HÀNH TRÌNH MỘT GIẤC MƠ - Tùy bút Vĩnh Thông

                                                 Cây bút trẻ Vĩnh Thông (An Giang)


Khi nhắc tới xã Hiệp Xương, huyện Phú Tân, tỉnh An Giang, người ta thường nhắc đến câu ca dao “Hiệp Xương là xứ quê mùa/ Đi thăm cháu ngoại cho vùa cà na”. Câu ấy khi tra cứu trong các tư liệu hầu như không tìm gặp. Có lẽ đó là một biến thể từ câu “Xứ đâu là xứ quê mùa/ Đi thăm cháu ngoại cho vùa cà na” mà anh chị “tài tử” Nam Bộ nào đó đã gắn địa danh cụ thể của quê hương mình vào. Tuy nhiên, chúng tôi được biết còn một dị bản khác chắc hẳn có “tuổi đời” cao hơn, đó là “Cái Đầm là xứ quê mùa/ Đi thăm ông già vợ cho vùa cà na”. Cái Đầm ở đâu? Hóa ra đó cũng là một con rạch chảy qua Hiệp Xương. Những câu ca dao đó ít nhiều cho thấy trong nhận định của cư dân xưa, vùng đất nầy thật sự là xứ… quê mùa!

Nếu so với các thôn làng cố cựu ở An Giang thì Hiệp Xương không phải là vùng đất được khai phá sớm. Dưới triều vua Gia Long, qua tác phẩm Gia Định thành thông chí của Trịnh Hoài Đức, chúng ta được biết chưa có thôn Hiệp Xương. Bước sang triều Minh Mạng, thôn nầy cũng chưa xuất hiện trong Địa bạ tỉnh An Giang. Tuy nhiên, nó cũng không ra đời quá muộn về sau, bởi khi Pháp chiếm Nam Kỳ vào năm 1867, thôn Hiệp Xương đã có mặt trong danh sách các thôn mà Pháp tiếp nhận quản lý. Như vậy đoán chừng thôn nầy có thể được ra đời trong những thập niên 1840 - 1860.

Hiệp Xương có vị trí địa lý khá cách trở, không gần quốc lộ hay tỉnh lộ cũng không gần sông lớn, giao thông đường bộ hay đường thủy đều khó khăn. Sáu xã bao quanh khiến Hiệp Xương như lọt thỏm giữa bè bạn. Suốt mấy mươi năm liền, địa phương nầy luôn được xem là một trong những xã nghèo khó nhứt của huyện Phú Tân. Vậy mà khó có thể ngờ rằng, hiện nay bộ mặt của xã vùng sâu nầy thay đổi hẳn, mọi điều mới mẻ như vừa đang khởi đầu.

Điều đặc biệt nhất ở Hiệp Xương hôm nay có lẽ là cầu. Vốn là vùng đất có nhiều kinh rạch chi chít, người dân phải qua lại các con kinh bằng những chiếc cầu ván ộp ẹp. Đến mùa thu hoạch, nông dân chuyên chở hàng hóa càng khó khăn hơn do không thể đi qua những chiếc cầu xiêu vẹo đó mà phải sử dụng ghe xuồng, nên cần canh con nước lớn ròng để chọn thời điểm vận chuyển phù hợp. Vậy mà trong vài năm gần đây, xã đã xây dựng được hàng loạt những chiếc cầu bê tông trọng tải 8 tấn. Đối với những kinh rạch nhỏ vắt ngang những đoạn đường nội bộ, chưa có điều kiện xây cầu bê tông, thì những chiếc cầu ván lắc lư cũng được thay thế bằng cầu dây văng bền chắc còn thơm mùi gỗ mới.

Tính đến năm 2018, xã Hiệp Xương cơ bản hoàn chỉnh hệ thống cầu nông thôn trên địa bàn với 15 cây cầu kiên cố được xây dựng, trong đó có 7 cầu bê tông và 8 cầu dây văng. Nhìn những chiếc cầu còn mới toanh, chúng tôi nói vui với nhau rằng ở xã nầy… cầu đẹp hơn cả đường! Để hệ thống giao thông nông thôn được hoàn thiện, những ngày nầy người dân Hiệp Xương cũng đang ráo riết nâng cấp nhiều đoạn đường trên địa bàn xã. Những con đường đất gồ ghề và phải chịu cảnh sìn lầy vào mùa mưa đang được thay thế bằng đường nhựa hoặc đường bê tông bằng phẳng và sạch đẹp.

Ngay cả cà na - loại trái cây gắn liền với câu ca dao về xứ nầy cũng đang góp mặt trong hành trình cùng địa phương “vươn ra biển lớn”. Hằng năm cứ vào mùa nước nổi, những hàng cà na lại cho ra trái xanh um cả một vùng quê. Đây vốn là loại trái có vị chua chua, ngọt ngọt, chát chát. Khi ăn cà na, người ta có thể ăn sống và chấm với muối, hoặc ngào đường rồi cũng chấm muối khi ăn. Ăn một trái cà na là có thể cảm nhận đủ đầy nhiều hương vị, quả là một đặc sản mang đậm tính… tổng hòa!

Không cam chịu số phận “quê mùa” của xứ cà na, thanh niên Hiệp Xương bắt đầu thử nghiệm những giải pháp phát triển kinh tế từ loài cây gắn liền với tuổi thơ. Họ trồng tại nhà, thu hoạch và chế biến rồi bán ra thị trường, tạo thành thương hiệu riêng. Câu chuyện thanh niên Hiệp Xương khởi nghiệp bằng chính sản vật quê mình được huyện chọn làm mô hình khởi nghiệp sáng tạo, là điều rất đáng nghĩ suy.

Nhìn những đổi thay ở Hiệp Xương hôm nay mới biết sức mạnh của người nông dân kỳ diệu đến nhường nào!

Di chuyển chậm rãi trên những con đường quê yên ả của Hiệp Xương, chúng tôi cảm nhận nhưng đang được hít thở mùi vị dân dã của miệt vườn. Hình ảnh những cánh đồng xanh rì màu lúa non, lả lướt trong gió như những ngọn sóng, chạy dài tới chân trời rồi chạm phải nền xanh dìu dặt của mây như tấm phông nền vĩ đại, đâu đó được điểm xuyến thêm với những gốc cổ thụ lẻ loi trên bờ đê soi mình xuống dòng mương bình lặng chảy, vài cành lá lòa xòa nghiêng xuống chiếc xuồng ba lá đang đậu ven đê… tất cả tạo thành bức tranh quê vừa gần gũi, yên bình mà cũng vừa sinh động, lôi cuốn.

Nằm ở trung tâm xã, ngôi đình thần Hiệp Xương được xây dựng vào năm 1919, đến nay đã gần tròn một thế kỷ làm chứng nhân cho bao đổi thay của quê nhà. Mặt tiền ngôi đình chạm hình long mã màu vàng trên nền xanh mây trời - biểu tượng của sự thái bình. Ngay từ thời xa xưa, người nông dân đã gửi gắm bao ước vọng về cuộc sống sung túc của quê hương và suốt hàng bao năm qua đã cùng nhau chinh phục hoài bão của mình. Niềm tin như nguồn động lực lớn, cổ vũ cho bao lớp người vượt khó vươn lên.

Hành trình để Hiệp Xương khoác lên màu áo mới như một giấc mơ trong mắt nhiều người. Hành trình ấy - giấc mơ ấy, một nửa đã thành hiện thực, nửa còn lại vẫn đang từng ngày được hiện thực hóa bằng bàn tay và tấm lòng của những người con quê nhà. Không chỉ có Hiệp Xương mà khắp An Giang, bản lĩnh của những người nông dân đã làm nên biết bao đổi thay trên những miền quê heo hút. Phải chăng đó chính là niềm cảm hứng sâu sắc cho nhạc sĩ Hoàng Hiệp viết lên những câu hát da diết:

“Cơn lũ đi qua, cây si già bật gốc

Cây lúa đồng ta, mùa sau còn sai bông hơn trước

Cảm ơn người sáng tối gian lao

Thương sao hạt thóc quê mình

Nửa nuôi ta lớn nửa dành nước non”

 V.T

Read more…

DẤU ẤN THƯỢNG CHÂU THỔ, TẬP SÁCH NGHIÊN CỨU CỦA CÂY BÚT TRẺ VĨNH THÔNG

 

Tác phẩm Dấu ấn thượng châu thổ của Vĩnh Thông vừa được Nhà xuất bản Tổng hợp TP.HCM phát hành tháng 3/2021. Sách dày 232 trang khổ 13 x 20,5 cm. Nội dung quyển sách các bài nghiên cứu văn hóa tiểu vùng thượng châu thổ Cửu Long được tác giả thực hiện trong những năm qua.

