NGHỊCH NGỮ NHƯ MỘT KIỂU KHỞI TẠO NGUỒN NGHĨA TRONG “TINH SƯƠNG CHIỀU” CỦA TRỊNH BỬU HOÀI – Bài của Nguyễn Thị Tuyết


            Trong ngôn ngữ tiếng Việt thường thấy kiểu diễn đạt: buổi sáng tinh sương/sớm tinh sương, và hiếm gặp cách nói: chiều/tối/đêm tinh sương, bởi từ tinh sương mang nghĩa tinh khiết, tinh tế, trong nguyên nghĩa của sự khởi đầu.         Cho nên kiểu diễn đạt “tinh sương chiều” là nghịch ngữ từ hai phương diện: đảo ngữ (xét từ hình thức) và ẩn dụ (xét từ nội dung). Đó không chỉ là kiểu hành ngôn độc đáo, mà cao thâm hơn là kiểu tư duy mang tính khái quát cao, khi con người có một sự chín từ cảm xúc đến quan niệm. Trong tập thơ Tinh sương chiều1, theo chúng tôi, nghịch ngữ là một trong những phương thức tạo nghĩa cơ bản nhất và mang tính phổ quát.
           
Nhà thơ Trịnh Bửu Hoài


Trước hết, chúng ta cần giới thuyết thuật ngữ nghịch ngữ. Trong các tài liệu phong cách học tiếng Việt, nghịch ngữ được xem như một phép tu từ gần gũi với phép tương phản, như quan niệm của Đinh Trọng Lạc, trong giáo trình Phong cách học tiếng Việt, nghịch ngữ (còn gọi là: nghịch dụ) là một biện pháp tu từ ngữ nghĩa cốt ở việc kết hợp liền nhau hoặc gần nhau những đơn vị cú pháp đối lập nhau về nghĩa trong mối quan hệ ngữ pháp chính phụ (chúng tôi nhấn mạnh), để tạo nên sự khẳng định đôi khi rất bất ngờ, nhưng lại rất tự nhiên, thuận lý, biện chứng2. Như vậy, với Đinh Trọng Lạc, nghịch ngữ, xét về mặt cấu tạo ngữ pháp, chỉ được xác lập trên mối quan hệ giữa các đơn vị cú pháp (từ, ngữ, tiểu cú - cụm chủ-vị); xét về mặt nội dung ngữ nghĩa chỉ xuất hiện trong mối quan hệ ngữ pháp chính phụ.
            Khảo sát sự phong phú và đa dạng của nghịch ngữ chúng tôi nhận thấy nghịch ngữ mang ý nghĩa rộng hơn. Xét về cấu tạo ngữ pháp, nó còn vượt lên trên những đơn vị cú pháp (ngôn ngữ/langue) và vươn sang đơn vị văn bản (lời nói/parole, diễn ngôn/ discours). Ngôn ngữ và tư duy có mối quan hệ biện chứng, theo Saussure, ngôn ngữ và tư duy xuất hiện cùng một lúc và là một thể thống nhất. Hình thức của tư duy là khái niệm, phán đoán và suy lí. Khái niệm được biểu thị trong từ, ngữ; phán đoán được biểu thị trong câu; suy lí thường được biểu thị trong nhiều câu. Xét về mặt ngữ nghĩa, mặt logic, nghịch ngữ xuất hiện trong nhiều mối quan hệ ngữ pháp: đẳng lập, chính phụ, và hỗn hợp đẳng lập và chính phụ giữa các cụm từ, cụm câu.
Qua sự phân tích trên, ta thấy, nghịch ngữ có biên độ rất rộng xét về kết cấu lẫn quan hệ ngữ nghĩa. Trong bài viết này, chúng tôi hiểu nghịch ngữ theo cách dùng của Nguyễn Thế Truyền: Nghịch ngữ là phép tu từ kết hợp các khái niệm hoặc mệnh đề mâu thuẫn nhau về lôgic hình thức, biểu đạt một nghịch lý của cuộc sống hoặc của nhận thức, nhằm gây ấn tượng, tạo sắc thái biểu cảm và khêu gợi những suy nghĩ có tính chất trí tuệ lí thú về vấn đề trình bày từ những phương diện khác với quan niệm thông thường3.
Trong cách hiểu trên tác giả cũng chỉ ra giúp chúng ta, nghịch ngữ giống phép tương phản là đều được xây dựng trên cơ sở quan hệ đối lập, nhưng ở nghịch ngữ, quan hệ đối lập đã phát triển thành quan hệ mâu thuẫn (phủ định lẫn nhau). Nghịch ngữ chứa đựng yếu tố phi lý ở phương diện lôgic hình thức nên mỗi nghịch ngữ là một nghịch lý. Sự ráo rốt trong quan niệm ấy đã đem đến cho ta kết luận rằng, nghịch ngữ đã được sử dụng khá phổ biến từ xa xưa4, và nó thể hiện một sự nhận thức ở mức độ cao, và tạo ấn tượng mạnh mẽ đối với người tiếp nhận.

