Home » Vĩnh Thông
Khi nhắc tới xã Hiệp Xương, huyện Phú Tân, tỉnh An Giang, người ta thường nhắc đến câu ca dao “Hiệp Xương là xứ quê mùa/ Đi thăm cháu ngoại cho vùa cà na”. Câu ấy khi tra cứu trong các tư liệu hầu như không tìm gặp. Có lẽ đó là một biến thể từ câu “Xứ đâu là xứ quê mùa/ Đi thăm cháu ngoại cho vùa cà na” mà anh chị “tài tử” Nam Bộ nào đó đã gắn địa danh cụ thể của quê hương mình vào. Tuy nhiên, chúng tôi được biết còn một dị bản khác chắc hẳn có “tuổi đời” cao hơn, đó là “Cái Đầm là xứ quê mùa/ Đi thăm ông già vợ cho vùa cà na”. Cái Đầm ở đâu? Hóa ra đó cũng là một con rạch chảy qua Hiệp Xương. Những câu ca dao đó ít nhiều cho thấy trong nhận định của cư dân xưa, vùng đất nầy thật sự là xứ… quê mùa!
Nếu so với các thôn làng cố cựu ở An Giang thì Hiệp Xương không phải là vùng đất được khai phá sớm. Dưới triều vua Gia Long, qua tác phẩm Gia Định thành thông chí của Trịnh Hoài Đức, chúng ta được biết chưa có thôn Hiệp Xương. Bước sang triều Minh Mạng, thôn nầy cũng chưa xuất hiện trong Địa bạ tỉnh An Giang. Tuy nhiên, nó cũng không ra đời quá muộn về sau, bởi khi Pháp chiếm Nam Kỳ vào năm 1867, thôn Hiệp Xương đã có mặt trong danh sách các thôn mà Pháp tiếp nhận quản lý. Như vậy đoán chừng thôn nầy có thể được ra đời trong những thập niên 1840 - 1860.
Hiệp Xương có vị trí địa lý khá cách trở, không gần quốc lộ hay tỉnh lộ cũng không gần sông lớn, giao thông đường bộ hay đường thủy đều khó khăn. Sáu xã bao quanh khiến Hiệp Xương như lọt thỏm giữa bè bạn. Suốt mấy mươi năm liền, địa phương nầy luôn được xem là một trong những xã nghèo khó nhứt của huyện Phú Tân. Vậy mà khó có thể ngờ rằng, hiện nay bộ mặt của xã vùng sâu nầy thay đổi hẳn, mọi điều mới mẻ như vừa đang khởi đầu.
Điều đặc biệt nhất ở Hiệp Xương hôm nay có lẽ là cầu. Vốn là vùng đất có nhiều kinh rạch chi chít, người dân phải qua lại các con kinh bằng những chiếc cầu ván ộp ẹp. Đến mùa thu hoạch, nông dân chuyên chở hàng hóa càng khó khăn hơn do không thể đi qua những chiếc cầu xiêu vẹo đó mà phải sử dụng ghe xuồng, nên cần canh con nước lớn ròng để chọn thời điểm vận chuyển phù hợp. Vậy mà trong vài năm gần đây, xã đã xây dựng được hàng loạt những chiếc cầu bê tông trọng tải 8 tấn. Đối với những kinh rạch nhỏ vắt ngang những đoạn đường nội bộ, chưa có điều kiện xây cầu bê tông, thì những chiếc cầu ván lắc lư cũng được thay thế bằng cầu dây văng bền chắc còn thơm mùi gỗ mới.
Tính đến năm 2018, xã Hiệp Xương cơ bản hoàn chỉnh hệ thống cầu nông thôn trên địa bàn với 15 cây cầu kiên cố được xây dựng, trong đó có 7 cầu bê tông và 8 cầu dây văng. Nhìn những chiếc cầu còn mới toanh, chúng tôi nói vui với nhau rằng ở xã nầy… cầu đẹp hơn cả đường! Để hệ thống giao thông nông thôn được hoàn thiện, những ngày nầy người dân Hiệp Xương cũng đang ráo riết nâng cấp nhiều đoạn đường trên địa bàn xã. Những con đường đất gồ ghề và phải chịu cảnh sìn lầy vào mùa mưa đang được thay thế bằng đường nhựa hoặc đường bê tông bằng phẳng và sạch đẹp.
Ngay cả cà na - loại trái cây gắn liền với câu ca dao về xứ nầy cũng đang góp mặt trong hành trình cùng địa phương “vươn ra biển lớn”. Hằng năm cứ vào mùa nước nổi, những hàng cà na lại cho ra trái xanh um cả một vùng quê. Đây vốn là loại trái có vị chua chua, ngọt ngọt, chát chát. Khi ăn cà na, người ta có thể ăn sống và chấm với muối, hoặc ngào đường rồi cũng chấm muối khi ăn. Ăn một trái cà na là có thể cảm nhận đủ đầy nhiều hương vị, quả là một đặc sản mang đậm tính… tổng hòa!