Thượng châu thổ Cửu Long là cách gọi của địa lý học dành cho tiểu vùng tương đối cao và nằm ở phía trên trong thủy trình sông Cửu Long ở Nam Bộ - Việt Nam. Nó cùng với ba bộ phận còn lại là Hạ châu thổ Cửu Long, Đồng Tháp Mười, Bán đảo Cà Mau và ven vịnh Thái Lan, hợp thành đồng bằng sông Cửu Long hay Tây Nam Bộ.

Đây là tiểu vùng phong phú cả về điều kiện tự nhiên lẫn diễn mạo văn hóa. Nơi đó có cả núi rừng, sông rạch, đồng trũng, biên giới… Trên những không gian ấy là sự có mặt của người Việt (Kinh), Khmer, Chăm, Hoa. Nếu sự đa dạng của tự nhiên đã giúp cư dân hình thành những cách thích ứng mới với môi trường, thì sự đa dạng về văn hóa đã tác động làm biến đổi hệ thống các giá trị trong đời sống xã hội của họ.

Ngay từ những bước chân đầu tiên, bao lớp di dân đã gặp muôn vàn khó khăn để chinh phục nơi được ví von là: “Sáu tháng đạp đất đồng khô/ Nửa năm đi trên mặt nước”. Không chỉ phải đương đầu với thiên nhiên khắc nghiệt, họ còn phải đối mặt với những biến cố lớn của xã hội, nhất là giặc ngoại xâm.

Để đứng vững trên mảnh đất nầy đã khó, tiến trình kiến tạo văn hóa cũng không hề đơn giản. Sự tiếp xúc của những làn sóng văn hóa buộc người di dân dù thuộc bất kỳ truyền thống nào cũng phải có biện pháp ứng xử thích hợp. Sau ba trăm năm, thượng châu thổ nói riêng và đồng bằng sông Cửu Long nói chung đã có cho mình một diện mạo văn hóa đặc thù và đặc sắc.

Với niềm say mê khám phá bầu trời tri thức văn hóa, tác giả đã đặt câu hỏi và đi tìm câu trả lời cho nhiều vấn đề liên quan đến miền đất “huyền bí” nầy qua một số nghiên cứu đã công bố trên các tạp chí khoa học hoặc kỷ yếu hội thảo. Để đến hôm nay, Dấu ấn thượng châu thổ ra đời là quyển sách tập hợp những nghiên cứu đó, đóng góp phần nào vào chặng đường tiếp cận diện mạo văn hóa tiểu vùng thượng châu thổ Cửu Long.

Sách có giá bìa là 90.000 đồng. Quý độc giả có nhu cầu mua sách xin vui lòng liên hệ tác giả qua email: vinhthongts@gmail.com. Hy vọng Dấu ấn thượng châu thổ sẽ được bạn đọc gần xa nhiệt tình đón nhận!

Read more…

BƯỚC AN NHIÊN - Tùy bút Vĩnh Thông

                                          Cây bút trẻ Vĩnh Thông (An Giang)


 


 

Lần nầy nó về trong nước mắt. Trong tiếng khóc của đám đông người ta vẫn nghe rất rõ tiếng khóc của nó. Nhưng đó là tiếng khóc than bên ngoài, còn tiếng khóc thét căng tràn trong lồng ngực, làm sao ai có thể nghe được. Những tiếng khóc cộng hưởng cùng nhau cứ kéo dài, dài mãi… dài như một đời người!

Khi nó về thì chị mình đã nằm sau lớp áo quan rất dày, gương mặt chỉ còn có thể nhìn thấy qua di ảnh. Gương mặt ấy còn rất trẻ, tấm ảnh thờ cũng rất mới, chị đã rửa tấm hình đó cách đây không lâu. Chị đã chuẩn bị sẵn cho chuyến đi của mình. Chuyến đi nầy, nó không còn có dịp thấy chị quay trở lại.

Nó như sắp quỵ khi đặt chân tới ngạch cửa, khi thấy cỗ quan tài đơn sơ, tấm hình thờ, lư hương nghi ngút khói. Đó là sự thật. Sự thật nầy rất nhiều lần nó đã cố không tin: khi nghe người nhà gọi điện thông báo, khi ngồi trên xe về quê, khi bước từng bước chân vào con hẻm quen thuộc. Nhưng ở ngạch cửa nầy, với những gì trước mặt đây, làm sao không tin được.

Phải chi là một cơn mê sảng, một giấc mơ. Trong chập choạng mộng mị ấy, nó mơ thấy mình về quê khi hay tin chị mất, thấy gia đình làm lễ tang chị, rồi tỉnh dậy mở mắt ra thì mọi thứ hoàn toàn không có thật. Phải chi! Nên nó cố thử nhắm mắt rồi mở mắt, cứ ao ước rằng khi mở mắt ra mình sẽ thở phào nhẹ nhõm thoát khỏi cơn ác mộng. Nhưng có nhắm mắt mở mắt bao nhiêu lần, đến hai mắt sưng đỏ, những gì hiện ra trước mắt nó vẫn không thay đổi. Có chăng là hai hàng nước, càng lúc lại càng trôi nhanh thêm.

Giờ đây dường như nó đang loáng thoáng nghe đâu đó vang lên bài hát “Chị tôi” của Trần Tiến. Là ai hát, hay chính nó đang thầm hát, hay ký ức hát? “Mộ chị tôi bé xinh đứng bên cầu thương nhớ mêng mông, mộ người chưa có chồng”. Bài hát giáng vào nó như một ám ảnh mãi nhức buốt, như một vết cắt dài sâu trong da thịt, mãi sẽ không lành.

Vẫn lư hương, di ảnh, quan tài. Vẫn là tiếng khóc, dài như một đời người…

Trong tiếng khóc đó, có cả tiếng khóc mà nó dành cho sự bội bạc của chính mình.

Chị nó mới phát bệnh mấy tháng thôi, lần trước về nhà nó thấy chị hơi ốm và xanh xao một chút, nhưng cũng còn khỏe và vui vẻ lắm mà, không phải là dấu hiệu của người bệnh nặng. Nó nghĩ có lẽ gần đây công việc vất vả quá nên chị hơi bơ phờ. Có lẽ chị đã biết mình bệnh, nhưng không muốn làm nó lo, dầu căn bệnh ấy là cái án tử treo lơ lửng trên đầu. Chị ơi, tới những ngày cuối cùng chị vẫn không màng đến cảm xúc riêng tư của bản thân sao?

Đã bao năm rồi, nó cứ mãi đi và đi. Đi mà không nhớ mình phải dừng lại, phải quay về. Cuộc hành trình của đôi chân, cuộc hành trình của tuổi trẻ, thôi thúc chàng trai đôi mươi đến nỗi làm nó quên bẵng đi vai chị đang cứ hoài oằn nặng. Chị ơi, chị lấy chồng đi! Dường như có vài lần nó nói như vậy. Nhưng nói để làm chi? Thì cũng là những câu bông đùa bâng quơ, nó chưa bao giờ nghĩ tới hạnh phúc của chị.

Còn chị? Chị có bao giờ nghĩ tới hạnh phúc của riêng mình không?

