguyên thủy đến hiện đại luôn bị những nỗi đau dày vò
Nhiều học thuyết có hệ thống từ hơn 2000 năm qua đưa ra giải pháp, mong xóa bỏ tận gốc đau khổ của hành tinh xanh. Hàng trăm triết gia từ Đông sang Tây, suốt dọc lịch sử nhân loại ra sức trình bày giải pháp. Thầy và học trò của các học thuyết này đã có nhiều thành tựu, song cũng chưa hơn một liều thuốc giảm đau. Căn bệnh của nhân loại chưa trị được tân gốc, và có phải cần đặt ra giết sạch vi trùng và siêu vi không;  như những bậc thầy đưa ra “diệu kế” của mình, học trò thực hiện quyết liệt, thậm chí bằng những kế sách phi nhân  ác độc?
Có bài thơ sau:
tôi đi giữa đêm lạnh lắng từng nhịp bước nẻo đời
vẫn thấy chơi vơi
tôi qua giữa chặng   đường
còn hoài nghi gì nữa...?
đạo lý của con người
biến hóa biết bao đời và thay đổi bấy nhiêu nơi
người ơi, mặt đường nhựa đen quẩn quanh trong thành phố
đi tới đi lui to nhỏ được gì?
lướt tới nữa mấy khi gần chân lý
lời đáp ngàn năm xưa Chúa nghĩ vẫn chưa thành.
 Giữa Đêm Noel- 25/12/1985
     Rõ ràng nỗi thất vọng trước đấng toàn năng cũng là nỗi thất vọng trước những đấng cứu nhân độ thế khác, trong đó có các bậc thầy tư tưởng và  triết gia .
Bài viết này không viết lại lược sử triết học, cũng không phê phán một học thuyết nào vì việc đó có rất nhiều sách đã xuất bản trên toàn cầu. Hơn nữa, học thuyết nào cũng có nhân tố đúng, cũng có đóng góp cho một giai đoạn thực tiễn của lịch sử, nhưng như những nấc thang lên cao dần, học thuyết sau tiệm cận gần thực tại hơn học thuyết trước.
   Tiến trình của triết học cũng là tiến trình của khoa học. Vì vậy, những khám phá toán học, vật lý và sinh học thường là chứng liệu cho tư duy triết học. René Descartes (1596 – 1650 được Phương Tây tôn vinh là người sáng lập triết học hiện đại, ông  áp dụng phương pháp quy nạp của khoa học, trước hết của toán học, vào tư duy triết học. Từ tiểu luận triết học (Essais philosophiques) xuất bản năm 1637. Tác phẩm gồm bốn phần, ba phần đầu nói về hình học; quang học, sao băng và phần 4 quan trong nhất: trình bày về phương pháp (Discours de la méthode)  mới thật sự mổ xẻ  về triết lý.
Có nhiều lộ trình để đi đến triết lý, không nhất thiết cùng lộ trình với René Decartes. Ở phương Đông thông qua tri thức xã hội và lịch sử cũng dẫn đến tư duy triết lý như: Không Tử, Mạnh Tử. (Phương Tây có cùng trường hợp là Aristole; Platon; Socrate). Độc đáo  là  Phật Thích Ca và đệ tử thông qua thiền định, trực cảm tâm linh, một kênh hiểu biết khác, ấy là tâm thức. Tuy nhiên, lộ trình khởi thủy của triết học phương Tây luôn dính liền với tri thức khoa học, vật lý, hình học, thiên văn học. Càng về sau càng dính dáng sâu với khoa học xã hội như xã hội học; kinh tế học; lịch sử; mỹ học… Tóm lại, triết học là bộ khung tư duy của các lãnh vực khoa học và chiều ngược lại triết học cũng cần hấp thu những thành tựu của khoa học tự nhiên lẫn khoa học xã hội, như gốc cây hấp thu dưỡng chất do lá cành quang hợp.
Một thí dụ cho luận điểm trên là triết học của Karl Marx (1818 - 1883) bắt nguồn từ triết học, kinh tế học và xã hội học, cộng với sử dụng nhiều thành tựu của toán học. Trong tác phẩm Biện Chứng Của Tự Nhiên, để chứng minh quy luật phủ định của phủ định, Engel đã dùng ý niệm toán -a x –a = +a (trừ a nhân với trừ a bằng cộng a).
     Tuy nhiên Toán học là chuỗi suy luận từ một định đề ban đầu, cũng chỉ là một hệ thống duy lý, chưa hẳn từ thực tiễn nhân sinh. Song, chính toán học là công cụ cốt lõi để giải quyết nhiều lãnh vực của nhân sinh. Định đề Euclid: “Qua một điểm nằm ngoài một đường thẳng ta vẽ được một và chỉ một đường thẳng song song với đường thẳng đã cho.” Mỗi định đề cũng chỉ đáp ứng cho một mặt của thực tại. Bên cạnh Eucid (330-275 ), còn có hai đề xuất:  qua một điểm nằm ngoài một đường thẳng không kẻ được một đường thẳng song song nào (Riemann 17 tháng 91826 – 20 tháng 71866))  và có thể kẻ vô số những đường thẳng song song với nó (Lobatchevsky (1 tháng 12 năm 1792 – 12 tháng 2 năm 1856). Như vậy là hình học có đến 3 định đề sau hơn 2000 năm  tư duy qua nhiều thế hệ. Phải chăng hình học đã đi đầu cho quan niệm “đa chân lý”; đa thực tại. Mãi đến giữa thế kỷ 20, Vật lý mới có thuyết tương đối mở rộng, và thuyết lượng tử tiếp tục củng cố cho quan niệm đa thực tại. Đồng thời triết học mới ra đời như hiện tượng luận, chủ nghĩa hiện sinh vô thần để chối bỏ định mệnh do thượng đế đặt để, thực chất xã hội cũng đa quyền lực, không chỉ có quyền lực duy nhất của hoàng đế, hoặc đảng của tập đoàn lợi ích nào đó, thậm chí mỗi người là quyền lực của chính mình. Nhà văn Nga Dostoievsky viết: “ Nếu không có thượng đế thì tôi là thượng đế”.

Nhận biết được tương tác nhân sinh để chấm dứt thời kỳ biệt phái, ngông nghênh của vài vị tự cho mình là thiên tài, thẩm  định lại vấn đề cơ bản của triết học, chấm dứt tranh cãi lực nào quyết định thân phận con người.
Trước khi kết luận thẩm định vấn đề cơ bản của triết học, nên tìm hiểu những tương quan sau đây:
I/ Bốn tương tác tự nhiên dẫn đến bốn tương tác nhân sinh:
 Nếu trong vật chất, tương tác mạnh (a) diễn ra trong nhân nguyên tử, do những hạt sứ giả gluon  trói chặt nhân nguyên tử (1), tương ứng diễn ra trong nhân sinh là tương tác bản năng, chính bản năng sinh tồn làm con người hiện hữu, bản năng là nhân tố chính của tập quán, truyền thống, bản sắc văn hóa  của mỗi cộng đồng người.
 Tương ứng với tương tác yếu (b)  tương tác tâm thức, do năng lượng tâm linh vượt qua nhiều vũ trụ khác nhau nên thoạt nhìn không được mạnh như tương tác bản năng, song chúng quyết định tài năng, bản lĩnh, thành tựu của con người tương tự như hạt sứ giả W và Z có vai trò quan trọng trong cấu tạo vũ trụ.