Không cam chịu số phận “quê mùa” của xứ cà na, thanh niên Hiệp Xương bắt đầu thử nghiệm những giải pháp phát triển kinh tế từ loài cây gắn liền với tuổi thơ. Họ trồng tại nhà, thu hoạch và chế biến rồi bán ra thị trường, tạo thành thương hiệu riêng. Câu chuyện thanh niên Hiệp Xương khởi nghiệp bằng chính sản vật quê mình được huyện chọn làm mô hình khởi nghiệp sáng tạo, là điều rất đáng nghĩ suy.
Nhìn những đổi thay ở Hiệp Xương hôm nay mới biết sức mạnh của người nông dân kỳ diệu đến nhường nào!
Di chuyển chậm rãi trên những con đường quê yên ả của Hiệp Xương, chúng tôi cảm nhận nhưng đang được hít thở mùi vị dân dã của miệt vườn. Hình ảnh những cánh đồng xanh rì màu lúa non, lả lướt trong gió như những ngọn sóng, chạy dài tới chân trời rồi chạm phải nền xanh dìu dặt của mây như tấm phông nền vĩ đại, đâu đó được điểm xuyến thêm với những gốc cổ thụ lẻ loi trên bờ đê soi mình xuống dòng mương bình lặng chảy, vài cành lá lòa xòa nghiêng xuống chiếc xuồng ba lá đang đậu ven đê… tất cả tạo thành bức tranh quê vừa gần gũi, yên bình mà cũng vừa sinh động, lôi cuốn.
Nằm ở trung tâm xã, ngôi đình thần Hiệp Xương được xây dựng vào năm 1919, đến nay đã gần tròn một thế kỷ làm chứng nhân cho bao đổi thay của quê nhà. Mặt tiền ngôi đình chạm hình long mã màu vàng trên nền xanh mây trời - biểu tượng của sự thái bình. Ngay từ thời xa xưa, người nông dân đã gửi gắm bao ước vọng về cuộc sống sung túc của quê hương và suốt hàng bao năm qua đã cùng nhau chinh phục hoài bão của mình. Niềm tin như nguồn động lực lớn, cổ vũ cho bao lớp người vượt khó vươn lên.
Hành trình để Hiệp Xương khoác lên màu áo mới như một giấc mơ trong mắt nhiều người. Hành trình ấy - giấc mơ ấy, một nửa đã thành hiện thực, nửa còn lại vẫn đang từng ngày được hiện thực hóa bằng bàn tay và tấm lòng của những người con quê nhà. Không chỉ có Hiệp Xương mà khắp An Giang, bản lĩnh của những người nông dân đã làm nên biết bao đổi thay trên những miền quê heo hút. Phải chăng đó chính là niềm cảm hứng sâu sắc cho nhạc sĩ Hoàng Hiệp viết lên những câu hát da diết:
“Cơn lũ đi qua, cây si già bật gốc
Cây lúa đồng ta, mùa sau còn sai bông hơn trước
Cảm ơn người sáng tối gian lao
Thương sao hạt thóc quê mình
Nửa nuôi ta lớn nửa dành nước non”
V.T
Tác phẩm Dấu ấn thượng châu thổ của Vĩnh Thông vừa được Nhà xuất bản Tổng hợp TP.HCM phát hành tháng 3/2021. Sách dày 232 trang khổ 13 x 20,5 cm. Nội dung quyển sách các bài nghiên cứu văn hóa tiểu vùng thượng châu thổ Cửu Long được tác giả thực hiện trong những năm qua.
Thượng châu thổ Cửu Long là cách gọi của địa lý học dành cho tiểu vùng tương đối cao và nằm ở phía trên trong thủy trình sông Cửu Long ở Nam Bộ - Việt Nam. Nó cùng với ba bộ phận còn lại là Hạ châu thổ Cửu Long, Đồng Tháp Mười, Bán đảo Cà Mau và ven vịnh Thái Lan, hợp thành đồng bằng sông Cửu Long hay Tây Nam Bộ.
Đây là tiểu vùng phong phú cả về điều kiện tự nhiên lẫn diễn mạo văn hóa. Nơi đó có cả núi rừng, sông rạch, đồng trũng, biên giới… Trên những không gian ấy là sự có mặt của người Việt (Kinh), Khmer, Chăm, Hoa. Nếu sự đa dạng của tự nhiên đã giúp cư dân hình thành những cách thích ứng mới với môi trường, thì sự đa dạng về văn hóa đã tác động làm biến đổi hệ thống các giá trị trong đời sống xã hội của họ.
Ngay từ những bước chân đầu tiên, bao lớp di dân đã gặp muôn vàn khó khăn để chinh phục nơi được ví von là: “Sáu tháng đạp đất đồng khô/ Nửa năm đi trên mặt nước”. Không chỉ phải đương đầu với thiên nhiên khắc nghiệt, họ còn phải đối mặt với những biến cố lớn của xã hội, nhất là giặc ngoại xâm.
Để đứng vững trên mảnh đất nầy đã khó, tiến trình kiến tạo văn hóa cũng không hề đơn giản. Sự tiếp xúc của những làn sóng văn hóa buộc người di dân dù thuộc bất kỳ truyền thống nào cũng phải có biện pháp ứng xử thích hợp. Sau ba trăm năm, thượng châu thổ nói riêng và đồng bằng sông Cửu Long nói chung đã có cho mình một diện mạo văn hóa đặc thù và đặc sắc.