 

* * *

 

Tôi hay tin về chị ấy khi chị đã ra đi gần một tháng. Có lẽ bạn bè nghĩ chỉ là một người không quen thân mấy, không quan trọng để phải báo tin cho nhau, nên chỉ đến một hôm trong lúc ngồi cà phê nói chuyện trời mây gió nước, một người bạn tình cờ nhắc đến sự ra đi của chị. Tôi không khỏi sững sờ.

Chị ấy là một người phụ nữ cần cù, chịu khó nhưng tánh tình rất vui vẻ, thoải mái. Chị ngoài ba mươi tuổi, chưa có chồng, bán cơm trước cổng trường trung học - ngôi trường chúng tôi từng học trước đây. Nhà chị còn có cha mẹ đã ngoài sáu mươi và thằng em trai vừa mới tốt nghiệp đại học ở Sài Gòn. Cha mẹ đã yếu, chỉ bán vài món ăn vặt cho học sinh, cắt củm qua ngày. Lúc đứa em còn đang học thì chị là trụ cột chính của gia đình, vừa lo cho cha mẹ, vừa gửi tiền cho em học xa nhà. Có phải vì vậy mà chị không lấy chồng? Tôi chỉ đặt một dấu chấm hỏi ở đây, không dám tự tiện giải thích theo suy nghĩ chủ quan cá nhân. Và một điều nữa, chị là người ăn chay trường.

Lúc còn học ở đây, bọn chúng tôi thường hay ăn cơm ở quán chị. Đặc biệt là có những buổi học chiều xong rồi lại học tối, nhà xa không tiện về nên chúng tôi ở lại trường, chỉ cần dặn trước “chừa tụi em mấy dĩa cơm nha” thì lúc nào chúng tôi cũng có sẵn bữa cơm chiều no dạ. Chưa thấy chị khó chịu với ai bao giờ, mặc dù “thực khách” đều là những thằng con trai “chọc trời khuấy nước”.

Lúc đó tôi không để ý điều nầy. Vào quán ăn, nói vài câu bông đùa, đôi lúc cũng tâm sự chuyện nầy chuyện nọ, nhưng tôi chưa bao giờ quan tâm nhiều đến cách cư xử của chị. Bây giờ nhớ lại mới thấy rằng chị chưa bao giờ tỏ ra khó chịu chúng tôi, dẫu đôi khi có những đứa giỡn hơi quá trớn, nói năng hơi quá lố… Giá một dĩa cơm chị bán vốn đã rẻ, vậy mà tụi học trò hay xin thêm thứ nầy thứ kia - nửa đùa nửa thật - chị cũng vui vẻ cho thêm. Ăn cơm chưa no, mua một chén cơm thêm, giá rẻ bằng ly trà đá, và cơm đầy ắp cả chén. Chị vừa bán vừa tặng, như một kiểu “hỗ trợ ngầm” cho những đứa em nhỏ còn đang cắp sách.

Với những người bán hàng rong trước cổng trường, chị cũng rất niềm nở. Thậm chí chị cho họ bày bán trước cửa nhà dần dần thành thân thiết, coi như người trong nhà. Sau khi tốt nghiệp phổ thông, tôi có gặp lại chị một lần trong một chương trình từ thiện. Tôi khá bất ngờ khi gặp một người quen đang đứng phát quà cho đồng bào nghèo, chạy đến hỏi thăm vài câu, chị vẫn vui vẻ như ngày nào.

Đời chị tảo tần, tấm thân mệt nhưng lòng thì sáng. Chị hy sinh bản thân để lo cho cha mẹ và em trai. Chị tiếp sức cho những đứa học trò nhỏ qua từng dĩa cơm bình dân. Chị giúp đỡ cho những người bán hàng rong một chốn để tránh mưa nắng. Buôn bán cực nhọc lại còn gánh nặng gia đình, nhưng không thấy chị buồn phiền, lúc nào cũng vui tươi với mọi người. Có bao giờ chị nghĩ đến hạnh phúc tư riêng?

Từ lần gặp trong buổi phát quà đến nay, tôi không về lại trường cũ, cũng không gặp lại chị lần nào nữa. Khi nghe nhắc đến chị cũng là lúc tụi bạn cho biết chị đã mất. Chị bị ung thư. Đột ngột quá! Lúc tôi còn học, chị vẫn là một người phụ nữ khỏe mạnh, nhanh nhẹn, sắc mặt tươi tắn. Tôi chưa từng nghe ai nói chị bị bệnh. Vậy mà…

Rồi chắc hẳn sẽ có người nói: “Ăn chay trường mà cũng chết sớm, làm từ thiện mà cũng chết sớm, vậy ăn chay làm từ thiện chi cho mắc công”. Miệng đời mà, dĩ nhiên. Ở nơi nào đó, chắc chị sẽ mỉm cười, mỉm cười là xả bỏ. Họ đâu biết rằng trong nửa phần đời sau cùng của chị, tâm hồn chị đã an lạc như thế nào. Thứ an lạc đó, nào phải ai cũng có được. Có bao giờ chị nghĩ rằng mình ăn chay làm từ thiện là để được sống dai đâu.

Thiên hạ có thể hy sinh tất cả để kiếm tiền. Chị thì ngược lại. Chị hy sinh tất cả - kể cả tiền và hạnh phúc - để tìm thấy được sự an lạc của chính mình. Những thứ quan trọng nhứt đối với người khác mà chị còn có thể buông xuống, thì cái gì có thể ràng buộc được chị đây?

 

* * *

 

Đây là câu chuyện có thật về một con người có thật. Tôi chỉ là một người tình cờ quen biết chị giữa cuộc đời ngắn ngủi. Xin được làm công việc chép chuyện về chị - không là cả đời người, chỉ một vài lát cắt nhỏ mà tôi từng biết. Có một điều tôi chưa từng nói cho chị biết, là tôi và chị cùng thọ giới chung một vị bổn sư.

Trong đạo Phật, người hành Bồ tát hạnh là người thương yêu những người xung quanh, sẵn lòng giúp đỡ khi có thể và dường như chẳng giận ghét ai. Vậy nếu tôi xem chị như một Bồ tát đời thường, không biết có quá lời chăng? Năm mới đã đi qua được một tháng rồi, lại một năm trôi tuột khỏi kiếp đời hữu hạn, có níu kéo cũng được đâu. Tôi tự nhắc nhở với chính mình mà như đang thủ thỉ cùng chị: “khứ lai như thị”.

 

V.T

 

Read more…

TRÔI CÙNG SÔNG - Truyện ngắn Vĩnh Thông



           Vĩnh Thông (An Giang)

Chiếc ghe cặp lại ở một bến khá vắng. Xung quanh trải một màu xanh mênh mông của đồng lúa và những đám rẫy. Nhà cửa chỉ lưa thưa vài nóc và cái nào cũng lụp xụp, đúng hơn là những cái chòi giữ lúa của nông dân. Định bụng chạy ra vàm kinh rồi ghé lại ăn cơm, nhưng cũng đã quá buổi mà chưa người nào có gì vào bụng, nên chị Hai kêu đậu ghe lại ăn cho xong bữa rồi đi tiếp. 

Chiếc ghe dần tấp vào bờ kinh. Tôi chạy ra trước mũi buộc dây vào một gốc cây gần đó. Chiếc ghe chòng chành một lúc rồi nằm yên. Có tiếng bìm bịp kêu đâu đó nhưng nhìn xung quanh lại không thấy. Thỉnh thoảng có bầy chim sà xuống xôn xao rồi lại rướn mình bay khỏi các lùm cây, tạo ra những âm thanh mỏng xé ngang không gian tĩnh mịch của buổi trưa nắng tràn. Vài ba con cua bò chậm chạp bên mé nước. Mấy đàn cá lìm kìm bơi quanh ghe. Vắng lặng một cách lạ lùng.

Trong ghe, mâm cơm chỉ vỏn vẹn có ba người: chị Hai, con Nhi và tôi, với vài món ăn cũng đơn giản. Thì nào giờ vẫn vậy. Ăn vừa xong, chưa kịp dọn rửa thì đã thấy vài người đến mua mấy thứ linh tinh, nước mắm, đường, muối, trứng vịt… Chị Hai quay tới quay lui hết lấy món nầy đến món kia. Bán xong, chị quày quả bước ra sau rửa mâm chén. Tôi tranh thủ leo lên mui ghe ngồi rít điếu thuốc, chờ chị rửa chén xong để xuống lái ghe đi tiếp. 