 Tinh sương chiều ­là thi phẩm thứ 23 trong số 50 tác phẩm của Trịnh Bửu Hoài. Con số ấy chứng tỏ niềm đam mê mãnh liệt, nỗ lực lớn lao và thành công viên mãn của một đời người và một đời thơ. Con số ấy cũng thể hiện niềm tự hào, vinh dự của tác giả, người thân, bạn hữu và ở giới trẻ nó phóng chiếu một niềm thán phục và nung nấu chinh phục những đỉnh cao mới (trong đó có tác giả bài viết này). Nhưng điều cốt lõi không nằm ở con số mà nằm trong ý nghĩa những tập thơ được đánh số ấy. Thi phẩm thứ 23 là một tập thơ rất nền nã, từ hình thức đến nội dung. Tập thơ trên dưới 30 bài thơ, bên cạnh đó là tranh ảnh, thư pháp, viết lại một số câu thơ của tác giả, các bài nhạc, ca cổ phổ thơ… Điều này thể hiện Tinh sương chiều đã tạo được sự đồng cảm cho nhiều thế hệ bạn đọc, hơn thế, lại là nguồn cảm hứng thăng hoa những mộng mơ nghệ thuật.
Trong lòng mỗi bạn đọc yêu thơ Trịnh Bửu Hoài đều có khuôn mặt riêng về thơ ông, nhưng đằng sau gương mặt tinh thần ấy, họ đều nhìn thấy nhà thơ có một đôi mắt tinh tế, một con tim nhạy cảm, một tấm lòng luôn thiết tha với đời. Với Trần Xuân An, thơ Trịnh Bửu Hoài có tâm thành, tình thật và nó được phát tiết một cách hồn nhiên. Trúc Linh Lan bị cuốn hút bởi những con chữ mang đậm tình người cứ lấp lánh suốt trang thơ. Còn Mang Viên Long có phần ngạc nhiên (với chính mình) bởi sức sống luôn dồi dào bền bỉ của thơ Trịnh Bửu Hoài nảy nở trong lòng anh, trong lòng bạn đọc: Thơ Trịnh Bửu Hoài vẫn thường cho tôi những phút giây đồng cảm bất ngờ như thế, bởi tâm hồn nhà thơ quá rộng mở để cuộc sống xung quanh - đời sống, quê nhà, tình yêu, bằng hữu, quá khứ, tương lai… có thể đi về, và mỗi lần trong hành trình vô thường ấy, ông có cách đón nhận riêng, nhưng cốt lõi vẫn là sự tỉnh táo, chân thật, thâm trầm. Có lẽ, điều này cũng gieo vào lòng Ngô Nguyên Nghiễm hình ảnh về một nhân cách thơ thấm nhuần đạo lý phương Đông. Tinh sương chiều là tập thơ thể hiện rất rõ cái nhìn thâm trầm, cái tình chân chất, cái hồn thơ đạo lý phương Đông ấy. Song, chúng ta không dừng lại ở chỗ nhận ra vẻ đẹp đó, mà còn có mong muốn biết, bằng cách nào nhà thơ nói những điều vừa giản dị vừa lớn lao, vừa quen thuộc vừa mới mẻ đến như vậy ngay trong một lần phát âm nhẹ nhàng. Với tôi, có được điều đó là nhờ sự đa âm trong cách cộng hưởng nhiều nghịch ngữ. Đó là cái duyên rất riêng của trang thơ Trịnh Bửu Hoài, rất mộc mạc, với những vấn đề không mới và cũng không cũ bao giờ, nhưng lại dạt dào thấm đượm một trí tuệ hiền minh.
Chính xác tập thơ có 37 bài, theo khảo sát, chúng tôi nhận thấy, có 20 bài sử dụng phép nghịch ngữ, trong đó có nhiều bài sử dụng với một tần suất dày đặc. Chính nghịch ngữ đã đem lại cho Tinh sương chiều vẻ đẹp chín chắn, nền nã, một giọng điệu triết lý nhưng không phải là một sự lên gân mà rất tự nhiên, một sự nhận thức chín muồi từ bên trong.
Chúng tôi chia nghịch ngữ trong tập thơ ra làm hai dạng: nghịch ngữ ở phương diện cú pháp (từ, cụm từ, tiểu cú - các dòng thơ trong một đoạn), tức là sự mâu thuẫn ở cấp độ khái niệm; và nghịch ngữ ở phương diện văn bản, nội dung bài thơ là lời đối thoại dài với tiêu đề, hoặc một vài câu thơ dung chứa một tư tưởng khác, một cách nhìn khác, qua đó thể hiện sự mâu thuẫn về mặt tư tưởng, bắt buộc người đọc phải đọc lại và nhận chân lại vấn đề. Trong 20 bài sử dụng phép nghịch ngữ thì có 5 bài (Phù du, Thứ sáu ngày bảy tháng tám năm lẻ chín, Trên đỉnh núi Cấm, Mê, Thực) có cả hai dạng nghịch ngữ. Song, chúng tôi không thể thống kê, liệt kê hết nghịch ngữ trong từng câu thơ, ý thơ, mà chỉ đi vào một số hiện tượng (theo tôi) độc đáo, tiêu biểu.
Như chúng ta đã biết, nghịch ngữ là cách nói đa âm, dung chứa nhiều giọng điệu, nhiều ý tứ dựa trên sự mâu thuẫn, phủ định giữa các khái niệm, các mệnh đề. Phải có một thuận ngôn (cách nói, kiểu tư duy thông thường) nào đó rồi mới có nghịch ngữ (sự phủ nhận thuận ngôn, kiểu tư duy, điểm nhìn dựa trên một hệ quy chiếu khác). Phần lớn nghịch ngữ trong Tinh sương chiều là sự nhận thức ở cách nhìn nhị nguyên luận về những vấn đề muôn thủa của cuộc sống, con người: sống/chết; thường hằng/hữu biến; vĩnh cửu/khoảnh khắc; mê/ngộ; tốt/xấu; thiện/ác; ngày/đêm… Đó là những vấn đề muôn thuở nên cũng rất gần gũi, nó vừa xưa như trái đất nhưng cũng mới như địa cầu, quyết định là ở điểm nhìn, cách nhìn.
Điều được láy đi láy lại như một sự nuối tiếc khôn nguôi trong Tinh sương chiều là thời gian. Có lẽ đây cũng là câu đố hóc búa mà con quái vật Sphinx đã đặt ra cho tất cả chúng ta. Từ thời cổ đại Heraclitus đã phải ngậm ngùi thừa nhận: Không ai tắm hai lần trên một dòng sông. Thời gian là vô tận và cũng là hữu hạn. Thời gian có thể là vĩnh cửu đối với vũ trụ, nhưng với mỗi sinh thể/con người lại là hữu hạn. Điều này là hiển nhiên nhưng không phải lúc nào và ai cũng nhận ra. Có lẽ phải đến xế chiều ta mới nhận ra sắc hồng rực rỡ của nắng trưa?
Mở đầu tập thơ là câu thơ chứa nghịch ngữ để lại nhiều dư âm trong lòng người:
                                                Ta sinh vào cõi phù du
                                             Nên mãi đi tìm vĩnh cửu
                    (Phù du)
Phù du/vĩnh cửu là một cặp đối lập: phù du là kiếp sống ngắn ngủi sớm nở tối tàn; vĩnh cửu là bất biến. Hai mặt đối lập ấy không chỉ là sự phản ánh hiện thực thuần túy của thời gian dưới những giác độ khác nhau, mà quan trọng hơn là nói cái nghịch lý trong khát vọng của con người. Câu thơ như đúc kết cái phúc và cái phận của thân phận người. Đam mê và khát vọng là ý chí sống/máu sống, nhưng sự phá sản của ý chí niềm tin là hố thẳm tuyệt vọng. Cái được và cái mất chỉ trong gang tấc, vinh quang và cay đắng chỉ lìa một bước chân. Quá trình tìm ra bản lai diện mục của mình là vấn đề nan giải, và chủ nghĩa hiện sinh ra đời như một hy vọng tìm thấy ý nghĩa cuộc sống qua việc khảo sát miền bí ẩn của cuộc sinh tồn, nhưng Soren Kierkegaard - ông tổ của học thuyết ấy, đã cùng một lúc tuyên bố sự thành công và phá sản của mình: Nghịch lý lớn nhất của toàn bộ tư tưởng là cái nỗ lực khám phá một điều gì đó mà tư tưởng không thể nghĩ ra5. Sự vén màn một nghịch lý và sự đóng đinh một tư tưởng không thể vén màn nơi thân phận người là bởi con người, theo Freud, bị điều khiển bởi vô thức, nhưng bản chất của vô thức là gì, thì đến nay vẫn là ẩn số vĩ đại của tự nhiên.
Hai câu thơ trên của Trịnh Bửu Hoài, nói đến bản năng Eros (bản năng sống). Đó là khát vọng vượt lên chính mình, tìm đến một thế giới khác ngoài mình, nhưng khi chạm đến cái thế giới ngoài mình ấy, vô tình, đến ngõ bản năng Thatanos (bản năng chết).
Ý thơ trên lại được lộn trái khi tác giả tác giả đứng trước ngưỡng cửa của Năm mới:
Đến khoảnh khắc về trăm năm
Quá dư cho một kiếp tằm buông tơ
Hay trong Hoài niệm:
Một ngày ví với thiên thu
Một đời ví với phù du thật buồn
… Kiếp người từ tỉnh sang mê
Chỉ là chớp mắt bên lề tử sinh.

Trong cái nhìn nhị nguyên nhuốm màu sắc Phật giáo, bằng nghịch ngữ, nhà thơ đưa ta đến cái nhìn huyền đồng6 trong triết học Lão Tử. Để ta nhận thấy rằng đến cũng là về trong một cuộc hành trình; chớp mắt/khoảnh khắc/một ngày/phù du cũng trong cùng một địa hạt với một đời/kiếp người/thiên thu/trăm năm…; tỉnh và mê đỗ cùng một bến trong hiện tồn của thân phận; trăm năm là ngắn, một ngày lại quá dư… Vậy chúng ta chọn cho mình cách sống như thế nào sau sự nhận thức ấy?
Trịnh Bửu Hoài không chỉ đắm chìm trong những vấn đề siêu hình mà còn lắng lòng nghe những va đập của cuộc đời. Nhà thơ dùng nghịch ngữ như một kiểu phản tỉnh, phản tư sâu sắc. Quan tâm và có trách nhiệm với đời, ông nhận thấy những nghịch lý, những trái tai gai mắt, sự xuống dốc của đạo đức…: Con người sẵn sàng bước qua lòng nhân đạo, tình yêu thương, lương tri, đức tin… để leo lên đỉnh cao của tham vọng; nền tảng đạo đức truyền thống bao nhiêu đời nay bây giờ như những xác ướp thuật ngữ trong cuộc sống kỹ trị này, cuộc sống với triết lý cái búa của Einstein: Tiến bộ kỹ thuật như một cái rìu nằm trong tay kẻ bị  bệnh tâm thần:
Về đâu về đâu về đâu
Khi tên sát nhân được sùng bái
Kẻ nhân từ bị bĩu môi
Người hành khất bị nghi ngờ
Gã xảo trá được niềm tin
Thánh hiền phải sợ quỷ thần
Người thân dè dặt lẫn nhau
Như con thiêu thân, họ bất chấp tất cả:
                              Ai nhanh chân chạy trên con đường danh vị
      Đạp lên xác kẻ thù
                 Đạp lên xác người ơn
      Sẽ sớm đến vầng hào quang đang vẫy gọi
                                          Cứu cánh không sợ gì tội lỗi.
                                                                       (Thứ sáu ngày bảy tháng tám năm lẻ chín)
Đứng bên/trên sự thị phi, bon chen ấy, nhà thơ buông một tiếng thở dài ẩn một sự thức tỉnh:
Ai kia chạm bến bờ sinh tử
Mới biết rằng trắng cả hai tay
Và giữa cuộc sống ấy, ông chọn cho mình cách hành xử đúng với đạo đức và bản tính của mình:

Hoa hạnh phúc nở giữa vườn triền phược
Hạt an vui gieo xuống bãi ưu phiền
     Ta yên bình giữa chốn chẳng bình yên
     Ta thánh thiện dù không là thần thánh
                                             (Trăng của nghìn thu)
Phải chăng vì con người và nhân cách cao đẹp ấy nên thơ Trịnh Bửu Hoài vẫn ánh lên niềm tin yêu giữa sự vây bủa của những bế tắc?
            Vẫn xanh một niềm hy vọng, vẫn yêu đời yêu người da diết khôn nguôi, bởi nhà thơ biết chắt lọc, biết gạn đục khơi trong, biết tự làm mới mình và nhận thức lại dù chỉ là những chuyện nhỏ nhặt, ai cũng trải qua hằng ngày như một lần qua sông, một ban mai trước biển, một lần về Hà Nội, một lần sống lại những kỷ niệm xưa… Và con người thủy chung nghĩa tình ấy luôn giữ cho mình một bầu trời kỷ niệm luôn rưng rức một màu hoa như một bến đỗ giữa cuộc đời nhiều biến thiên, thay đổi:
                                                Biển vẫn xanh hoài vị mặn
                                                Với đời mãi mãi không vơi
                                                Em là những cơn gió trắng
                                                Cuộn thành lượn sóng hồn tôi

Ban mai tôi đi biển nhớ
                                                Dấu chân sóng xóa tan rồi
Chỉ còn trái tim kín ngỏ
                                                Trăm năm giữ bóng một người.
                             (Ban mai trước biển)
            Nếu màu xanh của biển là vĩnh cửu, vị mặn của biển là muôn đời, thì em chỉ là cơn gió vô hình thoáng qua đời tôi. Sóng biển đã xóa tan dấu chân em, thời gian làm mờ nhòe hình ảnh em. Nhưng cái hay ở nghịch lý: biển là hiển hiện ngàn năm, là bất biến nên lại trở thành bình thường, còn em trong tôi chưa đến đã vội đi, như một ảo ảnh nên muôn đời vẫn còn là khoảng trống, vẫn còn luôn mong mỏi, vẫy gọi khát khao…
Mỗi con người là một ẩn số đối với chính mình, và chúng ta sinh ra để giải tìm ẩn số ấy. Phải chăng vì thế mà Lão Tử khẳng định: Thắng nhân giả lực, tự thắng giả cường. Trịnh Bửu Hoài làm thơ là một hành trình tự giải phẫu mình đau đớn trong hạnh phúc như vậy.
Dạng nghịch ngữ thứ hai trong Tinh sương chiều có chung một kiểu kết cấu: tác giả đưa ra một quan niệm, lối sống, một vấn đề… nhưng kết thúc lại mở ra cho ta một con đường khác, một cách nhận thức khác, độc giả phải tự đặt lại vấn đề và trả lời câu hỏi ấy theo cách riêng.
Mở đầu là bài Phù du, cho ta một quan niệm về một kiếp sống ngắn ngủi, chật hẹp… nhưng kết thúc bài thơ là cõi bao la của kiếp phù du nào đã ai sống đủ, sống hết?
Đứng giữa bao la trời đất
Sống hoài chẳng hết phù du
Trong mạch vận động ấy, Thực được cấu trúc như hai mặt đối lập và thống nhất từ hình thức tổ chức đến nội dung tư tưởng. Hai bài thơ nằm đối diện nhau mà đường biên của trang sách là chiếc gương phẳng, nếu là vật thì Thực là ảnh và ngược lại, song vật hay ảnh thì cũng chỉ là một mà thôi, một trong hai mất đi thì cái kia cũng không còn tồn tại.
Về tư tưởng, đọc xong thì chúng ta thoát khỏi bến mê và đạt đến một sự nhận thức tỉnh táo về cuộc đời, ngược lại đọc xong Thực lại thấy nhân vật rơi vào cõi vô minh, mù quáng:
Gió không sắc hương mà thổi thành nỗi nhớ
Rượu không ngọt bùi lại rót mút cơn say
Ta mê mải đi tìm muôn thuở
Giữa cuộc đời chỉ một gang tay
Thực
Đêm nằm mộng tưởng là cõi thực
Ngày loay hoay đuổi bóng phù du
Đời là tạm mà sao ta ngây ngất
Cứ yêu người bất chấp thực hư

Vậy thực hay mê, mê hay thực? Hai trạng thái ấy khiến ta liên tưởng đến giấc mộng hồ điệp của Trang Chu xưa kia, không biết Trang mơ thấy mình thành bướm hay bướm biến thành Trang? Người thành bướm hay bướm thành người cũng chỉ là giấc mộng, mê hay thực, thực hay mê cũng khởi tạo từ nhất nguyên.
Nghịch ngữ là một phép đạo hàm tư tưởng, một kiểu lộn trái cảm xúc, để ta nhận chân vấn đề đầy đủ đúng đắn hơn.
Trong 5 bài thơ có dạng nghịch ngữ thứ hai mà chúng tôi khảo sát, thì bài thơ Thứ sáu ngày bảy tháng tám năm lẻ chín có cấu trúc nghịch ngôn hơi khác, bởi nghịch ngôn ở đây được tạo tác trong mối liên hệ tư tưởng giữa khổ thơ đầu với toàn bộ phần còn lại của bài thơ:
                                 Một ngày trôi qua ngỡ như bình lặng (1)
                                 Mặt trời vẫn mọc hướng đông và lặn ở phía tây (2)
                                 Đốt tuổi bao người xế theo bóng nắng (3)
                                 Thắp lớn vạn người dưới rặng tinh anh (4)
Nghịch ngôn ở bài thơ này được sử dụng tối đa, gần như ở câu thơ nào chúng ta cũng tìm được nghịch ngôn. Ở câu (1) có một tiền giả định, dự báo cho ta rằng: một ngày trôi qua là không bình lặng. Nhưng câu (2) lại là sự phủ nhận triệt để tiền giả định trên qua từ vẫn. Câu (3), (4) là sự diễn giải cụ thể của câu (2), nhưng nội tại chúng đã nảy sinh mâu thuẫn, Mặt Trời đối với người này là đốt tuổi thì với người khác là thắp lớn, đối với người này là một sự trừng phạt thì đối với kẻ khác lại là một sự gia ân… Song về đại thể, toàn bài thơ thể hiện sự đối lập giữa cái bình thường và cái bất thường. Tưởng rằng Mặt Trời vẫn mọc, tưởng rằng không có gì mới dưới ánh sáng Mặt Trời, nhưng biết bao điều đã thay bậc đổi ngôi, người anh hùng bây giờ chỉ tìm thấy trong truyện cổ tích và kẻ sát nhân lên ngôi, ánh sáng đạo đức bị bóng đêm tội lỗi bao phủ, sự lạnh giá đông cứng của thói vô cảm đang bung nở một cách sống động trong ánh hoàng hôn le lói lụi tàn trong trái tim nóng bỏng yêu thương ngày xưa, giờ đang dần khô héo. Hiện thực cuộc sống hôm nay mang màu xám tối qua sự phản quang của nghịch ngữ lại càng rõ nét. Nhưng không phải vì thế mà ta chìm ngập trong bóng đen của đêm tối, với sự minh triết tự thân, chúng ta có quyền lạc quan tin tưởng: bóng tối là cửa ngõ của ánh sáng, như 6 sẽ bị 7 phủ định và 8 sẽ bị 9 bước qua.
Trên đỉnh núi Cấm đưa lại cho ta một màu sắc khác, một ý vị khác. Khác theo nhiều chiều, nhiều hướng. Nếu những bài thơ trên, nghịch ngữ được tổ chức theo kiểu diễn dịch thì ở đây câu cuối lại là tiếng chuông đời đánh động cả cõi Phật và cõi lòng người. Cả bài thơ được chia làm bốn khổ, mỗi khổ sáu câu, thì ba khổ trên và năm dòng đầu của khổ cuối chìm trong sắc màu Phật, ý vị thiền, trong niềm an vui phúc lạc của giải thoát, của cõi Niết-bàn, cảnh vật và lòng người như đã nhập tịch và thăng thiên, trên đỉnh cao - đỉnh núi Cấm. Nhưng từ trên đỉnh cao của sự nhập đạo/đạt đạo ấy tiếng động đời lại vang vọng: Rơi về cõi phù du.
Nghịch ngữ ở đây còn được quy chiếu trong mối liên hệ với quan điểm tư tưởng khác. Người ta đến cửa chùa cõi Phật chìm đắm trong vị thiền, ý đạo là lẽ đương nhiên, Trịnh Bửu Hoài lên đỉnh núi Cấm - nơi có bức tượng Phật Di Lặc lớn nhất châu Á trên đỉnh Thiên Cấm sơn hùng vĩ nhất của vùng Thất Sơn huyền bí và linh thiêng, nơi bầu trời cảnh bụt mà tâm tưởng lại vọng tiếng đời, mà quay về cõi phù du mới là đại đạo. Đó là cảnh giới cao nhất của nhà Phật, với huệ nhãn thì cái nhìn mới trở lại bình thường, núi lại là núi, sông lại là sông…
Nghịch ngữ là biện pháp độc đáo được nhà thơ sử dụng phong phú, đa dạng và đem cái nhìn, giọng điệu rất riêng cho Tinh sương chiều. Phải có một độ chín cả đường thơ lẫn đường đời mới mong hun đúc cho mình được nhãn giới như vậy.
Tinh sương chiều là tên bài thơ khép lại tập thơ như trong một sự mở đầu, và mỗi bạn đọc yêu thơ Trịnh Bửu Hoài đều tin tưởng và hy vọng những cánh cửa thơ ông sẽ luôn còn mở ra…