Với niềm say mê khám phá bầu trời tri thức văn hóa, tác giả đã đặt câu hỏi và đi tìm câu trả lời cho nhiều vấn đề liên quan đến miền đất “huyền bí” nầy qua một số nghiên cứu đã công bố trên các tạp chí khoa học hoặc kỷ yếu hội thảo. Để đến hôm nay, Dấu ấn thượng châu thổ ra đời là quyển sách tập hợp những nghiên cứu đó, đóng góp phần nào vào chặng đường tiếp cận diện mạo văn hóa tiểu vùng thượng châu thổ Cửu Long.
Sách có giá bìa là 90.000 đồng. Quý độc giả có nhu cầu mua sách xin vui lòng liên hệ tác giả qua email: vinhthongts@gmail.com. Hy vọng Dấu ấn thượng châu thổ sẽ được bạn đọc gần xa nhiệt tình đón nhận!
Lần nầy nó về trong nước mắt. Trong tiếng khóc của đám đông người ta vẫn nghe rất rõ tiếng khóc của nó. Nhưng đó là tiếng khóc than bên ngoài, còn tiếng khóc thét căng tràn trong lồng ngực, làm sao ai có thể nghe được. Những tiếng khóc cộng hưởng cùng nhau cứ kéo dài, dài mãi… dài như một đời người!
Khi nó về thì chị mình đã nằm sau lớp áo quan rất dày, gương mặt chỉ còn có thể nhìn thấy qua di ảnh. Gương mặt ấy còn rất trẻ, tấm ảnh thờ cũng rất mới, chị đã rửa tấm hình đó cách đây không lâu. Chị đã chuẩn bị sẵn cho chuyến đi của mình. Chuyến đi nầy, nó không còn có dịp thấy chị quay trở lại.
Nó như sắp quỵ khi đặt chân tới ngạch cửa, khi thấy cỗ quan tài đơn sơ, tấm hình thờ, lư hương nghi ngút khói. Đó là sự thật. Sự thật nầy rất nhiều lần nó đã cố không tin: khi nghe người nhà gọi điện thông báo, khi ngồi trên xe về quê, khi bước từng bước chân vào con hẻm quen thuộc. Nhưng ở ngạch cửa nầy, với những gì trước mặt đây, làm sao không tin được.
Phải chi là một cơn mê sảng, một giấc mơ. Trong chập choạng mộng mị ấy, nó mơ thấy mình về quê khi hay tin chị mất, thấy gia đình làm lễ tang chị, rồi tỉnh dậy mở mắt ra thì mọi thứ hoàn toàn không có thật. Phải chi! Nên nó cố thử nhắm mắt rồi mở mắt, cứ ao ước rằng khi mở mắt ra mình sẽ thở phào nhẹ nhõm thoát khỏi cơn ác mộng. Nhưng có nhắm mắt mở mắt bao nhiêu lần, đến hai mắt sưng đỏ, những gì hiện ra trước mắt nó vẫn không thay đổi. Có chăng là hai hàng nước, càng lúc lại càng trôi nhanh thêm.
Giờ đây dường như nó đang loáng thoáng nghe đâu đó vang lên bài hát “Chị tôi” của Trần Tiến. Là ai hát, hay chính nó đang thầm hát, hay ký ức hát? “Mộ chị tôi bé xinh đứng bên cầu thương nhớ mêng mông, mộ người chưa có chồng”. Bài hát giáng vào nó như một ám ảnh mãi nhức buốt, như một vết cắt dài sâu trong da thịt, mãi sẽ không lành.
Vẫn lư hương, di ảnh, quan tài. Vẫn là tiếng khóc, dài như một đời người…
Trong tiếng khóc đó, có cả tiếng khóc mà nó dành cho sự bội bạc của chính mình.
Chị nó mới phát bệnh mấy tháng thôi, lần trước về nhà nó thấy chị hơi ốm và xanh xao một chút, nhưng cũng còn khỏe và vui vẻ lắm mà, không phải là dấu hiệu của người bệnh nặng. Nó nghĩ có lẽ gần đây công việc vất vả quá nên chị hơi bơ phờ. Có lẽ chị đã biết mình bệnh, nhưng không muốn làm nó lo, dầu căn bệnh ấy là cái án tử treo lơ lửng trên đầu. Chị ơi, tới những ngày cuối cùng chị vẫn không màng đến cảm xúc riêng tư của bản thân sao?
Đã bao năm rồi, nó cứ mãi đi và đi. Đi mà không nhớ mình phải dừng lại, phải quay về. Cuộc hành trình của đôi chân, cuộc hành trình của tuổi trẻ, thôi thúc chàng trai đôi mươi đến nỗi làm nó quên bẵng đi vai chị đang cứ hoài oằn nặng. Chị ơi, chị lấy chồng đi! Dường như có vài lần nó nói như vậy. Nhưng nói để làm chi? Thì cũng là những câu bông đùa bâng quơ, nó chưa bao giờ nghĩ tới hạnh phúc của chị.
Còn chị? Chị có bao giờ nghĩ tới hạnh phúc của riêng mình không?
* * *
Tôi hay tin về chị ấy khi chị đã ra đi gần một tháng. Có lẽ bạn bè nghĩ chỉ là một người không quen thân mấy, không quan trọng để phải báo tin cho nhau, nên chỉ đến một hôm trong lúc ngồi cà phê nói chuyện trời mây gió nước, một người bạn tình cờ nhắc đến sự ra đi của chị. Tôi không khỏi sững sờ.