  Hai tương tác nhân sinh:  bản năng và tâm thức ảnh hưởng mạnh mẽ nhất cho từng nhân thân (cá nhân), cũng như tương tác mạnh và tương tác yếu luôn diễn ra trong thế giới vi mô vậy.
Tương tác hấp dẫn (c) (trọng trường) và tương tác điện từ (d) diễn ra trong thế giới vĩ mô, tương ứng như vậy tương tác tri thức  tương tác quyền lực diễn ra trong cộng đồng xã hội loài người.
Tương tác tri thức làm xã hội loài người đứng vững và phát triển khoa học, cũng như tương tác hấp dẫn giữ vật thể trên trái đất không bay vào khoảng không vô định, rộng hơn giữ cho hệ mặt trời bền vững, giữ cho các thiên hà tồn tại trong vũ trụ đang giãn nở.
    Đồng thời, tương tác điện từ  diễn ra khắp nơi, ai cũng có thể biết; thấy; chạm phải được. Tương ứng như vậy, tương tác quyền lực cũng phổ biến trong xã hội, từ lực cầm quyền các cấp (mà người dân thấp cổ bé miệng mọi thời kỳ lịch sử thường ví nó như tai ách; gông xiềng), lực giáo quyền, đến lực người đứng đầu một hội đoàn; kể cả gia đình... đều chi phối mỗi cá thể; đương nhiên tương tác quyền lực cũng có hai mặt cũng như điện có thể thắp sáng và cũng có thể làm chết người trong nháy mắt.
Đến đây thấy rõ bốn tương tác nhân sinh là bốn lực căn bản duy trì cộng đồng và cá thể của xã hội loài người tồn tại và phát triển. Không nên chỉ nhấn mạnh và  khuyếch đại một lực tương tác nhân sinh sẽ dẫn đến sai lầm trong nhận thức và thực tiễn. Trong lịch sử nhân loại có triết gia xem bản năng chi phối mọi hành vi của con người, nghĩa là chỉ nhấn mạnh tương tác bản năng. Ngược lại, có học thuyết chỉ thấy bảo vệ quyền lợi giai cấp, bảo vệ lợi ích kinh tế là động cơ để phát triển (trong đó giành quyền sở hữu tư liệu sản xuất), nghĩa là chỉ biết có tương tác quyền lực mà thôi. Mặt khác, có triết gia chủ trương lịch sử văn minh là do chủng tộc thông minh, với nhiều cá thể siêu nhân điều khiển đám đông, triết gia ấy chỉ thấy có tương tác tri thức. Tương tác tâm thức bị một số người lợi dụng đề cao mê tín, thần quyền bóp méo tương tác tâm thức thành quyền lực của một đấng siêu hình nào đó, phủ nhận vai trò của tương tác khác dẫn đến phủ nhận khoa  học, phủ nhân bản năng tốt của con người.
Thử tưởng tượng trong thế giới vật chất nếu chỉ có một tương tác, mà ba tương tác còn lại vắng mặt, chắc chắn sẽ không có vũ trụ, không có hệ thái dương và dĩ nhiên cũng chẳng có trái đất. Nhờ có đủ bốn tương tác trong tự nhiên mà sinh vật người mơi hình thành và tồn tại. Vì vậy cá nhân và cộng đồng người cũng cần có đủ bốn tương tác nhân sinh mới có thể tồn tại văn minh  được.
Từ bốn tương tác nhân sinh: tương tác tri thức - tương tác quyền lực -  tương tác bản năng – tương tác tâm thức, dẫn đến cần điều chỉnh vấn đề cơ bản của triết học.
II/ Đổi mới các quan niệm triết lý:
1/ Không còn ranh giới rạch ròi giữa vật chất và ý thức, cũng như không có ranh giới giữa sóng và hạt trong vật lý vậy. Nhận thức triết học từ đầu thế kỷ thứ 20 trở về trước chỉ giới hạn trong thế giới ba chiều không gian với một chiều thời gian (mà thực chất cũng chính là một chiều không gian mà thôi). Nên những nhà vật lý quan niệm rằng nhân loại trên trái đất đang sống trong vũ trụ bốn chiều không gian (2), bao hàm khái niệm bên cạnh không gian bốn chiều còn có những đa chiều không gian khác nữa. Bị giới hạn trong bốn chiều không gian nên triết học chỉ biết có vật chất và ý thức, dẫn đến biện chứng pháp duy tâm hoặc duy vật, dẫn đến tầm nhìn duy lý  hạn chế và sai lệch trong nhân sinh. Thành tựu của thuyết tương đối rộng và thuyết lượng tử cũng như những thành quả thực nghiệm về 12 hạt lepton, 6 hạt boson (3) làm thay đổi ý niệm về vật chất và tinh thần, cùng lúc những thành tựu về vật lý vĩ mô, về vũ trụ hướng tới khái niệm năng lượng vô hình của những vũ trụ đa chiều không gian, tạm gọi là năng lương tâm linh. Phải chắng năng lượng tâm linh vừa tham gia vào cấu trúc vũ trụ bốn chiều, vừa kết nối các tương tác tự nhiên, vừa là kênh liên thông giữa các vũ trụ đa chiều?
2/  Vì vậy, nên bổ sung vào quan niệm của Descarte  vấn đề cơ bản của triết học không chỉ liên quan đến hai ý niệm vật chất và tinh thần mà cần bổ sung ý niệm tâm linh, cho nên con người cũng phải có ba thành tố: tâm linh - thân xác – ý thức.
3/ Chính năng lượng tâm linh dẫn đến nội dung mới hơn của biện chứng pháp, biện chứng pháp tâm linh (có thể gọi là biện chứng vô thường) sẽ giúp con người không xung đột vũ trang; không có kẻ thù giữa người và người.( 4 )
4/ Quan niệm về cái tôi hiện hữu nên nói: “tôi tương tác là tôi hiện hữu” để thay thế câu nói của Descarte: “tôi tư duy là tôi hiện hữu” và câu nói của Albert Camus : “tôi nổi dậy là tôi hiện hữu”.
Bốn  điểm kết của bài viết này cũng là bốn vấn đề triết học thiết thực cần đào sâu nghiên cứu đến nơi đến chốn.
Tháng 3/2014
 Triệu Từ Truyền    


Chú thích (1)   Sáu hạt sứ giả (boson)

Tên
Ký hiệu
Phản hạt
Charge (e)
Spin
Khối lượng
(GeV/c2)
Trung gian tương tác của
Sự tồn tại
Γ
Tự nó
0
1
0
Xác nhận
W
W+
−1
1
80,4
Xác nhận
Z
Tự nó
0
1
91,2
Lực tương tác yếu
Xác nhận
G
Tự nó
0
1
0
Xác nhận
H
Tự nó
0
0
125,3
Xác nhận
G
Tự nó
0
2
0
Chưa xác nhận
·           
·         (a) Lực tương tác mạnh ảnh hưởng bởi các hạt quarkphản quark và gluon- (hạt boson truyền tương tác của chúng). Thành phần cơ bản của tương tác mạnh giữ các quark lại với nhau để hình thành các hadron như proton và neutron. Thành phần dư của tương tác mạnh giữ các hadron lại trong hạt nhân của một nguyên tử chống lại lực đẩy rất lớn giữa các proton đó là lực điện từ.