Trong ngày có lẽ thong thả nhứt là những lúc ăn cơm xong. Sau bữa sáng tranh thủ uống được ly cà phê, hút điếu thuốc, cũng có khi nhâm nhi tách trà nóng. Bữa tối ghe thường ghé lại nơi đông đúc, ăn xong có thể dong lên bờ đi dạo một chút rồi về. Cuộc sống quanh năm trên sông nước là vậy. Có người nói nó chòng chành như chiếc ghe, có người nói nó lèo bèo, có người nói bẩy nổi ba chìm… Tôi thì chỉ nghỉ đơn giản, chiếc ghe có nhiệm vụ là chạy, chạy không ngừng, đời người cũng vậy thôi, cứ xê dịch mãi chứ có đứng lại một chỗ bao giờ đâu.

Chị Hai tôi là dân thương hồ. Nhưng là thương hồ “tập sự” chứ không phải “con nhà nòi”. Chiếc ghe tạp hóa nhỏ của chị chạy đi bán khắp nơi, y như một căn tiệm di động. Ở đâu có người thì có ghe tới bán. Thường thì ghe chúng tôi đi bán ở những vùng xa xôi, nơi đường xá khó khăn. Nhưng nhiều nhứt là vô đồng, bán cho những người nông dân. Họ sống trong đồng suốt mùa thu hoạch lúa, sau khi thu hoạch xong mới trở về nhà. Trong thời gian đó, họ không thể mua hàng ở đâu tiện bằng đón các chuyến ghe tạp hóa như ghe của chúng tôi. 

Tôi được giao làm “tài xế” cho chiếc ghe nầy. Suốt mấy năm trời dọc ngang vùng sông nước, kinh rạch miền Tây hầu như chị em tôi rành “sáu câu”. Nhứt là vùng Tứ giác Long Xuyên và miệt U Minh chúng tôi thường đi nhiều. Đi riết rồi quen, sống giữa sông nước mênh mang dần dần cảm thấy bớt nhớ nhà. Việc buôn bán của chị không lời lãi gì nhiều, được bao nhiêu sắm sửa cho con Nhi và mua thêm hàng hóa bán tiếp chứ cũng không dư dả mấy. Vậy mà vui. 

Có lần ghe chúng tôi ghé ngang một xóm đông đúc. Dân cư không giàu có lắm nhưng coi bộ cũng có vẻ khá giả. Trong lúc chị tôi đang lui cui bán hàng, có một anh chàng nước da đen thùi mốc thếch, tóc xoăn chôm bôm như cái tổ chim, nhưng cách ăn mặc lại tỏ vẻ bảnh bao, bước lại ghe hỏi tôi:

“Ê, chị mầy nhiêu tuổi rồi?”.

Tôi trả lời nhát gừng:

“Ba mươi. Có chi không?”.

“Đi bán như vầy bao lâu rồi? Con gái trắng trẻo mảnh khảnh nhìn giống tiểu thư hơn. Vậy mà thấy buôn bán cũng ra vẻ dân thương hồ chính hiệu quá hả!”.

“Cũng vài ba năm. Nhập gia tùy tục thôi!”.

“Ê, có chồng chưa mầy?”.

Nghe hỏi một thôi một hồi, cuối cùng tôi mới hiểu hắn đang “dòm ngó” chị mình. Tôi cũng không muốn nói chuyện nhiều với hắn nữa, chị tôi không thích mấy chuyện nầy.

“Hổng biết có chồng chưa mà con nhỏ ba bốn tuổi trong ghe kêu bả bằng má đó. Đừng hỏi nhiều. Tính ve vãn hả? Tôi dộng vô mặt ông bây giờ!”.

Tôi vừa nói vừa chỉ con Nhi đang chơi trong ghe. Hắn bị tạt gáo nước lạnh, mặt xụi lơ:

“Biết rồi! Hỏi chơi vậy thôi chứ ve vãn gì. Làm gì mà ghê vậy mầy?”.

Kiểu nói chuyện nghe mà thấy… khó ưa. Tôi chui tuốt vô ghe, chẳng thèm để ấy đến hắn. Tôi cũng khâm phục chính mình, bình thường hiền như cục đất mà đánh võ miệng cũng có người sợ, tôi cười ngất. Mà… nghĩ cũng tội nghiệp chị! 



* * *



Chị Hai giao ghe lại cho tôi trông coi, nói là lên chợ mua vài thứ. Tôi cứ nhìn miết theo cái dáng gầy mảnh mai đang khuất dần về phía xa. Tội nghiệp. Còn đang tuổi xuân thì, không phải là giai nhân nhưng cũng là một cô gái khá. Nghĩa là nếu chị chỉ cần gật đầu có cả khối đàn ông đi theo. Vậy mà chị chỉ suốt ngày ở trong cái ghe nầy, thân phận nổi trôi cùng sông nước, từ chối hầu như tất cả mọi giao tiếp với bên ngoài nếu không có liên quan đến chuyện mua bán. Đứa con gái nhỏ của chị mới mấy tuổi đầu cũng phải tâp đi tập nói trên ghe… 

Một lát sau, chị hớt hải trở về, mặt tái xanh nhưng lại hiện rõ vẻ vui mừng. Tôi không biết điều gì đã xảy ra, nhưng trước giờ chưa từng thấy vẻ mặt chị như vậy. Kể từ ngày đó, chị Hai trở nên lạnh nhạt. Nhưng hôm nay, chị trước mặt tôi thành con người khác. Ấm nóng hơn, hồ hởi hơn, hăng say hơn. Tôi hồ như đọc được điều gì trong vẻ mặt đó. Chị nói gặp thơ của anh Đình đăng báo, rồi đưa tờ báo đó cho tôi coi. Chị hỏi tôi thấy bài thơ hay không. Cha mẹ ơi, chuyện văn chương chữ nghĩa nầy ai biết gì mà coi. Nhưng thấy cái tên Lê Phương Đình rành rành biết chắc là anh rồi. Tôi ngồi im không nói, cứ gán mắt vô tờ báo ra vẻ đọc đọc, ngâm ngâm, nhưng thật ra đang muốn chờ xem thái độ của chị. Chị vẫn không nói gì, vẻ mặt đầy tâm trạng. Cả tôi, cả chị, không biết nói gì hơn, làm gì hơn vào lúc nầy.

Ăn cơm xong, chị dỗ con Nhi ngủ. Con nhỏ cứ khóc riết, không chịu ngủ. Nó tìm đủ thứ cách để trốn, nói là hồi tối ngủ rồi, hôm qua ngủ rồi, không buồn ngủ nữa. Chị dỗ dành hết lời. Nào là ngủ tối không đủ phải ngủ trưa nữa mới lớn được, ngủ thức dậy sẽ dẫn lên chợ mua đồ chơi. Rồi còn lấy tôi ra để hù dọa: không ngủ cậu Ba đánh đòn… Vậy mà con nhỏ vẫn không chịu ngủ. Tình huống nầy quá quen thuộc. Chuyện tìm cách để cho nó ngủ là chuyện dễ như cơm bữa. Thậm chí là có thể đánh nó. Vậy mà không hiểu sao chị lại không làm theo cách trước nay đã làm. Chị bẻ ngoặc theo hướng khác, cái hướng phải đi một vòng tròn rộng đáng sợ. Chị nhìn nó lâu, thật lâu, cái nhìn lạ lắm. Hồi lâu sau chị nói nhẹ:

“Nhi ngoan nè, ngủ đi rồi má dẫn con đi gặp ba”.

Mắt con nhỏ sáng trưng:

“Ba hả?”.

Chị nhìn nó, mím môi, nói nhát gừng:

“Ừ…”.

“Ba ra làm sao vậy má?”.

“Ừ… thì… Thôi ngủ đi! Rồi má dẫn con đi gặp, nói con cũng không biết đâu”.