Chị ấy là một người phụ nữ cần cù, chịu khó nhưng tánh tình rất vui vẻ, thoải mái. Chị ngoài ba mươi tuổi, chưa có chồng, bán cơm trước cổng trường trung học - ngôi trường chúng tôi từng học trước đây. Nhà chị còn có cha mẹ đã ngoài sáu mươi và thằng em trai vừa mới tốt nghiệp đại học ở Sài Gòn. Cha mẹ đã yếu, chỉ bán vài món ăn vặt cho học sinh, cắt củm qua ngày. Lúc đứa em còn đang học thì chị là trụ cột chính của gia đình, vừa lo cho cha mẹ, vừa gửi tiền cho em học xa nhà. Có phải vì vậy mà chị không lấy chồng? Tôi chỉ đặt một dấu chấm hỏi ở đây, không dám tự tiện giải thích theo suy nghĩ chủ quan cá nhân. Và một điều nữa, chị là người ăn chay trường.
Lúc còn học ở đây, bọn chúng tôi thường hay ăn cơm ở quán chị. Đặc biệt là có những buổi học chiều xong rồi lại học tối, nhà xa không tiện về nên chúng tôi ở lại trường, chỉ cần dặn trước “chừa tụi em mấy dĩa cơm nha” thì lúc nào chúng tôi cũng có sẵn bữa cơm chiều no dạ. Chưa thấy chị khó chịu với ai bao giờ, mặc dù “thực khách” đều là những thằng con trai “chọc trời khuấy nước”.
Lúc đó tôi không để ý điều nầy. Vào quán ăn, nói vài câu bông đùa, đôi lúc cũng tâm sự chuyện nầy chuyện nọ, nhưng tôi chưa bao giờ quan tâm nhiều đến cách cư xử của chị. Bây giờ nhớ lại mới thấy rằng chị chưa bao giờ tỏ ra khó chịu chúng tôi, dẫu đôi khi có những đứa giỡn hơi quá trớn, nói năng hơi quá lố… Giá một dĩa cơm chị bán vốn đã rẻ, vậy mà tụi học trò hay xin thêm thứ nầy thứ kia - nửa đùa nửa thật - chị cũng vui vẻ cho thêm. Ăn cơm chưa no, mua một chén cơm thêm, giá rẻ bằng ly trà đá, và cơm đầy ắp cả chén. Chị vừa bán vừa tặng, như một kiểu “hỗ trợ ngầm” cho những đứa em nhỏ còn đang cắp sách.
Với những người bán hàng rong trước cổng trường, chị cũng rất niềm nở. Thậm chí chị cho họ bày bán trước cửa nhà dần dần thành thân thiết, coi như người trong nhà. Sau khi tốt nghiệp phổ thông, tôi có gặp lại chị một lần trong một chương trình từ thiện. Tôi khá bất ngờ khi gặp một người quen đang đứng phát quà cho đồng bào nghèo, chạy đến hỏi thăm vài câu, chị vẫn vui vẻ như ngày nào.
Đời chị tảo tần, tấm thân mệt nhưng lòng thì sáng. Chị hy sinh bản thân để lo cho cha mẹ và em trai. Chị tiếp sức cho những đứa học trò nhỏ qua từng dĩa cơm bình dân. Chị giúp đỡ cho những người bán hàng rong một chốn để tránh mưa nắng. Buôn bán cực nhọc lại còn gánh nặng gia đình, nhưng không thấy chị buồn phiền, lúc nào cũng vui tươi với mọi người. Có bao giờ chị nghĩ đến hạnh phúc tư riêng?
Từ lần gặp trong buổi phát quà đến nay, tôi không về lại trường cũ, cũng không gặp lại chị lần nào nữa. Khi nghe nhắc đến chị cũng là lúc tụi bạn cho biết chị đã mất. Chị bị ung thư. Đột ngột quá! Lúc tôi còn học, chị vẫn là một người phụ nữ khỏe mạnh, nhanh nhẹn, sắc mặt tươi tắn. Tôi chưa từng nghe ai nói chị bị bệnh. Vậy mà…
Rồi chắc hẳn sẽ có người nói: “Ăn chay trường mà cũng chết sớm, làm từ thiện mà cũng chết sớm, vậy ăn chay làm từ thiện chi cho mắc công”. Miệng đời mà, dĩ nhiên. Ở nơi nào đó, chắc chị sẽ mỉm cười, mỉm cười là xả bỏ. Họ đâu biết rằng trong nửa phần đời sau cùng của chị, tâm hồn chị đã an lạc như thế nào. Thứ an lạc đó, nào phải ai cũng có được. Có bao giờ chị nghĩ rằng mình ăn chay làm từ thiện là để được sống dai đâu.
Thiên hạ có thể hy sinh tất cả để kiếm tiền. Chị thì ngược lại. Chị hy sinh tất cả - kể cả tiền và hạnh phúc - để tìm thấy được sự an lạc của chính mình. Những thứ quan trọng nhứt đối với người khác mà chị còn có thể buông xuống, thì cái gì có thể ràng buộc được chị đây?