Nguyễn Thị Tuyết

Tài liệu trích dẫn:
(1)    Trịnh Bửu Hoài, (2012), Tinh sương chiều, Nxb Hội Nhà văn, Hội LH VHNT An Giang.
(2) Đinh Trọng Lạc, (1999), Phong cách học tiếng Việt, Nxb Giáo dục, tr. 267 - 268.
(3) Nguyễn Thế Truyền, Nghịch ngữ - phép tu từ của những mâu thuẫn thống nhất,  http://www.phatgiaobaclieu.com/index.php?option=com_content&task=view&id=2442&Itemid=51
(4) Ở đây chúng tôi chỉ trích dẫn một vài dẫn chứng, người cổ đại như Lão Tử (Đạo khả đạo phi thường đạo/Danh khả danh phi thường danh); Khổng Tử (Tri chi vi tri, bất tri vi bất tri, thị tri dã); ca dao: Đàn ông nông cạn giếng khơi/Đàn bà sâu sắc như cơi đựng trầu; cho đến những ngày nay người ta vẫn sử dụng nghịch ngữ như một cách sử dụng ngôn ngữ tinh tế, như Shakespear (Dường như thượng đế làm lung lay đức tin của tôi để tôi đồng ý với Pythagoras); như Albert Einstein (Tiến bộ kỹ thuật như một cái rìu nằm trong tay kẻ bị  bệnh tâm thần); Freud (Nền văn minh và sự bất mãn của nó)…
(5) Bryan Magee, (Phan Huỳnh Anh, Mai Sơn dịch) (2003), Câu chuyện triết học, Nxb Thống kê,  Hà Nội, tr.268.
(6) Thu Giang Nguyễn Duy Cần (2013), Lão Tử tinh hoa, Nxb Trẻ, Tp Hồ Chí Minh, tr. 165-166  Giải phân kỳ - bỏ phân chia, giải thoát tâm hồn trí não của ta ra khỏi cái óc phân chia sự vật.



Read more…

CÁCH NHẬP COMMENT TRÊN HƯƠNG QUÊ NHÀ

Đầu tiên, nhấp chuột vào ô Nhập nhận xét của bạn rồi viết comment. Viết xong, nhấp chuột vào ô Tài khoản Google. Sau đó nhấp chuột vào Tên/URL thì sẽ hiện ra 2 ô. Ô phía trên, ghi Họ và tên của bạn. Ô phía dưới, ghi dòng chữ:huongquenha.com

Cuối cùng, nhấp chuột vào ô Tiếp tục và nhấp chuột tiếp vào ô Xuất bản là xong. (Nếu bạn đã có sẵn Tài khoản Google, thì sau khi viết comment, chỉ cần nhấp chuột vào ô Xuất bản là thành công)