Con nhỏ làm sao biết mặt ba nó? Tự dưng chị đem ba ra nói cho nó nghe làm gì. Dễ gì con nhỏ chịu ngủ, tôi nghĩ thầm. Vậy mà nó chịu ngủ thật. Chị với nó còn nói thêm vài câu gì đó rồi nó nhắm mắt lại nằm im re, lát sau thì đã ngủ khì.

“Sao chị nói về ba trước mặt nó chi vậy? Nó có biết gì đâu!”.

“Sao không, tình cha con mà, biết liền”.

“Chị khùng quá trời rồi!” .

Nói rồi tôi bỏ lên mui ngồi uống trà, vẫn nghe tiếng chị đuổi theo:

“Ừ! Tao khùng! Tao khùng mới để con tao mồ côi cha nè!”. 

Nghe chị nói mà lòng tôi đau thắt. Có cái gì đó nghe buồn buồn tưởng chừng như hàng vạn tấn hắt hiu đang ngã nhào xuống chiếc ghe nầy. Trời ơi! Chi mà khổ vậy chị?

Chị em tôi là con trong một gia đình không giàu có gì lắm, nhưng cũng không đến nổi tệ. Nghĩa là nếu chúng tôi không đi ghe, tía má đủ sức lo cho chúng tôi cái nghề khác, mà theo má nói là “Phải an cư thì mới lạc nghiệp con à, trôi nổi kiểu nầy hoài sao làm ăn giàu có với người ta!”. Nhưng nhiều lúc tôi nghĩ, bây giờ chị Hai cũng đâu cần giàu có gì, chị đi ghe là vì cái khác. Má biết tỏng cái mục đích của chị đi ghe, nhưng má vẫn im lặng, làm ngơ, để chị đi.

Đêm đó ghe đậu lại ở một chợ nhỏ. Mới ba giờ sáng, cái bến vắng tanh hồi hôm qua giờ đã xôn xao tiếng rao hàng, trả giá, tiếng chửi bới lằng nhằng cũng có. Sóng vẫn đánh vào thành ghe đều đều, nghe ì oạp. Tôi không ngủ được, tự viện cho mình cái cớ là quá ồn ào, mặc dầu rõ ràng là đầu óc mình đang lo cho chị, cho con Nhi. Tôi bước ra mũi ghe, hút điếu thuốc. Gió thổi man mát, kéo cả những làn khói thuốc đi đâu, xa lắm. Con Nhi vẫn còn ngủ khì nhưng chị đã thức, tôi biết vậy. 

Hai mươi tuổi chị Hai bước lên xe về nhà chồng, thằng Út em tôi khóc ngất. Chị cũng đâu phải đi luôn, thỉnh thoảng sẽ về thăm nhà. Nhưng lúc đó trong đầu óc non nớt của nó chỉ nghĩ là chị phải đi tới cái nơi mịt mùng khỉ ho cò gáy nào đó rồi ở suốt trong ấy. Tôi thì buồn buồn, không biết liệu rồi chị có hạnh phúc hay không. Người ta nói những người tài hoa, đa tình cũng thường hay dễ phụ bạc.

Anh Đình cũng là một người đa tài và… đa tình. Phải nói, anh là một chàng lãng tử “chính hiệu”. Làm thơ, vẽ tranh, viết nhạc không chỉ anh đều có thể làm, mà còn làm hay nữa là đằng khác. Hầu như khi yêu một người con gái nào anh đều làm dăm ba bài thơ tặng cô ấy. Chị tôi cũng không ngoại lệ. Nhưng tôi biết, chị yêu anh không phải vì cảm động với những bài thơ đó. Có thể chị tìm gặp nơi anh một cái gì đó, đại loại, giống mình. 

Chị Hai thường nói anh là người có máu lang bạt kỳ hồ. Thỉnh thoảng anh lại đi một nơi nào đó không biết, làm gì đó không biết, để rồi khi về nhà lại cặm cụi viết viết. Cứ thế những sấp giấy dầy lên dần, những trang bản thảo gửi đi nhưng chưa một lần nhận được hồi âm. Vậy mà anh vẫn cặm cụi. Rồi một hôm, anh cũng lại tất tả ra đi như mọi khi. Trên người chỉ mang theo cái ba lô gọn hơ chứa vỏn vẹn vài bộ quần áo và sấp giấy dầy mo. 

Chị cứ tưởng cũng như những lần trước, anh đi ít bữa rồi về. Nhưng không ngờ anh nói nơi nào đó chịu xuất bản tác phẩm của anh. Cái tiểu thuyết có tên là dòng sông trắng dòng sông đen gì đó, chị không nhớ rõ. Chị chỉ biết rằng anh đã thành công, anh phải đi theo tiếng gọi của nghệ thuật, bắt đầu một chặng đường mới, chừng nào hết còn gì để viết anh sẽ về. 

Vậy là anh cất từng bước đi ra khỏi căn nhà của mình. Chị chỉ nhìn theo mà không nói một lời ngăn cản. Lúc ấy trong bụng chị đã có đứa con của anh, điều nầy thì anh không biết. Chị có thể dùng đứa con để làm lý do buộc anh ở lại, như thế có thể sẽ có hiệu quả, nhưng chị không làm. Sau nầy chị kể, lúc đó chị thấy trong mắt anh tóe lên một cái gì đó hạnh phúc lắm, như vừa tìm được tri âm, vừa thấy được con đường sáng trước mặt nên chị để cho anh đi, vậy thôi.

Anh đi rồi chị trở về nhà tía má, không khóc, không cười, chỉ buồn buồn một cái gì đó xa lắm. Má khóc hết nước mắt, tía lặng nhìn chị không nói gì. Má la, nói con nầy ngu không biết cản nó để bây giờ nó đi rồi ai lo cho hai mẹ con. Chị nhìn má, hai đuôi mắt nhỏ xíu bắt đầu hơi ướt. Chị nói nhỏ, với má hay với chính chị cũng không rõ: “Để cho anh ấy đi má à! Anh ấy là người lang thang, là kẻ độc hành, cản được bây giờ chứ có cản được suốt đời đâu. Thôi thì anh ấy cứ làm những gì mà mình thích, khi nào mỏi chân thì anh ấy vẫn còn có vợ có con để mà về…”.

Vậy là anh Đình đi. Biền biệt tới bây giờ. 

Con Nhi sinh ra vừa tròn năm, chị xin tía má ít tiền, nói là để đi ghe mua bán. Má nhìn chị trân trân, nói: “Trời ơi, con nhỏ nầy khùng thiệt rồi, hết bị chồng bỏ đến đòi đi ghe. Sao mầy toàn làm chuyện tào lao không vậy Hai?”. Nhưng rồi bà cũng cho chị mớ vốn, nghe nói hình như do tía khuyên má nên để chị đi cho khuây khỏa nên bà mới chịu. Số tiền đó đủ đóng chiếc ghe, phần còn dư chị rủ tôi hùn thêm vô để mua vài thứ linh tinh rồi hai chị em chạy trên sông nước bán. Lúc đầu tôi nghĩ chuyện đi ghe chắc là “trớt quớt” rồi, vừa cực vừa buồn, ai chịu nổi. Sao chị lại không mở tiệm tạp hóa bán trên đất liền mà đi ghe chi cho cực? Nhưng rồi tôi cũng hùn ít tiền, lót tót đi theo. 

Ngày đó, má khóc sướt mướt như con nít. Má không lo cho thằng con trai như tôi. Nhưng má sợ đứa con gái vốn quen với nếp sống tiểu thư và cháu ngoại còn đỏ hỏn của mình. Trong đầu bà nghĩ đến mọi thứ. Không biết chị Hai có chịu được cực khổ, nắng gió không? Cháu ngoại mình sống trên ghe ăn uống có đủ dinh dưỡng không? Sống lênh đênh trên nước nguy hiểm quá! Hai mẹ con không có người chồng, người cha có thể đứng vững trước sóng gió không? Đủ thứ để má lo nghĩ. Nhưng thôi, cũng phải nuốt nước mắt cho chị đi. Chị Hai đã quyết rồi, khó ai mà cản được, má cũng hiểu điều nầy.