* * *
Đây là câu chuyện có thật về một con người có thật. Tôi chỉ là một người tình cờ quen biết chị giữa cuộc đời ngắn ngủi. Xin được làm công việc chép chuyện về chị - không là cả đời người, chỉ một vài lát cắt nhỏ mà tôi từng biết. Có một điều tôi chưa từng nói cho chị biết, là tôi và chị cùng thọ giới chung một vị bổn sư.
Trong đạo Phật, người hành Bồ tát hạnh là người thương yêu những người xung quanh, sẵn lòng giúp đỡ khi có thể và dường như chẳng giận ghét ai. Vậy nếu tôi xem chị như một Bồ tát đời thường, không biết có quá lời chăng? Năm mới đã đi qua được một tháng rồi, lại một năm trôi tuột khỏi kiếp đời hữu hạn, có níu kéo cũng được đâu. Tôi tự nhắc nhở với chính mình mà như đang thủ thỉ cùng chị: “khứ lai như thị”.
V.T

Người ta nói rằng thần làng Năng linh thiêng lắm!
Sóng gió từ đâu nổi lên cuồn cuộn, gầm rú ghê rợn, chiếc xà lang chao đảo điên cuồng. Chín Nhạn bị gió nhấc bổng, cuốn ra khỏi xà lang rồi hất mạnh xuống lòng sông. Con sông ấy rất sâu, sâu hoắm. Cho tới một lúc nào đó, lâu lắm, ở một nơi nào đó, lạ lắm, ông tỉnh dậy. Xung quanh là một vùng rộng lớn tối sẫm. Có luồng sáng lờ mờ hắt ra. Nhìn kỹ, trước mặt là một ông lão có gương mặt phúc hậu, râu tóc bạc trắng, già đến mức không thể đoán được khoảng bao nhiêu tuổi…
Giấc mơ kỳ cục, quái gỡ, đáo đi đáo lại suốt mấy ngày như thế. Hôm sau y hệt hôm trước, hình như không dư không thiếu chi tiết nào. Như một đoạn phim lập trình sẵn, cứ đến giữa khuya phát ra, bóp nghẹt giấc ngủ của Chín Nhạn. “Cái gì không phải của mình thì đừng chiếm đoạt”. Chỉ một câu ấy, bao nhiêu giấc mơ trôi qua ông lão kỳ lạ cũng chỉ nói mỗi một câu ấy, rồi mất hút. Có đôi lần trong mơ, Chín định chạy đến hỏi ông ấy là ai, nhưng lúc đó giọng nói trở nên ú ớ, như có thứ gì nén chặt lại, thanh âm tắt lụi. Đến khi thức dậy, ông chạy ào ra khỏi phòng, sợ rằng mình còn nằm trong đây một phút một giây nào nữa, thì lão già ấy sẽ bắt luôn cả mình đi.
Ngoài kia, đám nhân công vẫn đang khai thác cát đều đều trong đêm bình lặng, không hề có chuyện gì xảy ra.
Chín Nhạn quyết định đi tìm lời giải. Ông rời xà lang, dùng chiếc xuồng nhỏ bơi vào bờ. Thật ra ông biết người làng Năng không ưa gì mình. Nhưng cũng may là trong làng không phải ai cũng biết mặt ông, chỉ có những người từng bơi ra xà lang khai thác cát của Chín Nhạn mới biết ông. Chính vì thế mà ông có thể ung dung lân la đến các quán cà phê ở xa xa, vậy xem như tạm yên ổn. Ông hỏi ở đây từng có ông già nào tướng tá như vầy, mặt mũi như vầy… Mọi người nghe xong ngó nhau, ai nấy lắc đầu. Ông lão là ai? Chín Nhạn suốt mấy ngày tức tối vì không ai trả lời được câu hỏi nầy.
Tối qua ông lại mơ, đoạn phim lặp lại như trước. Thức dậy mồ hôi đổ như tắm, thở ra nghèn nghẹn. Cơn lạnh ngoài sông lùa về chạy dòng dọc sống lưng, lạnh ngắt. Ông lấy ly nước uống, cố nuốt vô mà cảm thấy thấy cổ họng vẫn khan. Đêm nay ông lão kỳ lạ kia không chỉ nói một câu như trước mà còn thêm câu thứ hai. “Đất đai của làng ta thì hãy trả lại cho làng ta”. Vậy là đã tìm được câu trả lời. Nhờ câu nói thứ hai của ông lão do Chín Nhạn kể lại, người ta đã đoán ra. Dân làng Năng quả quyết rằng ông lão ấy chính là thần làng Năng.
Người ta nói rằng thần làng Năng linh thiêng lắm!
Dân làng Năng bày ra trước mắt Chín Nhạn một bức tranh lắp ghép nhiều mảnh về vị thần họ sùng tín. Những câu chuyện được mọi người thay nhau kể. Đại ý là thần luôn phù hộ những người tốt với dân làng, thẳng tay trừng trị những kẻ ăn ở ác đức. Chín bĩu môi không tin, nhưng không dám nói ra. (Nếu nói là không tin chắc sẽ bị mọi người đập tơi bời, ông đã quá sợ dân làng Năng nầy rồi). “Ông thần làng Năng linh cỡ nào? Giỏi lắm thì cũng chỉ ngồi trong đình hưởng đồ cúng. Làm gì được tao? Tao ở giữa sông, thần có bơi ra tới đây vặn cổ bẻ họng được không? Ông thần tài ba gì ngoài mấy cái trò chui vô giấc mơ để hù dọa”. Chín Nhạn vẫn chịu khó ngồi nghe và chỉ dám cười thầm trong bụng. Vậy mà không hiểu sao ông cứ mơ hồ nghe như văng vẳng đâu đó bên tai, rằng thần làng Năng linh thiêng lắm!