Số lượt xem tháng trước


-------------------------------------------------------------------------


TÁC GIẢ & TÁC PHẨM
* TÁC GIẢ & TÁC PHẨM * TÁC GIẢ & TÁC PHẨM * TÁC GIẢ & TÁC PHẨM * TÁC GIẢ & TÁC PHẨM---------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------
Ái Nhân (21) Ambrose Bierce (1) ẢNH (58) Anh Ngọc (1) Anh Nguyên (1) Anh Phong (4) Anh Phương (9) âm nhạc (2) âm thanh (1) Ân Thiên (1) Bạch Diệp (5) Bách Mỵ (2) BÀN TRÒN VĂN NGHỆ (87) Bảo Hồ (1) Bảo Lâm (1) Bảo Ninh (2) Bé Hải Dân (1) Bích Ái (3) Bích Lê (4) Bích Ngọc (1) Bích Vân (2) Bình Địa Mộc (3) Bình Nguyên (1) Bình Nguyên Trang (2) binh pháp (1) Bình Tâm (1) Bobby Nam Giang (3) Bùi Anh Sắc (1) Bùi Công Thuấn (1) Bùi Danh Hải Phong (1) Bùi Đức Ánh (66) Bùi Hoài Vân (5) Bùi Huyền Tương (2) Bùi Hữu Phước (1) Bùi Nguyên Bằng (25) Bùi Nhựa (4) Bùi Văn Bồng (5) Bùi Việt Thắng (2) BÚT KÝ (17) Ca Dao (2) Cao Duy Thảo (1) Cao Kim Quy (1) Cao Thị Thu Hà (3) Cao Thọ Thêm (2) Cao Thoại Châu (1) Cao Thu Hà (1) Cao Trọng Quế (1) Cao Văn Tam (5) Cát Du (7) Catherine Mansfield (1) Cẩm Lệ (4) Cẩm Tú Cầu (1) Chàng Cát (1) Chánh Đức (1) CHÀO XUÂN 2014 (1) CHÂN DUNG VĂN NGHỆ SĨ (2) Châu Đoàn (1) Châu Quang Phước (1) Châu Thạch (9) Châu Thường Vinh (1) Chí Anh (1) Chính Đức (1) chủ (1) CHỦ BIÊN (141) Chu Giang Phong (1) Chu Lai (2) Chu Ngạn Thư (10) Chu Trầm Nguyên Minh (16) Chu Vương Miện (1) Chúa Sơn Lâm (1) Cỏ Dại (7) covid 19 (1) Công Nguyễn (1) Cơ Xương (1) Cúc Dương (1) Cuộc thi văn chương (1) CỬA SỔ VĂN HÓA (6) Dạ Ngân (1) Dã Phong Bình (2) Dã Phương (1) Dạ Thảo (2) Dạ Thy (1) Diệp Linh (18) Diệp Uy (1) Dino Buzzati (3) DỌC ĐƯỜNG (29) Du Tử Lê (1) Dung Thị Vân (28) Duy Bằng (1) Duy Phạm (6) Dương Diệu Minh (1) Dương Đăng Huệ (1) Dương Hải Yến (2) Dương Hằng (7) Dương Kim Nhi (4) Dương Kim Thoa (1) Dương Phương Vinh (1) Dương Thành Thái (3) Dương Thị Yến Trinh (2) Dương Xuân Triều (6) Dzạ Lữ Kiều (6) Đàm Lan (17) Đan Ngọc (2) đạo đức (2) Đào Hiền (2) Đào Hữu Thức (2) Đào Khương (2) Đào Minh Hiệp (2) Đào Phạm Thuỳ Trang (82) Đào Quang Bắc (1) Đào Quý Thạnh (1) Đào Thanh Hoà (14) Đào Thị Quý Thanh (1) Đào Thị Thu Hiền (3) Đào Văn Đạt (31) Đào Viết Bửu (7) Đặng Châu Long (1) Đặng Diệu Thoa (1) Đăng Đăng (1) Đăng Huỳnh (1) Đặng Quốc Khánh (8) Đặng Quý Địch (3) Đặng Tấn Tới (2) Đặng Thị Hoa (2) Đặng Thị Xuân (1) Đặng Toán (1) Đăng Trình (1) Đặng Tường Vy (3) Đặng Văn Sử (1) Đặng Việt Trinh (1) Đặng Xuân Xuyến (9) ĐIỂM BÁO (2) Điêu Thuyền (1) Đinh Lốc (2) Đình Thậm (1) Đinh Vương Khanh (4) Đoàn Khương Duy (1) Đoàn Thị Minh Hiệp (4) Đoàn Tình (1) Đoàn Tuyết Thu (1) Đoản văn (1) ĐỌC SÁCH (30) Đỗ Chiến Thắng (6) Đỗ Duy Hoàng (15) Đỗ Hồng Ngọc (5) Đỗ KIm Dung (1) Đỗ Phu (1) Đỗ Quyên (2) Đỗ Tâm Linh (1) Đỗ Tấn Đạt (2) Đỗ Thị Kim Hải (2) Đỗ Trúc Hàn (1) Đỗ Văn Tiến (1) Đỗ Xuân Phương (1) Đức Linh (1) Đức Tiên (3) Elena Pucillo Truong (6) gan jing world (1) Ghi chép (2) Giang Đình (8) Giang Hiền Sơn (6) Giáo dục (1) Guy de Maupassant (1) Hà Đoàn (2) Hạ Ly (1) Hà Nguyên (2) Hà Nhi (1) Hà Nhữ Uyên (2) Hà Phi Phượng (1) Hạ Thi (3) Hà Thị Thu Hằng (1) Hà Tùng Sơn (1) Hải Điểu (1) Hải Miên (3) Hải Phong (2) Hải Thăng (1) Hải Thuỵ (6) Hải Yến (2) Hàm Sơn (1) Hàn Dã Thảo (2) Hàn Du Tử (17) Hàn Hữu Yên (1) Hàn Lâm (1) Hãn Nguyên Nguyễn Nhã (1) Hàn Nguyệt (1) Hàn Phong Vũ (19) Hàn Tín (1) Hạng Vũ (1) Hậu Cốc Ngang (1) Hậu Đậu (1) Hiếu Dũng (1) Hoa Hướng Dương (1) Hoa Mai (2) Hoa Tím Buồn (4) Hoa Tuyết (2) Hoà Văn (10) Hoa Xuyến Chi (1) Hoài Huyền Thanh (53) Hoan Giang (1) Hoàng Anh (6) Hoàng Anh 79 (26) Hoàng Chẩm (53) Hoàng Chẫm (1) Hoàng Đình Quang (2) Hoàng Giao (4) Hoàng Hạ Miên (6) Hoàng Hữu (1) Hoàng Khánh Duy (5) Hoàng Kim (1) Hoàng Kim Chi (1) Hoàng Kim Oanh (2) Hoàng Linh (6) Hoàng Long (2) Hoàng Lộc (8) Hoàng Mẫn (1) Hoàng Minh Tường (2) Hoàng Nghĩa Lược (1) Hoàng Ngọc Xuân (4) Hoàng Nguyên (1) Hoàng Phủ Ngọc Tường (1) Hoàng Thảo Chi (1) Hoàng Thị Bích Hà (1) Hoàng Thị Nhã (8) Hoàng Thị Thu Thủy (2) Hoàng Trang (1) Hoàng Trần (1) Hoàng Trọng Quý (9) Hoàng Trọng thắng (1) Hoàng Tuấn Sơn (1) Hoàng Tuyên (2) Hoàng Vũ Thuật (1) Hoàng Xuân Hiến (1) Hoàng Xuân Niên (1) Hồ Bích Ngọc (4) Hồ Bích Vân (2) Hồ Đắc Thiếu Anh (1) Hồ Hải (2) Hồ Lê Diêm (1) Hồ Nam (1) Hồ Ngọc Diệp (1) Hồ Nhật Quang (1) Hồ Sĩ Duy (1) Hồ Thanh Ngân (10) Hồ Thế Hà (2) Hồ Thế Phất (3) Hồ Thế Sinh (1) Hồ Tĩnh Tâm (1) Hồ Tịnh Thuỷ (21) Hồ Vũ Khánh Linh (1) Hồ Xuân Thu (3) Hội Nhà văn TP. HCM (1) Hồng Hạnh (3) Hồng Liễu (1) Hồng Phúc (8) Hồng Tâm (10) Huệ Triệu (3) HUMICHI (5) Huy Nguyên (15) Huy Vọng (17) Huy Vũ (1) Huyết Kiệt (1) Huỳnh Dạ Thảo (1) Huỳnh Gia (18) Huỳnh Kim Bửu (1) Huỳnh Minh Lệ (2) Huỳnh Ngọc Nga (1) Huỳnh Ngọc Phước (29) Huỳnh Như Phương (1) Huỳnh Thanh Lan (1) Huỳnh Thị Quỳnh Nga (1) Huỳnh Thúy Thúy (1) Huỳnh Văn Diệu (1) Huỳnh Văn Mỹ (1) Huỳnh Văn Yên (1) Huỳnh Xuân Sơn (3) Hương Đêm (1) Hương Đình (4) Hương Quê Nhà (1) Hương Văn (6) Hửu Thỉnh (1) Irina Polianxkaia (1) James Dylan (4) James Joyce (1) Jeffrey Thai (9) Jerry Thu Trà (7) Kai Hoàng (1) Kate Chopin (1) Kha Tiệm Ly (4) Khả Xuân (1) Khán Võ (2) Khảo Mai (1) khoa học (1) Khổng Trường Chiến (3) Khổng Vĩnh Nguyên (1) KỊCH BẢN (1) Kiên Giang (1) Kiến Giang (12) Kiều Huệ (1) Kim Chuông (4) Kim Dung (2) Kim Ngoan (15) Kim Quyên (1) Kim Sơn Giang (22) Kim Tiết (10) Kim Yến (1) Kỳ Nam (2) Ký sự (14) Lã Bố (1) La Hán (1) La Mai Thi Gia (1) Lạc Thảo (1) Lại Ngọc Thư (1) Lam Giang (3) Lan Anh (1) Lan Phương (1) Lan Thanh (1) Lãng Du (6) Lâm Bích Thuỷ (8) Lâm Cẩm Ái (3) Lâm Hạ (11) Lâm Huy Nhuận (1) Lâm Trúc (30) Lâm Xuân Vi (1) Lâu Văn Mua (1) Lê Ân (5) Lê Bá Duy (9) Lê Đình Danh (79) Lê Đức Hoàng Vân (1) Lê Đức Lang (13) Lê Giang Trần (1) Lệ Hằng (3) Lê Hoài Lương (4) Lê Hoàng (2) Lê Hứa Huyền Trân (39) Lê Khánh Luận (1) Lê Minh Chánh (1) Lê Minh Dung (2) Lê Minh Hải (3) Lê Minh Vũ (3) Lê Ngân (3) Lê Ngọc Phái (1) Lê Ngọc Trác (1) Lê Ngũ Nam Phong (11) Lê Nhựt Triết (8) Lê Phương Châu (30) Lê Quang Trạng (23) Lê Sa Long (2) Lê Thanh Hùng (34) Lê Thanh My (8) Lê Thấu (1) Lê Thị Cẩm Tú (6) Lê Thị Hồng Thắm (1) Lê Thị Kim (1) Lê Thị Ngọc Lệ (1) Lê Thị Ngọc Nữ (33) Lê Thị Thu Hiền (1) Lê Thị Xuyên (13) Lê Thiếu Nhơn (15) Lê Thống Nhất (6) Lê Thụy Phương (2) Lê Tiến Dũng (1) Lê Tiến Mợi (6) Lê Trọng Nghĩa (3) Lê Trung Hiếu (1) Lê Tuân (4) Lê Uyên (1) Lê Văn Hiếu (12) Lê Văn Ngăn (3) Lê Vi Thuỷ (1) Lê Vinh (4) Lê Xuân Tiến (1) Lindsay Polak (1) Linh Lan (7) Linh Lan (Quảng Nam) (8) Linh Phương (3) Linh Thy (2) Long Khánh (4) Long Vương (1) luân hồi (1) Lữ Hồng (3) Lư Nhất Vũ (1) Lương Cẩm Quyên (1) Lương Duyên Thắng (3) Lương Đình Khoa (1) Lương Sơn (27) Lưu Ly (6) Lưu Quang Minh (15) Lưu Thành Tựu (1) Lưu Thị Mười (2) Lưu Xuân Cảnh (2) Lý Khánh Vinh (15) Lý Thành Long (1) Lý Thời Miễn (1) M.T.N.H (7) Mã Nhị Lan (1) Mạc Minh (2) Mạc Tố Hồng (1) Mạc Tường (2) Mai Đức Trung (6) Mai Hạnh (1) Mai Kiệm (1) Mai Loan (12) Mai Nhật (2) Mai Thanh (1) Mai Thị Vân (1) Mai Thìn (3) Mai Tuyết (37) Mang Viên Long (63) Marie Hải Miên (4) Mẫu Đơn (1) Mèo Con (1) Mi Thu (1) Miên Đức Thắng (2) Miên Linh (1) Minh Châu (2) Minh Đan (Lọ Lem Đất Võ) (6) Minh Nguyên (15) Minh Nguyễn (3) Minh Nguyệt (15) Minh Nguyệt (NT) (1) Minh Nhân Tông (1) Minh Vy (25) Mỗi tháng một tác giả và một bài thơ hay (2) Mộng Cầm (8) Mộng Nam (1) Mùa Xanh (3) Mưa (1) Mường Mán (1) MỸ THUẬT (6) My Tiên (1) Mỹ Vân (1) Nam Art (2) Nam Cao (1) Nam Thi (17) Năm Bửu (1) Nấm Độc (1) NCCGL (4) Ngàn Thương (33) Ngày Đẹp Tươi (1) nghệ thuật. (1) nghiên cứu (1) Ngọc Bút (8) Ngọc Diệp (35) Ngọc Thịnh (1) Ngô Càn Chiểu (1) Ngô Cự Chính (2) Ngô Diệp (6) Ngô Đình Hải (7) Ngô Hồng Nhung (1) Ngô Liêm Khoan (1) Ngô Minh Trãi (3) Ngô Nguyên Ngiễm (1) Ngô Thị Hoà (1) Ngô Thị Ngọc Diệp (10) Ngô Thuý Nga (30) Ngô Thúy Nga (16) Ngô Thy Học (7) Ngô Văn Cư (52) Ngô Văn Giảng (11) Ngô Văn Khanh (17) Ngô Viết Hòa (2) Nguyễn (1) Nguyễn An Bình (70) Nguyễn An Đình (4) Nguyễn Ánh 9 (1) Nguyễn Bá Nhân (1) Nguyễn Bích Sao Linh (1) Nguyễn Bình (1) Nguyễn Bính Hồng Cầu (2) Nguyên Cẩn (26) Nguyễn Châu (2) Nguyễn Chinh (4) Nguyễn Công Thụ (2) Nguyễn Công Tùng Chinh (1) Nguyễn Cử Tú Quỳnh (2) Nguyên Diệp (1) Nguyễn Dũng (1) Nguyễn Duy Khương (6) Nguyễn Duy Phương (1) Nguyễn Duy Thịnh (3) Nguyễn Đại Duẩn (2) Nguyễn Đặng Mừng (3) Nguyễn Đăng Thanh (20) Nguyễn Đăng Trình (4) Nguyễn Đình Bảng (1) Nguyễn Đình Trọng (1) Nguyễn Đoan Tuyết (25) Nguyễn Đồng Bội Thảo (1) Nguyễn Đức Chính (5) Nguyễn Đức Cơ (1) Nguyễn Đức Mậu (2) Nguyễn Đức Minh (6) Nguyễn Đức Minh Hùng (10) Nguyễn Đức Nhân (1) Nguyễn Đức Phú Thọ (26) Nguyễn Đức Quyền (4) Nguyễn Đức Tấn (6) Nguyễn Đức Tình (4) Nguyễn Gia Long (1) Nguyên Hạ (11) Nguyễn Hải Thảo (2) Nguyễn Hậu (2) Nguyễn Hiếu (8) Nguyễn Hiếu Học (2) Nguyễn Hòa Hiệp (2) Nguyễn Hoài Ân (1) Nguyễn Hoàng Thức (2) Nguyễn Hồng Diệu (1) Nguyễn Huệ (3) Nguyên Hùng (1) Nguyễn Huy (3) Nguyễn Huy (HD) (1) Nguyễn Huy Khôi (1) Nguyễn Huỳnh (1) Nguyễn Hữu Minh (1) Nguyễn Hữu Phú (1) Nguyễn Hữu Quý (2) Nguyễn Hữu Thuần (4) Nguyễn Hữu Trung (2) Nguyễn Khiêm (1) Nguyễn Khoa Đăng (51) Nguyễn Kiều Lam (2) Nguyễn Kiều Phương (3) Nguyễn Kim Hương (7) Nguyễn Kim Thịnh (1) Nguyễn Lam (2) Nguyễn Lương Vỵ (4) Nguyên Minh (1) Nguyễn Minh Dũng (46) Nguyễn Minh Hoà (1) Nguyễn Minh Khiêm (1) Nguyễn Minh Nguyệt (1) Nguyễn Minh Phúc (47) Nguyễn Minh Quang (5) Nguyễn Minh Thuận (9) Nguyễn Minh Toàn (1) Nguyễn Mỳ (1) Nguyễn Mỹ Nữ (3) Nguyễn Nga (14) Nguyễn Nghiêm (3) Nguyễn Ngọc Dũng (1) Nguyễn Ngọc Đặng (1) Nguyễn Ngọc Hà (4) Nguyễn Ngọc Hưng (6) Nguyễn Ngọc Minh Anh (1) Nguyễn Ngọc Thơ (31) Nguyễn Ngọc Tư (5) Nguyễn Nguy Anh (21) Nguyễn Nguyên Phượng (69) Nguyễn Nhật Hùng (4) Nguyễn Như Tuấn (14) Nguyễn Phin (30) Nguyên Phong (1) Nguyễn Phú Yên (8) Nguyễn Phượng (2) Nguyễn Phương Dung (2) Nguyễn Quang Quân (8) Nguyễn Quang Tâm (2) Nguyễn Quang Tuấn (1) Nguyễn Quân (2) Nguyễn Quốc Ái (1) Nguyễn Quốc Bảo (1) Nguyễn