Nhiều người khách quen mua hàng của chị nói chị hiền. Tôi thì không nghĩ vậy. Chị là người vô cùng ương bướng, ương bướng một cách khó hiểu. Chị không thích ràng buộc, không thích tự đẩy mình vào một khuôn khổ nào cả. Việc gì đã quyết định là làm tới cùng (dù có những chuyện biết rằng sẽ thất bại), ai cố ngăn cản chị càng quyết làm bằng được. Có lẽ ở điểm nầy tôi giống chị. Mà cũng phải, người đã mất một cái gì đó to lớn thì ngoài việc nghĩ cách tìm lại đâu còn nghĩ chuyện khác được. 

Nếu có ai đó nghe được câu chuyện chắc sẽ nói chị mê muội, thậm chí là “thèm” đàn ông. Nhưng tôi lại không nghĩ vậy. Chị không tìm chồng mà tìm cha cho đứa con. Chị không tìm tình yêu cho bản thân mà tìm lại tình cảm thiêng liêng nhứt vốn dĩ phải dành cho con mình. Chị không cần anh ấy phải xin lỗi rồi quay trở về mà chỉ cần cho anh ấy biết là mình có một đứa con, cần một câu nói, một cái hôn lên má con Nhi, chỉ vậy là đủ rồi. Nói chung, chị tìm anh ấy chỉ vì những điều rất lập dị. 

Tôi không khuyên ngăn vì tôi hiểu chị hơn ai hết. Mà có khuyên cũng được đâu. Cứ đi đến nơi cần đến, cứ làm những việc muốn làm, như vậy sẽ thanh thản như hút một điếu thuốc rồi thả khói lên trời, như từ từ nhấm nháp tách trà rồi đánh ực. Còn nếu không có kết quả gì thì ít ra cũng sẽ cảm thấy bớt “đau” hơn.

Cái gì đến rồi cũng đến, điều ấy tôi đã lường trước. Sáng hôm sau chị nhìn tôi với vẻ mặt đăm chiêu, rồi nói thật khẽ: 

“Chắc chị phải tìm anh Đình thôi. Chị còn con Nhi…”.

Tôi vẫn ngậm điếu thuốc trong miệng, ngó bâng quơ. Khi làn khói chỉ còn là những vệt trắng thuộc về quá khứ, tôi mới hỏi, cũng chỉ là vu vơ:

“Anh Đình đang ở đâu?”.

“Nghe người ta nói anh đang ở Long Xuyên”.

“Chị tính đi thiệt hả?”.

“Ừ…”.

“Thôi được rồi, chị muốn đi đâu em chở chị đi!”.


Có lẽ khi nói điều nầy với tôi, chị Hai đã biết trước rằng thế nào tôi cũng sẽ phản đối kịch liệt, hoặc là tỏ thái độ gì đó đại loại như thế. Nếu vậy chị sẽ đi một mình, đi để tìm cha con con Nhi. Chị không ngờ tôi lại đồng ý. Cả tôi cũng không ngờ mình lại nói ra được như vậy. Thật sự lúc ấy tôi đang nghĩ gì, tại sao cái tánh nóng không trồi lên, cái ương bướng không xuất hiện để được nói một chữ “không” gọn hơ cho khỏe? Tự dưng tôi cảm thấy thương chị quá chừng, thương hơn bao giờ hết. Đi thì đi…

Ghe đến Long Xuyên sau mấy ngày lênh đênh. Suốt mấy ngày đó chị như người mất hồn, cứ lo nghĩ đâu đâu, bán buôn không được gì cả. Con Nhi thì cứ ríu rít hỏi mẹ chừng nào gặp ba, ba ra làm sao… Có nhiều đêm chị nằm trong khoang khóc thúc thít, như có chuyện gì ấm ức lắm, nhưng lại không muốn cho ai nghe. Ừ, thì chị cứ khóc đi, khóc một lần cho hết rồi còn lo cho con Nhi nữa, phải không chị? 

Sáng vừa rạng mặt người chị đã nhảy tót lên bờ, đi đến chiều mới trở xuống ghe, mặt phờ phạc, ngó mông lung nhưng chẳng để lục lọi cái gì. Gần tối, chị nói: “Có bà chủ quán cà phê nói anh Đình có ghé quán uống nước, nhưng anh ấy đi Mỹ Tho từ hôm qua rồi…”. Rồi chị nằm xuống ôm con Nhi vào lòng, mái tóc dài phủ nửa bên mặt. Qua ánh sáng mờ mờ của những ngọn đèn trên bến, tôi thấy khuôn mặt chị run run.

Không biết chị có muốn đến Mỹ Tho nữa không? Mà, đến Mỹ Tho rồi liệu có gặp được anh Đình không, hay lại phải quày quả ra đi? Anh Đình và giấc mơ nghệ thuật của anh vẫn còn phía trước, vẫn lang bạt kỳ hồ như sở thích của mình. Còn chiếc ghe nầy, chở theo vợ và đứa con của anh, vẫn nổi trôi sông nước, dạo khắp xứ sở. Cứ coi là đi bán buôn cũng được, hoặc coi như đi tìm anh cũng được, những chuyện đó không là gì cả. Ai cũng như ai, cũng phải nổi trôi giữa cuộc đời nầy thôi. Đi mãi nhưng mấy khi được quay về. 

Hai cánh bèo cùng trôi trên một con sông, nhưng biết đến khi nào hai cánh bèo ấy mới gặp được nhau ?

V.T



Read more…

THẦN LÀNG NĂNG - Truyện ngắn Vĩnh Thông

                                                         Cây bút trẻ Vĩnh Thông (An Giang)

 

 

Người ta nói rằng thần làng Năng linh thiêng lắm!

Sóng gió từ đâu nổi lên cuồn cuộn, gầm rú ghê rợn, chiếc xà lang chao đảo điên cuồng. Chín Nhạn bị gió nhấc bổng, cuốn ra khỏi xà lang rồi hất mạnh xuống lòng sông. Con sông ấy rất sâu, sâu hoắm. Cho tới một lúc nào đó, lâu lắm, ở một nơi nào đó, lạ lắm, ông tỉnh dậy. Xung quanh là một vùng rộng lớn tối sẫm. Có luồng sáng lờ mờ hắt ra. Nhìn kỹ, trước mặt là một ông lão có gương mặt phúc hậu, râu tóc bạc trắng, già đến mức không thể đoán được khoảng bao nhiêu tuổi…

Giấc mơ kỳ cục, quái gỡ, đáo đi đáo lại suốt mấy ngày như thế. Hôm sau y hệt hôm trước, hình như không dư không thiếu chi tiết nào. Như một đoạn phim lập trình sẵn, cứ đến giữa khuya phát ra, bóp nghẹt giấc ngủ của Chín Nhạn. “Cái gì không phải của mình thì đừng chiếm đoạt”. Chỉ một câu ấy, bao nhiêu giấc mơ trôi qua ông lão kỳ lạ cũng chỉ nói mỗi một câu ấy, rồi mất hút. Có đôi lần trong mơ, Chín định chạy đến hỏi ông ấy là ai, nhưng lúc đó giọng nói trở nên ú ớ, như có thứ gì nén chặt lại, thanh âm tắt lụi. Đến khi thức dậy, ông chạy ào ra khỏi phòng, sợ rằng mình còn nằm trong đây một phút một giây nào nữa, thì lão già ấy sẽ bắt luôn cả mình đi.

Ngoài kia, đám nhân công vẫn đang khai thác cát đều đều trong đêm bình lặng, không hề có chuyện gì xảy ra.