Về tới xà lang, mấy thằng đệ tử cho hay neo bị mắc kẹt vào vật gì rồi, nhổ lên không được. Kỳ lạ! Xà lang đi biết bao con sông, hạ neo bấy nhiêu nhiêu chỗ, làm gì có nơi nào nhổ neo không được. Một người nhổ không lên, hai ba người cùng kéo không được, cả chục người xúm lại, sợi dây vẫn nằm trơ. Tiếng hì hục, tiếng hò dô, tiếng dây cọ vào xà lang trèo trẹo, tiếng thở dài, tất cả nghe như nghẹn ứ.
“Lặn xuống!”, Chín Nhạn ra lịnh cho đệ tử. Thằng nhỏ cỡ mười sáu tuổi lặn tài tình, phóng cái đùng xuống sông rồi mất tăm, để lại một chùm tia nước hất lên cao. Đến khi ngoi lên, thằng nhỏ nói không thấy cái neo đâu. “Trời! Sao lại không thấy? Không có neo mà sao sợi dây nặng trịch kéo không lên?”. Chín Nhạn sai hai thằng lớn hơn lặn xuống lần nữa, lần nầy lặn lâu, phải mang theo bình dưỡng khí. Gần mười phút sau, hai thằng trồi lên.
“Trời ơi thấy ghê quá ông Chín ơi! Nói ra hổng biết ông tin hông nữa. Thiệt là ma quỷ gì đâu!”.
“Sao, nói lẹ coi”.
Hai thằng ú ớ, vẻ sợ sệt, ngó nhau đăm đăm. Một thằng đưa tay quẹt nước trên mặt cho tỉnh táo lại rồi nói ngập ngừng:
“Ở dưới… có ông già… ổng nói… lấy cái neo mình rồi”.
Chín Nhạn chưng hững, trợn mắt nhìn hai thằng trân trân:
“Khùng hả mầy? Bị ma nhập hả? Sông sâu làm gì có ai ở dưới được?”.
Thằng nhỏ nói tiếp:
“Bởi vậy tui đã nói là khó tin lắm, kể ông cũng không chịu tin. Tụi tui bơi lại đòi mà ổng đi mất tiêu”.
Chín Nhạn bắt đầu thấy hoang mang, ngờ ngợ như nhớ ra điều gì:
“Ông già đó ra làm sao?”.
“Già già chát khú đế, râu bạc, tóc bạc, mà ổng mặc đồ đẹp ghê luôn ông Chín”.
Chín Nhạn nghe xong giựt mình, có cảm giác đầu óc bần thần, choáng váng, hai lỗ tai lùng bùng. Ông già tụi nó tả không lẽ là thần làng Năng? Có phải ông thần làng Năng linh thiêng như vậy? Chín chợt nhớ đến lời thách thức của mình ban nãy, nghe cơn lạnh lại từ đâu tràn tới chạy rần rần, xô ông liêu xiêu muốn sụp té. Trong đầu ông lại nghe văng vẳng đâu đây có tiếng nói, rằng thần làng Năng linh thiêng lắm! Ông thở dài thườn thượt.
Tối nay Chín Nhạn không ngủ. Ông không muốn giấc mơ lặp lại, nên thức một đêm cũng không sao, ban ngày sẽ ngủ bù lại. Trên xà lang, nhân công và máy móc vẫn đang làm việc đều đều. Công việc khai thác cát vào ban đêm đã không còn xa lạ. Đôi lúc Chín thấy mình thiệt tài. Năm giờ chiều ngừng khai thác đúng như quy định, đến khuya khi mọi người ngủ say, xà lang lại tiếp tục cho khai thác đến tờ mờ sáng thì ngừng, rồi bảy giờ sáng hôm sau khai thác tiếp. Như vậy mọi người sẽ nghĩ rằng xà lang khai thác cát của Chín Nhạn hoạt động đúng theo thời gian cho phép của chánh quyền. Đâu ai biết rằng hằng ngày vẫn có kẻ đang “đi đêm”.