Quốc Đông (1) Nguyễn Quy (2) Nguyên Tâm (1) Nguyễn Tấn Thuyên (3) Nguyễn Thái An (3) Nguyễn Thái Dương (6) Nguyễn Thái Huy (35) Nguyễn Thành Công (48) Nguyễn Thành Giang (22) Nguyễn Thanh Hải (1) Nguyễn Thanh Huyền (8) Nguyễn Thanh Mừng (1) Nguyễn Thánh Ngã (1) Nguyễn Thành Nhân (18) Nguyễn Thanh Tuấn (7) Nguyễn Thanh Xuân (2) Nguyễn Thế Kiên (1) Nguyễn Thế Kỷ (1) Nguyễn Thị Ánh Huỳnh (2) Nguyễn Thị Bích Phượng (2) Nguyễn Thị Cẩm Thuỳ (3) Nguyễn Thị Chi (2) Nguyễn Thị Diệu Hiền (3) Nguyễn Thị Hải (1) Nguyễn Thị Hằng (7) Nguyễn Thị Hậu (1) Nguyễn Thị Hồng Đào (10) Nguyễn Thị Huệ (1) Nguyễn Thị Kim Huệ (2) Nguyễn Thị Mây (127) Nguyễn Thị Ngọc Hải (1) Nguyễn Thị Ngọc Sen (2) Nguyễn Thị Như Tâm (3) Nguyễn Thị Phụng (27) Nguyễn Thị Thanh Bình (6) Nguyễn Thị Thành Nhân (1) Nguyễn Thị Thanh Toàn (1) Nguyễn Thị Thanh Xuân (1) Nguyễn Thị Thu Ba (23) Nguyễn Thị Thu Hiền (1) Nguyễn Thị Thu Hoài (1) Nguyễn Thị Thu Thuý (3) Nguyễn Thị Thùy Linh (3) Nguyễn Thị Tiết (3) Nguyễn Thị Tuyết (1) Nguyễn Thị Việt Hà (39) Nguyễn Thị Xuân Hương (14) Nguyễn Thu Hằng (1) Nguyễn Thủy (4) Nguyễn Thúy Ngân (13) Nguyễn Thuý Quỳnh (2) Nguyễn Thường Kham (3) Nguyễn Thượng Trí (2) Nguyễn Tiến Đường (8) Nguyễn Trần (1) Nguyễn Trí Tài (40) Nguyễn Trọng Luân (2) Nguyễn Trung (1) Nguyễn Trung Nguyên (1) Nguyễn Tuyển (4) Nguyễn Văn Ân (68) Nguyễn Văn Bút (6) Nguyễn Văn Công (2) Nguyễn Văn Cường (CCK) (4) Nguyễn Văn Hiến (5) Nguyễn Văn Hoà (5) Nguyễn Văn Hòa (2) Nguyễn Văn Học (55) Nguyễn Văn Ngọc (1) Nguyễn Văn Thanh (1) Nguyễn Văn Thành (1) Nguyễn Văn Thảo (17) Nguyễn Văn Toan (1) Nguyên Vi (1) Nguyễn Việt Hà (2) Nguyễn Vinh (1) Nguyễn Vĩnh Bình (3) Nguyễn Xuân Cảm (3) Nguyễn Xuân Dương (1) Nguyễn Xuân Khánh (1) Nguyễn Xuân Thuỷ (1) Nguyễn Xuân Thủy (1) Nguyễn Xuân Tư (3) Nguyệt Linh (5) Nguyệt Quế (1) Ngưng Thu (44) Nhã Ngọc (1) Nhã Thiên (7) nhà Thương (1) Nhân Hậu (2) NHÂN VẬT (1) Nhật Nguyệt Xuân Hương (1) Nhật Quang (17) Nhất Sinh (1) Nhật Vũ (1) Nhi Hạ (1) NHỚ THUỞ ẤU THƠ (37) Như Hoài (4) NHỮNG ÁNG VĂN HAY VỀ LÀNG QUÊ VIỆT NAM (7) NHỮNG NGƯỜI BẠN ĐÂT THỦ (6) NHỮNG NGƯỜI THỰC HIỆN HQN (5) Nông Quốc Lập (2) NP phan (1) Nửa Đời hư (1) NỬA THÁNG MỘT TÁC GIẢ VÀ MỘT BÀI THƠ HAY (38) nước (1) O. Henry (1) P.N. Thường Đoan (1) Pearl (1) Phạm Ánh (34) Phạm Anh Xuân (3) Phạm Bá Nhơn (2) Phạm Cao Hoàng (1) Phạm Đình Nghi (1) Phạm Hổ (1) Phạm Hữu Hoàng (20) Phạm Kiều Hưng (1) Phạm Lâm (1) Phạm Lê Tường Vi (1) Phạm Minh Dũng (14) Phạm Minh Hiền (9) Phạm Minh Thuận (10) Phạm Mỹ (1) Phạm Ngân (3) Phạm Như Vân (1) Phạm Phan Hòa (1) Phạm Phương Lan (1) Phạm Quỳnh An (1) Phạm Thái Ba (4) Phạm Thị Hải Dương (9) Phạm Thị Liên (1) Phạm Thị Mỹ Liên (30) Phạm Thị Phương Thảo (3) Phạm Thuý (6) Phạm Trần Ái Linh (4) Phạm Trung Tín (2) Phạm Tuấn Vũ (29) Phạm Tử Văn (21) Phạm Văn Phương (16) Phạm Văn Thạnh (1) Phạm Vũ (1) Phan Anh (12) Phan Cung Việt (1) Phan Đức Nam (1) Phan Hoài Thương (1) Phan Hoàng (2) Phan Huỳnh Điểu (1) Phan Hữu Lý (1) Phan Khanh (2) Phan Mai Thư Nhã (6) Phan Nam (20) Phan Quỳnh Như (1) Phan Sửu (1) Phan Tấn Lược (6) Phan Thanh Cương (2) Phan Thị Huỳnh Trang (2) Phan Tiên Phát (1) Phan Tình (1) Phan Trang Hy (25) Phan Văn Bình (1) Phan Văn Thạnh (1) Phan Văn Thuần (3) Phan Vĩnh (1) phần 1 (1) phần 2 (1) phần 3 (1) phần 4 (1) Phiêu Vân (1) Phong Dương (2) Phong Điệp (1) Phỏng vấn (7) Phú Ngọc (1) Phú Quang (3) Phú Xuân (8) Phùng Gia Lộc (1) Phùng Hiếu (10) Phùng Hiệu (1) Phùng Hoàng Chương (1) Phùng Phương Quý (7) Phụng Thiên (1) Phùng Văn Khai (1) Phước Vũ (1) Phương Phương (10) Phương Uy (5) Quan Thế Âm (1) Quảng Ngọc (1) Quảng Ngôn Lê Ngữ (1) Quang Thám (1) Quang Tuấn Dũng (9) Quốc Hùng (2) Quốc Tuyên (1) quy luật dịch (1) Quỳnh Lệ (1) Quỳnh Nga (16) Quỳnh Trâm (1) Rason Helmandollar (1) Raymond Carver (1) Raymond Thư (1) Rêu (Cao Hoàng Từ Đoan) (13) SÁCH BẠN VĂN (71) SARAH HALL (1) SINH NHẬT (1) Song Ninh (11) Sông Hương (11) Sông Lam (1) Sông Song (8) Sơn Tịnh (2) Sơn Trần (15) Sruthi Thekkiam (1) Stephen Crane (1) T.T.Hiếu Thảo (22) Tạ Nghi Lễ (1) Tạ Thị Hoa (14) Tam quốc diễn nghĩa (4) TẢN VĂN (230) TẠP BÚT (624) Tạp chí Văn Mới (1) TẠP CHÍ VN BÌNH DƯƠNG (11) Tashi Dawa (1) Tâm Lãng (1) Tâm Nhiên (2) Tấn Hòa (1) Tần Khánh (4) Tân Vương Huy (1) TẬP SAN ÁO TRẮNG (39) Tập san Văn học nghệ thuật Hương Quê Nhà (1) Tây bá hầu Cơ Phát (1) Tây Du Ký (1) Tây Sơn bi hùng truyện (2) Thạch Anh (2) Thạch Cầu (1) Thạch Đà (7) Thạch Lam (1) Thạch Sene (5) Thái An Khánh (2) Thái Hoà (1) Thanh Bình Nguyên (27) Thành Dũng (1) Thanh Hải (1) Thanh Huyền (2) Thanh Lương (2) Thanh Minh (4) Thanh Phong (1) Thanh Sơn (1) Thanh Thảo (3) Thanh Trắc Nguyễn Văn (42) Thanh Tùng (7) Thành Văn (3) Thạnh Văn (1) Thanh Xuân (2) Thảo Nguyễn (1) Thâm Tâm (1) Thần Y (1) Thi Ngọc Lan (1) Thiên Ân (1) Thiên Di (5) Thiên Sơn (1) Thiên Thần Áo Trắng (7) Thiên Tôn (10) Thiên Trần (1) Thiệp chúc mừng năm mới (4) Thiệp chúc Tết (3) Thiệp mừng (3) Thông báo (1) Thơ (3149) Thơ Lê Nhựt Triết (1) THƠ MỜI HOẠ (7) THƠ PHỔ NHẠC (106) Thời sự Văn nghệ (6) Thu Dung (3) Thu Hằng (1) Thu Hiền (1) Thu Hoài (1) Thu Nga (1) Thuận Thảo (8) Thuận Yến (1) Thục Minh (7) Thuỳ Anh (13) Thuỵ Du (1) Thụy Du (3) Thuỳ Dương (1) Thùy Dương (1) Thủy Điền (1) Thuỳ Nhân (1) Thư cảm ơn (1) Thư ngỏ (1) THƯ NGỎ CỦA HQN (2) Thư tin (285) THƯ VIỆN TÁC GIẢ (1) Tiểu luận (4) Tiểu Mục Đồng (1) Tiểu Nguyệt (5) Tiểu thuyết (107) Tiêu Tương (1) Tin buồn (2) TIN VĂN (2) Tịnh Bình (19) Tịnh Minh Tiến (2) Tô Hồng Phương (1) Tô Kiều Ngân (1) Tố Mai (3) Tô Minh Yến (21) Tôn Nữ Hỷ Khương (2) Tôn Thất Út (2) Tôn Tư Mạc (1) Tống Ngọc Hân (1) Tống Xuân Tám (1) Trà Bình (4) TRABATHA (1) Trác Phi (1) Trang Linh (1) Trang Lộc (1) Trang Thơ Chào Xuân Mậu Tuất 2018 (1) TRANG THƠ CHỦ NHẬT (528) Trang Thơ Đón Xuân Đinh Dậu 2017 (1) TRANG THƠ ĐƯỜNG LUẬT (17) Tranh ảnh (3) Trầm Mặc (4) Trần Anh Dũng (1) Trần Bảo Định (4) Trần Băng Khuê (1) Trần Biên Thùy (1) Trần Dần (1) Trần Duy Đức (17) Trần Dzạ Lữ (4) Trần Định (1) Trần Đình Sử (2) Trần Đoàn Luận (1) Trần Đức ÁI (2) Trần Đức Hiển (1) Trần Đức Tín (1) Trần Hà Nam (4) Trần Hoàng Vy (2) Trần Hồng Vân (5) Trần Huiền Ân (2) Trần Huy Minh Phương (2) Trần Hữu Du (1) Trần Hữu Hội (17) Trần Kim Đức (5) Trần Kim Loan (2) Trần Kim Quy (1) Trần Lê Sơn Ý (2) Trần Linh Chi (1) Trần Long Thạch (1) Trần Lưu (1) Trần Mai Hường (11) Trần Mạnh Hảo (1) Trần Minh Nguyệt (16) Trần Năm (1) Trần Ngọc Hồ Trường (4) Trần Ngọc Mỹ (11) Trần Nguyên Hạnh (6) Trần Nhã My (2) Trần Như Luận (3) Trần Nhương (1) Trần Phù Nam (1) Trần Quang Dũng (4) Trần Quang Khanh (12) Trần Quang Lộc (1) Trần Quang Ngân (10) Trần Quốc Tiến (8) Trần Quốc Toàn (1) Trần Quốc Việt (1) Trần Tâm (7) Trần Thái Hưng (5) Trần Thanh Hải (3) Trần Thành Nghĩa (1) Trần Thế Nhân (13) Trần Thị Bích Thu (1) Trần Thi Ca (9) Trần Thị Cổ Tích (2) Trần Thị Huệ (1) Trần Thị Huyền Trang (3) Trần Thị Mai (1) Trần Thị Ngọc Hồng (1) Trần Thị Thanh (5) Trần Thị Thắng (1) Trần Thị Thương Thương (4) Trần Thị Trúc Hạ (1) Trần Thị Uyên (8) Trần Thiện (3) Trần Thiện Tuấn (1) Trần Thoại Nguyên (2) Trần Thuận (7) Trần Thúy Lành (6) Trần Thuỳ Trang (1) Trần Thư (1) Trần Thương Nhiều (1) Trần Trọng Hưng (2) Trần Trọng Tân (1) Trần Trọng Vũ (2) Trần Tuấn Anh (2) Trần Tuấn Thanh (10) Trần Vạn Giã (2) Trần Văn Bạn (16) Trần Văn Nhân (5) Trần Văn Thiên (1) Trần Việt (1) Trần Viết Dũng (11) Trần Võ Thành Văn (24) Triết học (2) Triều Âm (2) Triều Châu (1) Triều La Vỹ (2) Triệu Lam Châu (1) Triệu Từ Truyền (30) Trịnh Bửu Hoài (106) Trịnh Duy Sơn (2) Trịnh Hoài Linh (5) Trịnh Huy (4) Trịnh Thuỳ Mỹ (1) Trịnh Tuyên (1) Trịnh Viết Hiền (1) Trịnh Viết Hiệp (1) Trịnh Yến (2) Trọng Mật (2) trụ vương (1) Trúc Giang (4) Trúc Lập (1) Trúc Linh Lan (2) Trúc Thanh Tâm (12) Trúc Thuyên (3) trung quốc (1) Trung Trung Đỉnh (1) Trung Y (1) Truong Nguyen (1) Truyện dài (10) TRUYỆN DỊCH (17) Truyện ký (2) TRUYỆN NGẮN (1173) TRUYỆN VỪA (14) Trương Công Tưởng (16) Trương Diễm Phiến (1) Trương Đình Phượng (8) Trương Đình Tuấn (3) Trương Hồng Phúc (14) Trương Huỳnh Như Trân (2) Trương Lan Anh (1) Trương Nam Chi (5) Trương Thanh Cường (2) Trường Thắng (65) Trương Thị Thanh Tâm (22) Trương Thị Thúy (2) Trường Thịnh (6) Trương Tri (2) Trương Văn Dân (21) Trương Viết Hùng (1) TTM (1) Tuấn Nguyễn (7) Tuấn Quỳnh (3) Tuệ Mỹ (1) Tuti (2) Tuỳ bút (2) TÙY BÚT (120) Tuyết Nhung (2) Tuyết Vân (1) tứ đại mỹ nhân (1) Tường Vi (1) TX (1) Út Lãng Tử (1) Uyên Khuê (2) Uyên Minh (1) Uyển Phan (1) Vạn Lộc (1) Vành Khuyên (1) Văn (2483) Văn Công Mỹ (2) văn hóa truyền thống (5) Văn học nước ngoài (13) Văn Lưu (1) Văn Nguyên (1) Văn Nguyên Lương (7) Văn Nhược Ba (1) Văn Thạnh (2) Văn Thành Lê (1) Văn Thắng (23) Văn Trọng Hùng (1) Vân Đồn (3) Vân Giang (12) Vân Khanh (2) Vân Phi (32) Vân Tùng (2) Vi Ánh Ngọc (2) Vi Quốc Hiệp (1) Victor Remizov (1) VIDEO CLIP (2) Viễn Trình (25) Việt Quỳnh (1) Việt Trang (1) Việt Trương (1) Vĩnh Sơn (7) Vĩnh Thông (43) Vĩnh Tuy (21) Võ Bá Cường (1) Võ Chân Cửu (17) Võ Chí Nhất (3) Võ Công Liêm (1) Võ Diệu Thanh (18) Võ Dõng (1) Võ Đông Điền (4) Võ Hà (1) Võ Hạnh (2) Võ Mỹ Cát (1) Võ Ngọc Thọ (4) Võ Như Văn (3) Võ Thị Nga (13) Võ Thị Thu Thủy (1) Võ Thuỵ Như Phương (15) Võ Văn Hoa (1) Võ Văn Luyến (1) Võ Xuân Phương (3) Vũ Bình Lục (1) vũ đạo (1) Vũ Đình Huy (9) Vũ Đình Liên (1) Vũ Đình Minh (1) Vũ Đình Nguyệt (2) Vũ Đình Thung (2) Vũ Đức Trọng (1) Vũ Hạ (1) Vũ Hạnh (3) Vũ Hùng (2) Vũ Miên Thảo (5) Vũ Thành An (1) Vũ Thị Huyền Trang (115) Vũ Thụy Khuê (8) Vũ Trọng Quang (1) Vũ Trọng Tâm (2) Vũ Trọng Thanh (1) Vương Doãn (1) Vương Hạnh (1) Vương Hoài Uyên (4) Vương Tâm (3) Xanh Nguyên (4) Xuân Đài (1) Xuân Phong (6) Xuân Phương (1) Xuân Tiến (20) Ý Thu (3) Yên Kha (7) Ziken (2)
-------------------------------------------------------------------------
+ 817 TÁC GIẢ CÓ BÀI ĐĂNG TRÊN HƯƠNG QUÊ NHÀ
-------------------------------------------------------------------------