Chín Nhạn quyết định đi tìm lời giải. Ông rời xà lang, dùng chiếc xuồng nhỏ bơi vào bờ. Thật ra ông biết người làng Năng không ưa gì mình. Nhưng cũng may là trong làng không phải ai cũng biết mặt ông, chỉ có những người từng bơi ra xà lang khai thác cát của Chín Nhạn mới biết ông. Chính vì thế mà ông có thể ung dung lân la đến các quán cà phê ở xa xa, vậy xem như tạm yên ổn. Ông hỏi ở đây từng có ông già nào tướng tá như vầy, mặt mũi như vầy… Mọi người nghe xong ngó nhau, ai nấy lắc đầu. Ông lão là ai? Chín Nhạn suốt mấy ngày tức tối vì không ai trả lời được câu hỏi nầy.

Tối qua ông lại mơ, đoạn phim lặp lại như trước. Thức dậy mồ hôi đổ như tắm, thở ra nghèn nghẹn. Cơn lạnh ngoài sông lùa về chạy dòng dọc sống lưng, lạnh ngắt. Ông lấy ly nước uống, cố nuốt vô mà cảm thấy thấy cổ họng vẫn khan. Đêm nay ông lão kỳ lạ kia không chỉ nói một câu như trước mà còn thêm câu thứ hai. “Đất đai của làng ta thì hãy trả lại cho làng ta”. Vậy là đã tìm được câu trả lời. Nhờ câu nói thứ hai của ông lão do Chín Nhạn kể lại, người ta đã đoán ra. Dân làng Năng quả quyết rằng ông lão ấy chính là thần làng Năng.

Người ta nói rằng thần làng Năng linh thiêng lắm!

Dân làng Năng bày ra trước mắt Chín Nhạn một bức tranh lắp ghép nhiều mảnh về vị thần họ sùng tín. Những câu chuyện được mọi người thay nhau kể. Đại ý là thần luôn phù hộ những người tốt với dân làng, thẳng tay trừng trị những kẻ ăn ở ác đức. Chín bĩu môi không tin, nhưng không dám nói ra. (Nếu nói là không tin chắc sẽ bị mọi người đập tơi bời, ông đã quá sợ dân làng Năng nầy rồi). “Ông thần làng Năng linh cỡ nào? Giỏi lắm thì cũng chỉ ngồi trong đình hưởng đồ cúng. Làm gì được tao? Tao ở giữa sông, thần có bơi ra tới đây vặn cổ bẻ họng được không? Ông thần tài ba gì ngoài mấy cái trò chui vô giấc mơ để hù dọa”. Chín Nhạn vẫn chịu khó ngồi nghe và chỉ dám cười thầm trong bụng. Vậy mà không hiểu sao ông cứ mơ hồ nghe như văng vẳng đâu đó bên tai, rằng thần làng Năng linh thiêng lắm!

Về tới xà lang, mấy thằng đệ tử cho hay neo bị mắc kẹt vào vật gì rồi, nhổ lên không được. Kỳ lạ! Xà lang đi biết bao con sông, hạ neo bấy nhiêu nhiêu chỗ, làm gì có nơi nào nhổ neo không được. Một người nhổ không lên, hai ba người cùng kéo không được, cả chục người xúm lại, sợi dây vẫn nằm trơ. Tiếng hì hục, tiếng hò dô, tiếng dây cọ vào xà lang trèo trẹo, tiếng thở dài, tất cả nghe như nghẹn ứ.

“Lặn xuống!”, Chín Nhạn ra lịnh cho đệ tử. Thằng nhỏ cỡ mười sáu tuổi lặn tài tình, phóng cái đùng xuống sông rồi mất tăm, để lại một chùm tia nước hất lên cao. Đến khi ngoi lên, thằng nhỏ nói không thấy cái neo đâu. “Trời! Sao lại không thấy? Không có neo mà sao sợi dây nặng trịch kéo không lên?”. Chín Nhạn sai hai thằng lớn hơn lặn xuống lần nữa, lần nầy lặn lâu, phải mang theo bình dưỡng khí. Gần mười phút sau, hai thằng trồi lên.

“Trời ơi thấy ghê quá ông Chín ơi! Nói ra hổng biết ông tin hông nữa. Thiệt là ma quỷ gì đâu!”.

“Sao, nói lẹ coi”.

Hai thằng ú ớ, vẻ sợ sệt, ngó nhau đăm đăm. Một thằng đưa tay quẹt nước trên mặt cho tỉnh táo lại rồi nói ngập ngừng:

“Ở dưới… có ông già… ổng nói… lấy cái neo mình rồi”.

Chín Nhạn chưng hững, trợn mắt nhìn hai thằng trân trân:

“Khùng hả mầy? Bị ma nhập hả? Sông sâu làm gì có ai ở dưới được?”.

Thằng nhỏ nói tiếp:

“Bởi vậy tui đã nói là khó tin lắm, kể ông cũng không chịu tin. Tụi tui bơi lại đòi mà ổng đi mất tiêu”.

Chín Nhạn bắt đầu thấy hoang mang, ngờ ngợ như nhớ ra điều gì:

“Ông già đó ra làm sao?”.

“Già già chát khú đế, râu bạc, tóc bạc, mà ổng mặc đồ đẹp ghê luôn ông Chín”.

Chín Nhạn nghe xong giựt mình, có cảm giác đầu óc bần thần, choáng váng, hai lỗ tai lùng bùng. Ông già tụi nó tả không lẽ là thần làng Năng? Có phải ông thần làng Năng linh thiêng như vậy? Chín chợt nhớ đến lời thách thức của mình ban nãy, nghe cơn lạnh lại từ đâu tràn tới chạy rần rần, xô ông liêu xiêu muốn sụp té. Trong đầu ông lại nghe văng vẳng đâu đây có tiếng nói, rằng thần làng Năng linh thiêng lắm! Ông thở dài thườn thượt.

Tối nay Chín Nhạn không ngủ. Ông không muốn giấc mơ lặp lại, nên thức một đêm cũng không sao, ban ngày sẽ ngủ bù lại. Trên xà lang, nhân công và máy móc vẫn đang làm việc đều đều. Công việc khai thác cát vào ban đêm đã không còn xa lạ. Đôi lúc Chín thấy mình thiệt tài. Năm giờ chiều ngừng khai thác đúng như quy định, đến khuya khi mọi người ngủ say, xà lang lại tiếp tục cho khai thác đến tờ mờ sáng thì ngừng, rồi bảy giờ sáng hôm sau khai thác tiếp. Như vậy mọi người sẽ nghĩ rằng xà lang khai thác cát của Chín Nhạn hoạt động đúng theo thời gian cho phép của chánh quyền. Đâu ai biết rằng hằng ngày vẫn có kẻ đang “đi đêm”.

Bữa sau, Chín Nhạn đem mâm trái cây đến đình. Không biết thần làng Năng có linh thiêng như lời đồn không, thôi cứ thử một phen, xem như tự cứu mình. Không gian trong đình yên ắng, chỉ nghe tiếng thở của Chín Nhạn. Có ánh mắt nào đó gần lắm đâu đây, cuốn trôi tuồn tuột bao dũng khí ban đầu của ông. Ông đặt mâm trái cây lên bàn thờ, khấn rằng mình làm sai và đã biết lỗi, mong thần tha thứ, lại còn hứa sẽ không đụng tới đất đai của thần nữa. Chín cảm thấy thấy cơ thể nóng bừng. Dường như thần đang có mặt ngay lúc đó, đang kề mắt sát bên ngó chăm chăm từng cử chỉ của ông. Đây đó xong xuôi, vậy mà bước khỏi đình ông lại còn đâm ra lo lắng, không biết kế sách nầy có linh nghiệm không? Cả tháng nay chuyện làm ăn đã rắc rối lắm rồi, giờ lại còn vướng vào chuyện thần chuyện quỷ…

 

* * *

 

Rắc rối! Đúng hơn phải là điêu đứng. Từng đi qua nhiều nơi, nhưng chưa nơi nào làm Chín Nhạn phải khốn đốn như cái xứ sở nầy. Nửa tháng qua, vài ngày người dân lại tụ tập ra xà lang khai thác cát của ông để gây khó dễ. Mỗi lần đi là một tốp khoảng vài chục người, trai gái già trẻ có đủ. Công việc khai thác phải tạm dừng. Nhân công đứng chết trân, mặt mày xanh lét, ngốn hết tất cả những lời chửi bới của dân làng. Chiếc xà lang thì phải hứng đủ thứ gạch, đá, trứng ung, cà chua, rau thúi… Có chạy xà lang đi cũng không xong, ghe của người dân đã bao vây bốn phía và sẵn sàng đuổi theo, đành phải đứng chịu trận.