Bữa sau, Chín Nhạn đem mâm trái cây đến đình. Không biết thần làng Năng có linh thiêng như lời đồn không, thôi cứ thử một phen, xem như tự cứu mình. Không gian trong đình yên ắng, chỉ nghe tiếng thở của Chín Nhạn. Có ánh mắt nào đó gần lắm đâu đây, cuốn trôi tuồn tuột bao dũng khí ban đầu của ông. Ông đặt mâm trái cây lên bàn thờ, khấn rằng mình làm sai và đã biết lỗi, mong thần tha thứ, lại còn hứa sẽ không đụng tới đất đai của thần nữa. Chín cảm thấy thấy cơ thể nóng bừng. Dường như thần đang có mặt ngay lúc đó, đang kề mắt sát bên ngó chăm chăm từng cử chỉ của ông. Đây đó xong xuôi, vậy mà bước khỏi đình ông lại còn đâm ra lo lắng, không biết kế sách nầy có linh nghiệm không? Cả tháng nay chuyện làm ăn đã rắc rối lắm rồi, giờ lại còn vướng vào chuyện thần chuyện quỷ…
* * *
Rắc rối! Đúng hơn phải là điêu đứng. Từng đi qua nhiều nơi, nhưng chưa nơi nào làm Chín Nhạn phải khốn đốn như cái xứ sở nầy. Nửa tháng qua, vài ngày người dân lại tụ tập ra xà lang khai thác cát của ông để gây khó dễ. Mỗi lần đi là một tốp khoảng vài chục người, trai gái già trẻ có đủ. Công việc khai thác phải tạm dừng. Nhân công đứng chết trân, mặt mày xanh lét, ngốn hết tất cả những lời chửi bới của dân làng. Chiếc xà lang thì phải hứng đủ thứ gạch, đá, trứng ung, cà chua, rau thúi… Có chạy xà lang đi cũng không xong, ghe của người dân đã bao vây bốn phía và sẵn sàng đuổi theo, đành phải đứng chịu trận.
Đơn giản là vì làng Năng lở đất quá nhiều. Đất đai của làng mỗi ngày càng bị sóng nước vồ lấy. Dân làng sợ tiếp tục khai thác cát sẽ làm trôi thêm đất xuống lòng sông. Chín Nhạn từng lấy một đống giấy tờ ra, nè, mấy ông mấy bà coi đi, khai thác được cấp phép đàng hoàng. Vậy mà cũng vô ích, suýt chút nữa tờ giấy phép đã phải tắm nước cà thúi. Dân làng ai nấy nhao lên:
“Kệ tía mầy! Hổng có cấp phép gì ở đây ráo trọi. Giấy tờ gì của mầy hông cần biết, chánh quyền cho thì kệ, nhưng bây giờ dân tụi tao không cho. Tụi bây hút cát dưới sông thì đất đai bên bờ sẽ trôi xuống”.
“Ờ, phải rồi. Có cấp phép, nhưng khai thác nhiều hơn quy định thì cũng có ai biết! Nên bây giờ nói gọn là dù khai thác ít hay nhiều cũng không được”.
Chín Nhạn đứng im thin thít, người đơ như tượng, nghe máu trong mình nóng lên sùng sục, tức muốn nổi khùng. Nhưng đành chịu. Chừng nào mệt, họ sẽ tự bỏ về. Hết cách rồi!
Đôi ba lần chánh quyền cảnh cáo người dân, nhưng vẫn không xong. Cuối cùng phải mời họp giải quyết. Đơn vị khai thác cát có Chín Nhạn và hai thằng đệ tử, trong khi dân làng thì cả một… “đại đội”! Buổi họp hôm đó xôn xao như nhóm chợ, không khí nóng hầm hập. Phòng họp chật cứng như bị giãn ra thêm bởi đủ thứ tiếng bàn tán, kể tội, chửi rủa, hăm dọa… Nhà khoa học được mời đến, nói rằng đã dùng phương pháp khoa học để thăm dò kỹ lưỡng mới cho phép khai thác cát. Họ giải thích đất làng Năng lở là do tác động của dòng chảy chứ không phải do việc khai thác cát. Người dân nhốn nháo bàn tán, rồi ai nấy lắc đầu:
“Tui hỏi mấy ông cán bộ, cát ở đáy sông bị hút lên tạo thành lõm ở dưới đó, thì đất trên bờ làm sao không chảy xuống cái lõm đó cho được? Tui không tin mấy ông đâu. Mấy ông là phe phái với nhau, mấy ông ăn hối lộ nên mới theo tụi nó”.
“Phải rồi, hút cát lên thì đất phải sụp xuống chớ. Mấy ông là nhà khoa học, giải thích sao cũng được, làm sao dân tụi tui biết. Nhưng khai thác cát ít nhiều gì cũng làm lở đất”.
Mặc kệ phiên họp chưa kết thúc, dân làng kéo nhau ùn ùn bỏ về, cửa phòng họp nhỏ xíu tưởng chừng bị tét làm đôi. Nhà khoa học lắc đầu. Chánh quyền bất lực. Cũng phải, khi thấy đất đai của mình đang bị uy hiếp như vậy, có ai chịu đứng nhìn đâu?
* * *
Chín Nhạn từ trong đình lững thững ra về. Ngoài đường, nắng vừa đủ vàng ươm rọi nghiêng nghiêng mấy bóng cây, đậu xuống mái tóc hớt cua trùi trụi của ông. Ông nghe ngực mình đánh trống thình thịch, mồ hôi rũ nhau trườn ra lưng áo. Về vừa đến xà lang, mấy thằng đệ tử mặt tươi rói, la rố ráo: “Nhổ neo lên được rồi ông Chín ơi!”. Chín Nhạn giựt mình, không tin được những gì mình đang nghe, đang thấy. Ông chạy tới nhìn trân trân. Đúng thật là cái neo rồi, nó đang lù lù ngay trước mắt. Kế bên là sợi dây neo đang nằm im re, hiền khô, yếu đuối, cứ như khác hẳn so với sợi dây trình trịch ngày hôm qua. Chín Nhạn run hai môi, bắt đầu cảm thấy nỗi sợ đang lần lần mơn trớn và áp đảo đầu óc mình. Chẳng lẽ ông thần làng Năng linh thiêng thật như vậy sao?