·         (b) Mặt trời sẽ không chiếu sáng nếu không có lực tương tác yếu (b) bởi vì sự chuyển đổi từ proton sang neutron, ở đó deuterium, nguyên tố đồng vị của hidro được tạo ra và tạo ra phản ứng hidro, với nguồn năng lượng giải phóng cực lớn.
·          
·         (c) Tương tác hấp dẫn của Trái Đất tác động lên các vật thể có khối lượng và làm chúng rơi xuống đất. Lực hấp dẫn cũng giúp gắn kết các vật chất để hình thành Trái ĐấtMặt Trời và các thiên thể khác; nếu không có nó các vật thể sẽ không thể liên kết với nhau và cuộc sống như chúng ta biết hiện nay sẽ không thể tồn tại. Lực hấp dẫn cũng là lực giữ Trái Đất và các hành tinh khác ở trên quỹ đạo của chúng quanh Mặt Trời.  
·         (d) Tương Tác điện từ, gần như mọi tương tác giữa các nguyên tử đều có thể quy về lực điện từ giữa proton và electron nằm bên trong. Nó sinh ra tương tác giữa các phân tử, và các lực đẩy và kéo khi tác động cơ học vào các vật, và tương tác giữa các quỹ đạo của electron, điều khiển các phản ứng hoá học.
·         (2) Đa vũ trụ là giả thiết về sự tồn tại song song các vũ trụ (có cả vũ trụ chúng ta đang sống), trong đó bao gồm tất cả mọi thứ tồn tại và có thể tồn tại: không gian, thời gian, vật chất, năng lượng và các định luật vật lý. Thuật ngữ được ra đời vào năm 1895 bởi nhà tâm lí và lí luận học người Mỹ William James. Những vũ trụ cùng tồn tại trong khối đa vũ trụ được gọi là thế giới song song.
Lý thuyết dây: Lý thuyết dây hình thời gian giãn ra tạo nên vũ trụ, bảy chiều khác vẫn cong nhỏ như trước. Vũ trụ chúng ta đang sống là một màng bốn chiều, vốn là biên của một hình cầu năm chiều. Nằm cách ta một khoảng cách vi mô trong chiều thứ năm là một màng khác, được gọi là "màng bóng" (như hình với bóng, nhưng bóng cũng thực như hình). Hai màng hình và bóng chỉ tương tác nhau qua lực hấp dẫn. Khi đó vật chất hay năng lượng tối của màng này chính là vật chất thông thường của màng bên cạnh. Hai màng có thể tự co giãn và va chạm nhau. Đối với chúng ta (đang sống trên một màng), cú va chạm chính là Big Bang
 (3) Nghĩa là Hợp đề luôn luôn mới hơn, tiến bộ hơn và nhất là hoàn toàn hủy diệt xóa bỏ Đề, kể cả Phản đề. Điều này thực tại không diễn ra như vậy. Thực tại là trong âm có dương, trong dương có âm. Thực tại là photon (ánh sáng) vừa hạt vừa sóng; những hạt hạ nguyên tử luôn luôn chuyển hóa giữa hạt và sóng. Phải chăng nên dùng khái niệm biện chứng vô thường cho thực tại nêu trên?
Có thể mượn việc tháp cây để nhận ra biện chứng vô thường. Trong vườn cây cũ (đề) được ghép với giống cây mới tốt hơn (phản đề) sẽ cho kết quả ba loại cây: cây trực sinh (giống hệt như cũ); cây hỗn hợp giữa cũ và mới (hợp đề); cây hoàn toàn mới (phản đề). Nghĩa là Hợp đề không thể hủy diệt hết cái trước đó (cũ), Hợp đề là vô thường của Đề, Đề là vô thường của Phản đề. Trong sinh học và xã hội không thoát khỏi biện chứng vô thường. Nếu có một loài sâu gây hại mùa vụ (đề), dùng hóa chất để trừ khử chúng (phản đề), không phải thế là hết loài sâu đó (hợp đề) mà sẽ có những con sâu kháng thuốc, rồi sinh sản một thế hệ sâu mới khó giết chúng hơn, như vậy ở đây hợp đề vẫn chính là tiền đề có chất lượng cao hơn, biện chứng pháp Hegel phá sản trong trường hợp phổ biến này.
Tư duy lục bát là tư duy biện chứng vô thường; nghĩa là tiền đề gặp phản đề cho ra đa hợp đề:

         Đề (these)—Phản đề (anti these)— Đa hợp đề (multisynthese) 

Hơn nữa đa hợp đề này có cả phản đề và đề xuất hiện trong hệ quả. Như vậy trực cảm tâm linh sẽ chọn ra vài hợp đề có xác suất cao nhất trong nhiều hợp đề đó. Nói cách khác hợp đề là xác suất như trong cơ học lượng tử. ( trích Dòng Chảy Lục Bát của Triệu Từ Truyền - 2009)


THAM KHẢO
I- (vài từ tiếng Anh để tiện tra cứu:
 Subatomic = hạ nguyên tử
interacting particles = hạt tương tác
grain structure = hạt cấu trúc
particle texture = hạt cấu tạo
natural interaction = tương tác tự nhiên
human interaction = tương tác nhân sinh)

II- Triết hc là n lc ca lý trí tìm kiếm nhng nguyên lý ti hu ca thc ti và ca hin hu.
Triết học chào đời trong cái nôi bình minh nhân loại, khi con người ngơ ngác trước lẽ hiện sinh và tự hỏi: Tại sao tôi có trên đời? Tôi sống để làm gì và sau khi chết tôi sẽ đi về đâu? Tại sao lại có sinh, lão, bệnh, tử và vô vàn những xung đột, bất công nẩy sinh trong cuộc sống v.v… Tự vấn về thân phận mong manh của kiếp người luôn là nỗi thao thức khôn nguôi của con người. Triết học tham gia vào lý giải những vấn nạn đó và có tham vọng giải quyết một cách rốt ráo mọi vấn đề.