Trong bụng ông mở cờ.
Ông đang nghĩ đến một dự định khác.
Sáng sớm hôm sau, Chín Nhạn lại bưng một cái mâm lớn đến đình. Trong mâm lần nầy không chỉ đơn giản là trái cây như hôm trước nữa, mà là cả một con heo sữa quay, mỡ tươm ra bóng lộn. Chín hồ hởi đặt lễ vật lên bàn thờ rồi ung dung thắp nhang đứng khấn. Trong đình hôm nay, ông cảm thấy đủ tự tin hơn để đứng một mình, dẫu có con mắt vô hình nào đó đang ngó mình, ông cũng không sợ. Dường như ông nắm bắt được điều gì đó từ vị thần mà ông đang cầu khẩn. Ông cố tình khấn lớn:
“Con đây người trần mắt thịt không biết oai linh của thần nên đã có ý khinh khi, nhờ thần linh ứng dạy dỗ cho con được sáng tỏ. Nay con xin đem lễ vật đến thành tâm dâng thần, trước mong thần tha thứ tội, sau nhờ thần che chở và phù hộ cho con trong việc làm ăn. Xin thần giúp đỡ con tránh được đám dân làng phá rối, qua mắt được chánh quyền. Nếu con khai thác cát ở làng Năng lần nầy được lợi nhuận nhiều, con sẽ trả lễ thần thật hậu hỷ”.
Khấn xong, Chín Nhạn cười đầy đắc ý. Trước khi về, ông thong thả nhìn quanh một lượt, như đang muốn tìm một sự thỏa hiệp từ ánh mắt nào đó đang dòm ngó mình. Lúc không thể nhờ người khác được nữa, người ta đành cậy nhờ thế lực vô hình. Chín Nhạn hối lộ, mua chuộc cả thần linh! Khi lòng tham lên đến một mức độ không còn nhỏ nữa, người ta bắt đầu bất chấp mọi chuyện, bất chấp lẽ phải. Và lần nầy, cao hơn, Chín Nhạn bất chấp cả luật trời, cả thần thánh.
* * *
Mấy ngày sau, cả làng Năng xôn xao tin ông chủ xà lang khai thác cát bị té sông. Tuy trong làng không phải ai cũng biết mặt Chín Nhạn, nhưng nói đến ông chủ xà lang khai thác cát thì hầu như mọi người cũng đã đôi lần nghe qua. Khi hay tin ông gặp nạn, ai cũng cảm thấy bất ngờ. Sao mới đó mà gặp nạn rồi? Sao dân sống trên sông nước mà bị té như vậy? Sao còn trẻ mà ra nông nỗi nầy?
Nghe nói khi chèo từ trong bờ ra gần tới xà lang, xuồng của Chín Nhạn bị lật, làm ông té xuống nước. Không hiểu lúc đó người ngợm ông bị gì mà lại không chịu bơi? Cứ chấp chới rồi chìm dần. Đám nhân công trên xà lang nhìn thấy liền nhảy xuống sông cứu ông chủ của mình. Họ lặn giỏi, nên không lâu sau đó đã cứu được Chín Nhạn. Sau khi hô hấp nhân tạo, ông từ từ tỉnh dậy, nhưng mắt vô hồn, miệng cứ ú ớ không thành tiếng, có lúc lại cười một mình.
Hình như thần kinh ông gặp vấn đề, không còn nhận thức rõ ràng nữa. Gia đình Chín Nhạn đã nhanh chóng đưa ông đi điều trị, chiếc xà lang khai thác cát cũng đã rời khỏi khúc sông bên cạnh làng Năng, không biết có còn trở lại nữa không?
Dân làng kháo nhau rằng đó là báo ứng dành cho người làm hại làng Năng. Họ nói những người muốn lấy đất đai của làng để làm giàu cho bản thân mình thì phải chịu trừng phạt như thế, và quả quyết rằng tai nạn của Chín Nhạn chính là do thần làng Năng trừng phạt chứ không phải vì lý do nào khác. Cái gì không phải của mình thì đừng chiếm đoạt, đất đai của làng Năng thì phải trả lại cho làng Năng.
Người ta nói rằng thần làng Năng linh thiêng lắm!
V.T
CÁCH NHẬP COMMENT TRÊN HƯƠNG QUÊ NHÀ
Đầu tiên, nhấp chuột vào ô Nhập nhận xét của bạn rồi viết comment. Viết xong, nhấp chuột vào ô Tài khoản Google. Sau đó nhấp chuột vào Tên/URL thì sẽ hiện ra 2 ô. Ô phía trên, ghi Họ và tên của bạn. Ô phía dưới, ghi dòng chữ:huongquenha.com
Cuối cùng, nhấp chuột vào ô Tiếp tục và nhấp chuột tiếp vào ô Xuất bản là xong. (Nếu bạn đã có sẵn Tài khoản Google, thì sau khi viết comment, chỉ cần nhấp chuột vào ô Xuất bản là thành công)