Read more…

CÁCH NHẬP COMMENT TRÊN HƯƠNG QUÊ NHÀ

Đầu tiên, nhấp chuột vào ô Nhập nhận xét của bạn rồi viết comment. Viết xong, nhấp chuột vào ô Tài khoản Google. Sau đó nhấp chuột vào Tên/URL thì sẽ hiện ra 2 ô. Ô phía trên, ghi Họ và tên của bạn. Ô phía dưới, ghi dòng chữ:huongquenha.com

Cuối cùng, nhấp chuột vào ô Tiếp tục và nhấp chuột tiếp vào ô Xuất bản là xong. (Nếu bạn đã có sẵn Tài khoản Google, thì sau khi viết comment, chỉ cần nhấp chuột vào ô Xuất bản là thành công)

Số lượt xem tháng trước


-------------------------------------------------------------------------


TÁC GIẢ & TÁC PHẨM
* TÁC GIẢ & TÁC PHẨM * TÁC GIẢ & TÁC PHẨM * TÁC GIẢ & TÁC PHẨM * TÁC GIẢ & TÁC PHẨM---------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------
Ái Nhân (21) Ambrose Bierce (1) ẢNH (58) Anh Ngọc (1) Anh Nguyên (1) Anh Phong (4) Anh Phương (9) âm nhạc (2) âm thanh (1) Ân Thiên (1) Bạch Diệp (5) Bách Mỵ (2) BÀN TRÒN VĂN NGHỆ (87) Bảo Hồ (1) Bảo Lâm (1) Bảo Ninh (2) Bé Hải Dân (1) Bích Ái (3) Bích Lê (4) Bích Ngọc (1) Bích Vân (2) Bình Địa Mộc (3) Bình Nguyên (1) Bình Nguyên Trang (2) binh pháp (1) Bình Tâm (1) Bobby Nam Giang (3) Bùi Anh Sắc (1) Bùi Công Thuấn (1) Bùi Danh Hải Phong (1) Bùi Đức Ánh (66) Bùi Hoài Vân (5) Bùi Huyền Tương (2) Bùi Hữu Phước (1) Bùi Nguyên Bằng (25) Bùi Nhựa (4) Bùi Văn Bồng (5) Bùi Việt Thắng (2) BÚT KÝ (17) Ca Dao (2) Cao Duy Thảo (1) Cao Kim Quy (1) Cao Thị Thu Hà (3) Cao Thọ Thêm (2) Cao Thoại Châu (1) Cao Thu Hà (1) Cao Trọng Quế (1) Cao Văn Tam (5) Cát Du (7) Catherine Mansfield (1) Cẩm Lệ (4) Cẩm Tú Cầu (1) Chàng Cát (1) Chánh Đức (1) CHÀO XUÂN 2014 (1) CHÂN DUNG VĂN NGHỆ SĨ (2) Châu Đoàn (1) Châu Quang Phước (1) Châu Thạch (9) Châu Thường Vinh (1) Chí Anh (1) Chính Đức (1) chủ (1) CHỦ BIÊN (141) Chu Giang Phong (1) Chu Lai (2) Chu Ngạn Thư (10) Chu Trầm Nguyên Minh (16) Chu Vương Miện (1) Chúa Sơn Lâm (1) Cỏ Dại (7) covid 19 (1) Công Nguyễn (1) Cơ Xương (1) Cúc Dương (1) Cuộc thi văn chương (1) CỬA SỔ VĂN HÓA (6) Dạ Ngân (1) Dã Phong Bình (2) Dã Phương (1) Dạ Thảo (2) Dạ Thy (1) Diệp Linh (18) Diệp Uy (1) Dino Buzzati (3) DỌC ĐƯỜNG (29) Du Tử Lê (1) Dung Thị Vân (28) Duy Bằng (1) Duy Phạm (6) Dương Diệu Minh (1) Dương Đăng Huệ (1) Dương Hải Yến (2) Dương Hằng (7) Dương Kim Nhi (4) Dương Kim Thoa (1) Dương Phương Vinh (1) Dương Thành Thái (3) Dương Thị Yến Trinh (2) Dương Xuân Triều (6) Dzạ Lữ Kiều (6) Đàm Lan (17) Đan Ngọc (2) đạo đức (2) Đào Hiền (2) Đào Hữu Thức (2) Đào Khương (2) Đào Minh Hiệp (2) Đào Phạm Thuỳ Trang (82) Đào Quang Bắc (1) Đào Quý Thạnh (1) Đào Thanh Hoà (14) Đào Thị Quý Thanh (1) Đào Thị Thu Hiền (3) Đào Văn Đạt (31) Đào Viết Bửu (7) Đặng Châu Long (1) Đặng Diệu Thoa (1) Đăng Đăng (1) Đăng Huỳnh (1) Đặng Quốc Khánh (8) Đặng Quý Địch (3) Đặng Tấn Tới (2) Đặng Thị Hoa (2) Đặng Thị Xuân (1) Đặng Toán (1) Đăng Trình (1) Đặng Tường Vy (3) Đặng Văn Sử (1) Đặng Việt Trinh (1) Đặng Xuân Xuyến (9) ĐIỂM BÁO (2) Điêu Thuyền (1) Đinh Lốc (2) Đình Thậm (1) Đinh Vương Khanh (4) Đoàn Khương Duy (1) Đoàn Thị Minh Hiệp (4) Đoàn Tình (1) Đoàn Tuyết Thu (1) Đoản văn (1) ĐỌC SÁCH (30) Đỗ Chiến Thắng (6) Đỗ Duy Hoàng (15) Đỗ Hồng Ngọc (5) Đỗ KIm Dung (1) Đỗ Phu (1) Đỗ Quyên (2) Đỗ Tâm Linh (1) Đỗ Tấn Đạt (2) Đỗ Thị Kim Hải (2) Đỗ Trúc Hàn (1) Đỗ Văn Tiến (1) Đỗ Xuân Phương (1) Đức Linh (1) Đức Tiên (3) Elena Pucillo Truong (6) gan jing world (1) Ghi chép (2) Giang Đình (8) Giang Hiền Sơn (6) Giáo dục (1) Guy de Maupassant (1) Hà Đoàn (2) Hạ Ly (1) Hà Nguyên (2) Hà Nhi (1) Hà Nhữ Uyên (2) Hà Phi Phượng (1) Hạ Thi (3) Hà Thị Thu Hằng (1) Hà Tùng Sơn (1) Hải Điểu (1) Hải Miên (3) Hải Phong (2) Hải Thăng (1) Hải Thuỵ (6) Hải Yến (2) Hàm Sơn (1) Hàn Dã Thảo (2) Hàn Du Tử (17) Hàn Hữu Yên (1) Hàn Lâm (1) Hãn Nguyên Nguyễn Nhã (1) Hàn Nguyệt (1) Hàn Phong Vũ (19) Hàn Tín (1) Hạng Vũ (1) Hậu Cốc Ngang (1) Hậu Đậu (1) Hiếu Dũng (1) Hoa Hướng Dương (1) Hoa Mai (2) Hoa Tím Buồn (4) Hoa Tuyết (2) Hoà Văn (10) Hoa Xuyến Chi (1) Hoài Huyền Thanh (53) Hoan Giang (1) Hoàng Anh (6) Hoàng Anh 79 (26) Hoàng Chẩm (53) Hoàng Chẫm (1) Hoàng Đình Quang (2) Hoàng Giao (4) Hoàng Hạ Miên (6) Hoàng Hữu (1) Hoàng Khánh Duy (5) Hoàng Kim (1) Hoàng Kim Chi (1) Hoàng Kim Oanh (2) Hoàng Linh (6) Hoàng Long (2) Hoàng Lộc (8) Hoàng Mẫn (1) Hoàng Minh Tường (2) Hoàng Nghĩa Lược (1) Hoàng Ngọc Xuân (4) Hoàng Nguyên (1) Hoàng Phủ Ngọc Tường (1) Hoàng Thảo Chi (1) Hoàng Thị Bích Hà (1) Hoàng Thị Nhã (8) Hoàng Thị Thu Thủy (2) Hoàng Trang (1) Hoàng Trần (1) Hoàng Trọng Quý (9) Hoàng Trọng thắng (1) Hoàng Tuấn Sơn (1) Hoàng Tuyên (2) Hoàng Vũ Thuật (1) Hoàng Xuân Hiến (1) Hoàng Xuân Niên (1) Hồ Bích Ngọc (4) Hồ Bích Vân (2) Hồ Đắc Thiếu Anh (1) Hồ Hải (2) Hồ Lê Diêm (1) Hồ Nam (1) Hồ Ngọc Diệp (1) Hồ Nhật Quang (1) Hồ Sĩ Duy (1) Hồ Thanh Ngân (10) Hồ Thế Hà (2) Hồ Thế Phất (3) Hồ Thế Sinh (1) Hồ Tĩnh Tâm (1) Hồ Tịnh Thuỷ (21) Hồ Vũ Khánh Linh (1) Hồ Xuân Thu (3) Hội Nhà văn TP. HCM (1) Hồng Hạnh (3) Hồng Liễu (1) Hồng Phúc (8) Hồng Tâm (10) Huệ Triệu (3) HUMICHI (5) Huy Nguyên (15) Huy Vọng (17) Huy Vũ (1) Huyết Kiệt (1) Huỳnh Dạ Thảo (1) Huỳnh Gia (18) Huỳnh Kim Bửu (1) Huỳnh Minh Lệ (2) Huỳnh Ngọc Nga (1) Huỳnh Ngọc Phước (29) Huỳnh Như Phương (1) Huỳnh Thanh Lan (1) Huỳnh Thị Quỳnh Nga (1) Huỳnh Thúy Thúy (1) Huỳnh Văn Diệu (1) Huỳnh Văn Mỹ (1) Huỳnh Văn Yên (1) Huỳnh Xuân Sơn (3) Hương Đêm (1) Hương Đình (4) Hương Quê Nhà (1) Hương Văn (6) Hửu Thỉnh (1) Irina Polianxkaia (1) James Dylan (4) James Joyce (1) Jeffrey Thai (9) Jerry Thu Trà (7) Kai Hoàng (1) Kate Chopin (1) Kha Tiệm Ly (4) Khả Xuân (1) Khán Võ (2) Khảo Mai (1) khoa học (1) Khổng Trường Chiến (3) Khổng Vĩnh Nguyên (1) KỊCH BẢN (1) Kiên Giang (1) Kiến Giang (12) Kiều Huệ (1) Kim Chuông (4) Kim Dung (2) Kim Ngoan (15) Kim Quyên (1) Kim Sơn Giang (22) Kim Tiết (10) Kim Yến (1) Kỳ Nam (2) Ký sự (14) Lã Bố (1) La Hán (1) La Mai Thi Gia (1) Lạc Thảo (1) Lại Ngọc Thư (1) Lam Giang (3) Lan Anh (1) Lan Phương (1) Lan Thanh (1) Lãng Du (6) Lâm Bích Thuỷ (8) Lâm Cẩm Ái (3) Lâm Hạ (11) Lâm Huy Nhuận (1) Lâm Trúc (30) Lâm Xuân Vi (1) Lâu Văn Mua (1) Lê Ân (5) Lê Bá Duy (9) Lê Đình Danh (79) Lê Đức Hoàng Vân (1) Lê Đức Lang (13) Lê Giang Trần (1) Lệ Hằng (3) Lê Hoài Lương (4) Lê Hoàng (2) Lê Hứa Huyền Trân (39) Lê Khánh Luận (1) Lê Minh Chánh (1) Lê Minh Dung (2) Lê Minh Hải (3) Lê Minh Vũ (3) Lê Ngân (3) Lê Ngọc Phái (1) Lê Ngọc Trác (1) Lê Ngũ Nam Phong (11) Lê Nhựt Triết (8) Lê Phương Châu (30) Lê Quang Trạng (23) Lê Sa Long (2) Lê Thanh Hùng (34) Lê Thanh My (8) Lê Thấu (1) Lê Thị Cẩm Tú (6) Lê Thị Hồng Thắm (1) Lê Thị Kim (1) Lê Thị Ngọc Lệ (1) Lê Thị Ngọc Nữ (33) Lê Thị Thu Hiền (1) Lê Thị Xuyên (13) Lê Thiếu Nhơn (15) Lê Thống Nhất (6) Lê Thụy Phương (2) Lê Tiến Dũng (1) Lê Tiến Mợi (6) Lê Trọng Nghĩa (3) Lê Trung Hiếu (1) Lê Tuân (4) Lê Uyên (1) Lê Văn Hiếu (12) Lê Văn Ngăn (3) Lê Vi Thuỷ (1) Lê Vinh (4) Lê Xuân Tiến (1) Lindsay Polak (1) Linh Lan (7) Linh Lan (Quảng Nam) (8) Linh Phương (3) Linh Thy (2) Long Khánh (4) Long Vương (1) luân hồi (1) Lữ Hồng (3) Lư Nhất Vũ (1) Lương Cẩm Quyên (1) Lương Duyên Thắng (3) Lương Đình Khoa (1) Lương Sơn (27) Lưu Ly (6) Lưu Quang Minh (15) Lưu Thành Tựu (1) Lưu Thị Mười (2) Lưu Xuân Cảnh (2) Lý Khánh Vinh (15) Lý Thành Long (1) Lý Thời Miễn (1) M.T.N.H (7) Mã Nhị Lan (1) Mạc Minh (2) Mạc Tố Hồng (1) Mạc Tường (2) Mai Đức Trung (6) Mai Hạnh (1) Mai Kiệm (1) Mai Loan (12) Mai Nhật (2) Mai Thanh (1) Mai Thị Vân (1) Mai Thìn (3) Mai Tuyết (37) Mang Viên Long (63) Marie Hải Miên (4) Mẫu Đơn (1) Mèo Con (1) Mi Thu (1) Miên Đức Thắng (2) Miên Linh (1) Minh Châu (2) Minh Đan (Lọ Lem Đất Võ) (6) Minh Nguyên (15) Minh Nguyễn (3) Minh Nguyệt (15) Minh Nguyệt (NT) (1) Minh Nhân Tông (1) Minh Vy (25) Mỗi tháng một tác giả và một bài thơ hay (2) Mộng Cầm (8) Mộng Nam (1) Mùa Xanh (3) Mưa (1) Mường Mán (1) MỸ THUẬT (6) My Tiên (1) Mỹ Vân (1) Nam Art (2) Nam Cao (1) Nam Thi (17) Năm Bửu (1) Nấm Độc (1) NCCGL (4) Ngàn Thương (33) Ngày Đẹp Tươi (1) nghệ thuật. (1) nghiên cứu (1) Ngọc Bút (8) Ngọc Diệp (35) Ngọc Thịnh (1) Ngô Càn Chiểu (1) Ngô Cự Chính (2) Ngô Diệp (6) Ngô Đình Hải (7) Ngô Hồng Nhung (1) Ngô Liêm Khoan (1) Ngô Minh Trãi (3) Ngô Nguyên Ngiễm (1) Ngô Thị Hoà (1) Ngô Thị Ngọc Diệp (10) Ngô Thuý Nga (30) Ngô Thúy Nga (16) Ngô Thy Học (7) Ngô Văn Cư (52) Ngô Văn Giảng (11) Ngô Văn Khanh (17) Ngô Viết Hòa (2) Nguyễn (1) Nguyễn An Bình (70) Nguyễn An Đình (4) Nguyễn Ánh 9 (1) Nguyễn Bá Nhân (1) Nguyễn Bích Sao Linh (1) Nguyễn Bình (1) Nguyễn Bính Hồng Cầu (2) Nguyên Cẩn (26) Nguyễn Châu (2) Nguyễn Chinh (4) Nguyễn Công Thụ (2) Nguyễn Công Tùng Chinh (1) Nguyễn Cử Tú Quỳnh (2) Nguyên Diệp (1) Nguyễn Dũng (1) Nguyễn Duy Khương (6) Nguyễn Duy Phương (1) Nguyễn Duy Thịnh (3) Nguyễn Đại Duẩn (2) Nguyễn Đặng Mừng (3) Nguyễn Đăng Thanh (20) Nguyễn Đăng Trình (4) Nguyễn Đình Bảng (1) Nguyễn Đình Trọng (1) Nguyễn Đoan Tuyết (25) Nguyễn Đồng Bội Thảo (1) Nguyễn Đức Chính (5) Nguyễn Đức Cơ (1) Nguyễn Đức Mậu (2) Nguyễn Đức Minh (6) Nguyễn Đức Minh Hùng (10) Nguyễn Đức Nhân (1) Nguyễn Đức Phú Thọ (26) Nguyễn Đức Quyền (4) Nguyễn Đức Tấn (6) Nguyễn Đức Tình (4) Nguyễn Gia Long (1) Nguyên Hạ (11) Nguyễn Hải Thảo (2) Nguyễn Hậu (2) Nguyễn Hiếu (8) Nguyễn Hiếu Học (2) Nguyễn Hòa Hiệp (2) Nguyễn Hoài Ân (1) Nguyễn Hoàng Thức (2) Nguyễn Hồng Diệu (1) Nguyễn Huệ (3) Nguyên Hùng (1) Nguyễn Huy (3) Nguyễn Huy (HD) (1) Nguyễn Huy Khôi (1) Nguyễn Huỳnh (1) Nguyễn Hữu Minh (1) Nguyễn Hữu Phú (1) Nguyễn Hữu Quý (2) Nguyễn Hữu Thuần (4) Nguyễn Hữu Trung (2) Nguyễn Khiêm (1) Nguyễn Khoa Đăng (51) Nguyễn Kiều Lam (2) Nguyễn Kiều Phương (3) Nguyễn Kim Hương (7) Nguyễn Kim Thịnh (1) Nguyễn Lam (2) Nguyễn Lương Vỵ (4) Nguyên Minh (1) Nguyễn Minh Dũng (46) Nguyễn Minh Hoà (1) Nguyễn Minh Khiêm (1) Nguyễn Minh Nguyệt (1) Nguyễn Minh Phúc (47) Nguyễn Minh Quang (5) Nguyễn Minh Thuận (9) Nguyễn Minh Toàn (1) Nguyễn Mỳ (1) Nguyễn Mỹ Nữ (3) Nguyễn Nga (14) Nguyễn Nghiêm (3) Nguyễn Ngọc Dũng (1) Nguyễn Ngọc Đặng (1) Nguyễn Ngọc Hà (4) Nguyễn Ngọc Hưng (6) Nguyễn Ngọc Minh Anh (1) Nguyễn Ngọc Thơ (31) Nguyễn Ngọc Tư (5) Nguyễn Nguy Anh (21) Nguyễn Nguyên Phượng (69) Nguyễn Nhật Hùng (4) Nguyễn Như Tuấn (14) Nguyễn Phin (30) Nguyên Phong (1) Nguyễn Phú Yên (8) Nguyễn Phượng (2) Nguyễn Phương Dung (2) Nguyễn Quang Quân (8) Nguyễn Quang Tâm (2) Nguyễn Quang Tuấn (1) Nguyễn Quân (2) Nguyễn Quốc Ái (1) Nguyễn Quốc Bảo (1) Nguyễn Quốc Đông (1) Nguyễn Quy (2) Nguyên Tâm (1) Nguyễn Tấn Thuyên (3) Nguyễn Thái An (3) Nguyễn Thái Dương (6) Nguyễn Thái Huy (35) Nguyễn Thành Công (48) Nguyễn Thành Giang (22) Nguyễn Thanh Hải (1) Nguyễn Thanh Huyền (8) Nguyễn Thanh Mừng (1) Nguyễn Thánh Ngã (1) Nguyễn Thành Nhân (18) Nguyễn Thanh Tuấn (7) Nguyễn Thanh Xuân (2) Nguyễn Thế Kiên (1) Nguyễn Thế Kỷ (1) Nguyễn Thị Ánh Huỳnh (2) Nguyễn Thị Bích Phượng (2) Nguyễn Thị Cẩm Thuỳ (3) Nguyễn Thị Chi (2) Nguyễn Thị Diệu Hiền (3) Nguyễn Thị Hải (1) Nguyễn Thị Hằng (7) Nguyễn Thị Hậu (1) Nguyễn Thị Hồng Đào (10) Nguyễn Thị Huệ (1) Nguyễn Thị Kim Huệ (2) Nguyễn Thị Mây (127) Nguyễn Thị Ngọc Hải (1) Nguyễn Thị Ngọc Sen (2) Nguyễn Thị Như Tâm (3) Nguyễn Thị Phụng (27) Nguyễn Thị Thanh Bình (6) Nguyễn Thị Thành Nhân (1) Nguyễn Thị Thanh Toàn (1) Nguyễn Thị Thanh Xuân (1) Nguyễn Thị Thu Ba (23) Nguyễn Thị Thu Hiền (1) Nguyễn Thị Thu Hoài (1) Nguyễn Thị Thu Thuý (3) Nguyễn Thị Thùy Linh (3) Nguyễn Thị Tiết (3) Nguyễn Thị Tuyết (1) Nguyễn Thị Việt Hà (39) Nguyễn Thị Xuân Hương (14) Nguyễn Thu Hằng (1) Nguyễn Thủy (4) Nguyễn Thúy Ngân (13) Nguyễn Thuý Quỳnh (2) Nguyễn Thường Kham (3) Nguyễn Thượng Trí (2) Nguyễn Tiến Đường (8) Nguyễn Trần (1) Nguyễn Trí Tài (40) Nguyễn Trọng Luân (2) Nguyễn Trung (1) Nguyễn Trung Nguyên (1) Nguyễn Tuyển (4) Nguyễn Văn Ân (68) Nguyễn Văn Bút (6) Nguyễn Văn Công (2) Nguyễn Văn Cường (CCK) (4) Nguyễn Văn Hiến (5) Nguyễn Văn Hoà (5) Nguyễn Văn Hòa (2) Nguyễn Văn Học (55) Nguyễn Văn Ngọc (1) Nguyễn Văn Thanh (1) Nguyễn Văn Thành (1) Nguyễn Văn Thảo (17) Nguyễn Văn Toan (1) Nguyên Vi (1) Nguyễn Việt Hà (2) Nguyễn Vinh (1) Nguyễn Vĩnh Bình (3) Nguyễn Xuân Cảm (3) Nguyễn Xuân Dương (1) Nguyễn Xuân Khánh (1) Nguyễn Xuân Thuỷ (1) Nguyễn Xuân Thủy (1) Nguyễn Xuân Tư (3) Nguyệt Linh (5) Nguyệt Quế (1) Ngưng Thu (44) Nhã Ngọc (1) Nhã Thiên (7) nhà Thương (1) Nhân Hậu (2) NHÂN VẬT (1) Nhật Nguyệt Xuân Hương (1) Nhật Quang (17) Nhất Sinh (1) Nhật Vũ (1) Nhi Hạ (1) NHỚ THUỞ ẤU THƠ (37) Như Hoài (4) NHỮNG ÁNG VĂN HAY VỀ LÀNG QUÊ VIỆT NAM (7) NHỮNG NGƯỜI BẠN ĐÂT THỦ (6) NHỮNG NGƯỜI THỰC HIỆN HQN (5) Nông Quốc Lập (2) NP phan (1) Nửa Đời hư (1) NỬA THÁNG MỘT TÁC GIẢ VÀ MỘT BÀI THƠ HAY (38) nước (1) O. Henry (1) P.N. Thường Đoan (1) Pearl (1) Phạm Ánh (34) Phạm Anh Xuân (3) Phạm Bá Nhơn (2) Phạm Cao Hoàng (1) Phạm Đình Nghi (1) Phạm Hổ (1) Phạm Hữu Hoàng (20) Phạm Kiều Hưng (1) Phạm Lâm (1) Phạm Lê Tường Vi (1) Phạm Minh Dũng (14) Phạm Minh Hiền (9) Phạm Minh Thuận (10) Phạm Mỹ (1) Phạm Ngân (3) Phạm Như Vân (1) Phạm Phan Hòa (1) Phạm Phương Lan (1) Phạm Quỳnh An (1) Phạm Thái Ba (4) Phạm Thị Hải Dương (9) Phạm Thị Liên (1) Phạm Thị Mỹ Liên (30) Phạm Thị Phương Thảo (3) Phạm Thuý (6) Phạm Trần Ái Linh (4) Phạm Trung Tín (2) Phạm Tuấn Vũ (29) Phạm Tử Văn (21) Phạm Văn Phương (16) Phạm Văn Thạnh (1) Phạm Vũ (1) Phan Anh (12) Phan Cung Việt (1) Phan Đức Nam (1) Phan Hoài Thương (1) Phan Hoàng (2) Phan Huỳnh Điểu (1) Phan Hữu Lý (1) Phan Khanh (2) Phan Mai Thư Nhã (6) Phan Nam (20) Phan Quỳnh Như (1) Phan Sửu (1) Phan Tấn Lược (6) Phan Thanh Cương (2) Phan Thị Huỳnh Trang (2) Phan Tiên Phát (1) Phan Tình (1) Phan Trang Hy (25) Phan Văn Bình (1) Phan Văn Thạnh (1) Phan Văn Thuần (3) Phan Vĩnh (1) phần 1 (1) phần 2 (1) phần 3 (1) phần 4 (1) Phiêu Vân (1) Phong Dương (2) Phong Điệp (1) Phỏng vấn (7) Phú Ngọc (1) Phú Quang (3) Phú Xuân (8) Phùng Gia Lộc (1) Phùng Hiếu (10) Phùng Hiệu (1) Phùng Hoàng Chương (1) Phùng Phương Quý (7) Phụng Thiên (1) Phùng Văn Khai (1) Phước Vũ (1) Phương Phương (10) Phương Uy (5) Quan Thế Âm (1) Quảng Ngọc (1) Quảng Ngôn Lê Ngữ (1) Quang Thám (1) Quang Tuấn Dũng (9) Quốc Hùng (2) Quốc Tuyên (1) quy luật dịch (1) Quỳnh Lệ (1) Quỳnh Nga (16) Quỳnh Trâm (1) Rason Helmandollar (1) Raymond Carver (1) Raymond Thư (1) Rêu (Cao Hoàng Từ Đoan) (13) SÁCH BẠN VĂN (71) SARAH HALL (1) SINH NHẬT (1) Song Ninh (11) Sông Hương (11) Sông Lam (1) Sông Song (8) Sơn Tịnh (2) Sơn Trần (15) Sruthi Thekkiam (1) Stephen Crane (1) T.T.Hiếu Thảo (22) Tạ Nghi Lễ (1) Tạ Thị Hoa (14) Tam quốc diễn nghĩa (4) TẢN VĂN (230) TẠP BÚT (624) Tạp chí Văn Mới (1) TẠP CHÍ VN BÌNH DƯƠNG (11) Tashi Dawa (1) Tâm Lãng (1) Tâm Nhiên (2) Tấn Hòa (1) Tần Khánh (4) Tân Vương Huy (1) TẬP SAN ÁO TRẮNG (39) Tập san Văn học nghệ thuật Hương Quê Nhà (1) Tây bá hầu Cơ Phát (1) Tây Du Ký (1) Tây Sơn bi hùng truyện (2) Thạch Anh (2) Thạch Cầu (1) Thạch Đà (7) Thạch Lam (1) Thạch Sene (5) Thái An Khánh (2) Thái Hoà (1) Thanh Bình Nguyên (27) Thành Dũng (1) Thanh Hải (1) Thanh Huyền (2) Thanh Lương (2) Thanh Minh (4) Thanh Phong (1) Thanh Sơn (1) Thanh Thảo (3) Thanh Trắc Nguyễn Văn (42) Thanh Tùng (7) Thành Văn (3) Thạnh Văn (1) Thanh Xuân (2) Thảo Nguyễn (1) Thâm Tâm (1) Thần Y (1) Thi Ngọc Lan (1) Thiên Ân (1) Thiên Di (5) Thiên Sơn (1) Thiên Thần Áo Trắng (7) Thiên Tôn (10) Thiên Trần (1) Thiệp chúc mừng năm mới (4) Thiệp chúc Tết (3) Thiệp mừng (3) Thông báo (1) Thơ (3149) Thơ Lê Nhựt Triết (1) THƠ MỜI HOẠ (7) THƠ PHỔ NHẠC (106) Thời sự Văn nghệ (6) Thu Dung (3) Thu Hằng (1) Thu Hiền (1) Thu Hoài (1) Thu Nga (1) Thuận Thảo (8) Thuận Yến (1) Thục Minh (7) Thuỳ Anh (13) Thuỵ Du (1) Thụy Du (3) Thuỳ Dương (1) Thùy Dương (1) Thủy Điền (1) Thuỳ Nhân (1) Thư cảm ơn (1) Thư ngỏ (1) THƯ NGỎ CỦA HQN (2) Thư tin (285) THƯ VIỆN TÁC GIẢ (1) Tiểu luận (4) Tiểu Mục Đồng (1) Tiểu Nguyệt (5) Tiểu thuyết (107) Tiêu Tương (1) Tin buồn (2) TIN VĂN (2) Tịnh Bình (19) Tịnh Minh Tiến (2) Tô Hồng Phương (1) Tô Kiều Ngân (1) Tố Mai (3) Tô Minh Yến (21) Tôn Nữ Hỷ Khương (2) Tôn Thất Út (2) Tôn Tư Mạc (1) Tống Ngọc Hân (1) Tống Xuân Tám (1) Trà Bình (4) TRABATHA (1) Trác Phi (1) Trang Linh (1) Trang Lộc (1) Trang Thơ Chào Xuân Mậu Tuất 2018 (1) TRANG THƠ CHỦ NHẬT (528) Trang Thơ Đón Xuân Đinh Dậu 2017 (1) TRANG THƠ ĐƯỜNG LUẬT (17) Tranh ảnh (3) Trầm Mặc (4) Trần Anh Dũng (1) Trần Bảo Định (4) Trần Băng Khuê (1) Trần Biên Thùy (1) Trần Dần (1) Trần Duy Đức (17) Trần Dzạ Lữ (4) Trần Định (1) Trần Đình Sử (2) Trần Đoàn Luận (1) Trần Đức ÁI (2) Trần Đức Hiển (1) Trần Đức Tín (1) Trần Hà Nam (4) Trần Hoàng Vy (2) Trần Hồng Vân (5) Trần Huiền Ân (2) Trần Huy Minh Phương (2) Trần Hữu Du (1) Trần Hữu Hội (17) Trần Kim Đức (5) Trần Kim Loan (2) Trần Kim Quy (1) Trần Lê Sơn Ý (2) Trần Linh Chi (1) Trần Long Thạch (1) Trần Lưu (1) Trần Mai Hường (11) Trần Mạnh Hảo (1) Trần Minh Nguyệt (16) Trần Năm (1) Trần Ngọc Hồ Trường (4) Trần Ngọc Mỹ (11) Trần Nguyên Hạnh (6) Trần Nhã My (2) Trần Như Luận (3) Trần Nhương (1) Trần Phù Nam (1) Trần Quang Dũng (4) Trần Quang Khanh (12) Trần Quang Lộc (1) Trần Quang Ngân (10) Trần Quốc Tiến (8) Trần Quốc Toàn (1) Trần Quốc Việt (1) Trần Tâm (7) Trần Thái Hưng (5) Trần Thanh Hải (3) Trần Thành Nghĩa (1) Trần Thế Nhân (13) Trần Thị Bích Thu (1) Trần Thi Ca (9) Trần Thị Cổ Tích (2) Trần Thị Huệ (1) Trần Thị Huyền Trang (3) Trần Thị Mai (1) Trần Thị Ngọc Hồng (1) Trần Thị Thanh (5) Trần Thị Thắng (1) Trần Thị Thương Thương (4) Trần Thị Trúc Hạ (1) Trần Thị Uyên (8) Trần Thiện (3) Trần Thiện Tuấn (1) Trần Thoại Nguyên (2) Trần Thuận (7) Trần Thúy Lành (6) Trần Thuỳ Trang (1) Trần Thư (1) Trần Thương Nhiều (1) Trần Trọng Hưng (2) Trần Trọng Tân (1) Trần Trọng Vũ (2) Trần Tuấn Anh (2) Trần Tuấn Thanh (10) Trần Vạn Giã (2) Trần Văn Bạn (16) Trần Văn Nhân (5) Trần Văn Thiên (1) Trần Việt (1) Trần Viết Dũng (11) Trần Võ Thành Văn (24) Triết học (2) Triều Âm (2) Triều Châu (1) Triều La Vỹ (2) Triệu Lam Châu (1) Triệu Từ Truyền (30) Trịnh Bửu Hoài (106) Trịnh Duy Sơn (2) Trịnh Hoài Linh (5) Trịnh Huy (4) Trịnh Thuỳ Mỹ (1) Trịnh Tuyên (1) Trịnh Viết Hiền (1) Trịnh Viết Hiệp (1) Trịnh Yến (2) Trọng Mật (2) trụ vương (1) Trúc Giang (4) Trúc Lập (1) Trúc Linh Lan (2) Trúc Thanh Tâm (12) Trúc Thuyên (3) trung quốc (1) Trung Trung Đỉnh (1) Trung Y (1) Truong Nguyen (1) Truyện dài (10) TRUYỆN DỊCH (17) Truyện ký (2) TRUYỆN NGẮN (1173) TRUYỆN VỪA (14) Trương Công Tưởng (16) Trương Diễm Phiến (1) Trương Đình Phượng (8) Trương Đình Tuấn (3) Trương Hồng Phúc (14) Trương Huỳnh Như Trân (2) Trương Lan Anh (1) Trương Nam Chi (5) Trương Thanh Cường (2) Trường Thắng (65) Trương Thị Thanh Tâm (22) Trương Thị Thúy (2) Trường Thịnh (6) Trương Tri (2) Trương Văn Dân (21) Trương Viết Hùng (1) TTM (1) Tuấn Nguyễn (7) Tuấn Quỳnh (3) Tuệ Mỹ (1) Tuti (2) Tuỳ bút (2) TÙY BÚT (120) Tuyết Nhung (2) Tuyết Vân (1) tứ đại mỹ nhân (1) Tường Vi (1) TX (1) Út Lãng Tử (1) Uyên Khuê (2) Uyên Minh (1) Uyển Phan (1) Vạn Lộc (1) Vành Khuyên (1) Văn (2483) Văn Công Mỹ (2) văn hóa truyền thống (5) Văn học nước ngoài (13) Văn Lưu (1) Văn Nguyên (1) Văn Nguyên Lương (7) Văn Nhược Ba (1) Văn Thạnh (2) Văn Thành Lê (1) Văn Thắng (23) Văn Trọng Hùng (1) Vân Đồn (3) Vân Giang (12) Vân Khanh (2) Vân Phi (32) Vân Tùng (2) Vi Ánh Ngọc (2) Vi Quốc Hiệp (1) Victor Remizov (1) VIDEO CLIP (2) Viễn Trình (25) Việt Quỳnh (1) Việt Trang (1) Việt Trương (1) Vĩnh Sơn (7) Vĩnh Thông (43) Vĩnh Tuy (21) Võ Bá Cường (1) Võ Chân Cửu (17) Võ Chí Nhất (3) Võ Công Liêm (1) Võ Diệu Thanh (18) Võ Dõng (1) Võ Đông Điền (4) Võ Hà (1) Võ Hạnh (2) Võ Mỹ Cát (1) Võ Ngọc Thọ (4) Võ Như Văn (3) Võ Thị Nga (13) Võ Thị Thu Thủy (1) Võ Thuỵ Như Phương (15) Võ Văn Hoa (1) Võ Văn Luyến (1) Võ Xuân Phương (3) Vũ Bình Lục (1) vũ đạo (1) Vũ Đình Huy (9) Vũ Đình Liên (1) Vũ Đình Minh (1) Vũ Đình Nguyệt (2) Vũ Đình Thung (2) Vũ Đức Trọng (1) Vũ Hạ (1) Vũ Hạnh (3) Vũ Hùng (2) Vũ Miên Thảo (5) Vũ Thành An (1) Vũ Thị Huyền Trang (115) Vũ Thụy Khuê (8) Vũ Trọng Quang (1) Vũ Trọng Tâm (2) Vũ Trọng Thanh (1) Vương Doãn (1) Vương Hạnh (1) Vương Hoài Uyên (4) Vương Tâm (3) Xanh Nguyên (4) Xuân Đài (1) Xuân Phong (6) Xuân Phương (1) Xuân Tiến (20) Ý Thu (3) Yên Kha (7) Ziken (2)
-------------------------------------------------------------------------
+ 817 TÁC GIẢ CÓ BÀI ĐĂNG TRÊN HƯƠNG QUÊ NHÀ
-------------------------------------------------------------------------