Đơn giản là vì làng Năng lở đất quá nhiều. Đất đai của làng mỗi ngày càng bị sóng nước vồ lấy. Dân làng sợ tiếp tục khai thác cát sẽ làm trôi thêm đất xuống lòng sông. Chín Nhạn từng lấy một đống giấy tờ ra, nè, mấy ông mấy bà coi đi, khai thác được cấp phép đàng hoàng. Vậy mà cũng vô ích, suýt chút nữa tờ giấy phép đã phải tắm nước cà thúi. Dân làng ai nấy nhao lên:

“Kệ tía mầy! Hổng có cấp phép gì ở đây ráo trọi. Giấy tờ gì của mầy hông cần biết, chánh quyền cho thì kệ, nhưng bây giờ dân tụi tao không cho. Tụi bây hút cát dưới sông thì đất đai bên bờ sẽ trôi xuống”.

“Ờ, phải rồi. Có cấp phép, nhưng khai thác nhiều hơn quy định thì cũng có ai biết! Nên bây giờ nói gọn là dù khai thác ít hay nhiều cũng không được”.

Chín Nhạn đứng im thin thít, người đơ như tượng, nghe máu trong mình nóng lên sùng sục, tức muốn nổi khùng. Nhưng đành chịu. Chừng nào mệt, họ sẽ tự bỏ về. Hết cách rồi!

Đôi ba lần chánh quyền cảnh cáo người dân, nhưng vẫn không xong. Cuối cùng phải mời họp giải quyết. Đơn vị khai thác cát có Chín Nhạn và hai thằng đệ tử, trong khi dân làng thì cả một… “đại đội”! Buổi họp hôm đó xôn xao như nhóm chợ, không khí nóng hầm hập. Phòng họp chật cứng như bị giãn ra thêm bởi đủ thứ tiếng bàn tán, kể tội, chửi rủa, hăm dọa… Nhà khoa học được mời đến, nói rằng đã dùng phương pháp khoa học để thăm dò kỹ lưỡng mới cho phép khai thác cát. Họ giải thích đất làng Năng lở là do tác động của dòng chảy chứ không phải do việc khai thác cát. Người dân nhốn nháo bàn tán, rồi ai nấy lắc đầu:

“Tui hỏi mấy ông cán bộ, cát ở đáy sông bị hút lên tạo thành lõm ở dưới đó, thì đất trên bờ làm sao không chảy xuống cái lõm đó cho được? Tui không tin mấy ông đâu. Mấy ông là phe phái với nhau, mấy ông ăn hối lộ nên mới theo tụi nó”.

“Phải rồi, hút cát lên thì đất phải sụp xuống chớ. Mấy ông là nhà khoa học, giải thích sao cũng được, làm sao dân tụi tui biết. Nhưng khai thác cát ít nhiều gì cũng làm lở đất”. 

Mặc kệ phiên họp chưa kết thúc, dân làng kéo nhau ùn ùn bỏ về, cửa phòng họp nhỏ xíu tưởng chừng bị tét làm đôi. Nhà khoa học lắc đầu. Chánh quyền bất lực. Cũng phải, khi thấy đất đai của mình đang bị uy hiếp như vậy, có ai chịu đứng nhìn đâu?

 

* * *

 

Chín Nhạn từ trong đình lững thững ra về. Ngoài đường, nắng vừa đủ vàng ươm rọi nghiêng nghiêng mấy bóng cây, đậu xuống mái tóc hớt cua trùi trụi của ông. Ông nghe ngực mình đánh trống thình thịch, mồ hôi rũ nhau trườn ra lưng áo. Về vừa đến xà lang, mấy thằng đệ tử mặt tươi rói, la rố ráo: “Nhổ neo lên được rồi ông Chín ơi!”. Chín Nhạn giựt mình, không tin được những gì mình đang nghe, đang thấy. Ông chạy tới nhìn trân trân. Đúng thật là cái neo rồi, nó đang lù lù ngay trước mắt. Kế bên là sợi dây neo đang nằm im re, hiền khô, yếu đuối, cứ như khác hẳn so với sợi dây trình trịch ngày hôm qua. Chín Nhạn run hai môi, bắt đầu cảm thấy nỗi sợ đang lần lần mơn trớn và áp đảo đầu óc mình. Chẳng lẽ ông thần làng Năng linh thiêng thật như vậy sao?

Trong bụng ông mở cờ.

Ông đang nghĩ đến một dự định khác.

Sáng sớm hôm sau, Chín Nhạn lại bưng một cái mâm lớn đến đình. Trong mâm lần nầy không chỉ đơn giản là trái cây như hôm trước nữa, mà là cả một con heo sữa quay, mỡ tươm ra bóng lộn. Chín hồ hởi đặt lễ vật lên bàn thờ rồi ung dung thắp nhang đứng khấn. Trong đình hôm nay, ông cảm thấy đủ tự tin hơn để đứng một mình, dẫu có con mắt vô hình nào đó đang ngó mình, ông cũng không sợ. Dường như ông nắm bắt được điều gì đó từ vị thần mà ông đang cầu khẩn. Ông cố tình khấn lớn:

“Con đây người trần mắt thịt không biết oai linh của thần nên đã có ý khinh khi, nhờ thần linh ứng dạy dỗ cho con được sáng tỏ. Nay con xin đem lễ vật đến thành tâm dâng thần, trước mong thần tha thứ tội, sau nhờ thần che chở và phù hộ cho con trong việc làm ăn. Xin thần giúp đỡ con tránh được đám dân làng phá rối, qua mắt được chánh quyền. Nếu con khai thác cát ở làng Năng lần nầy được lợi nhuận nhiều, con sẽ trả lễ thần thật hậu hỷ”.

Khấn xong, Chín Nhạn cười đầy đắc ý. Trước khi về, ông thong thả nhìn quanh một lượt, như đang muốn tìm một sự thỏa hiệp từ ánh mắt nào đó đang dòm ngó mình. Lúc không thể nhờ người khác được nữa, người ta đành cậy nhờ thế lực vô hình. Chín Nhạn hối lộ, mua chuộc cả thần linh! Khi lòng tham lên đến một mức độ không còn nhỏ nữa, người ta bắt đầu bất chấp mọi chuyện, bất chấp lẽ phải. Và lần nầy, cao hơn, Chín Nhạn bất chấp cả luật trời, cả thần thánh.

 

* * *

 

Mấy ngày sau, cả làng Năng xôn xao tin ông chủ xà lang khai thác cát bị té sông. Tuy trong làng không phải ai cũng biết mặt Chín Nhạn, nhưng nói đến ông chủ xà lang khai thác cát thì hầu như mọi người cũng đã đôi lần nghe qua. Khi hay tin ông gặp nạn, ai cũng cảm thấy bất ngờ. Sao mới đó mà gặp nạn rồi? Sao dân sống trên sông nước mà bị té như vậy? Sao còn trẻ mà ra nông nỗi nầy?

Nghe nói khi chèo từ trong bờ ra gần tới xà lang, xuồng của Chín Nhạn bị lật, làm ông té xuống nước. Không hiểu lúc đó người ngợm ông bị gì mà lại không chịu bơi? Cứ chấp chới rồi chìm dần. Đám nhân công trên xà lang nhìn thấy liền nhảy xuống sông cứu ông chủ của mình. Họ lặn giỏi, nên không lâu sau đó đã cứu được Chín Nhạn. Sau khi hô hấp nhân tạo, ông từ từ tỉnh dậy, nhưng mắt vô hồn, miệng cứ ú ớ không thành tiếng, có lúc lại cười một mình.

Hình như thần kinh ông gặp vấn đề, không còn nhận thức rõ ràng nữa. Gia đình Chín Nhạn đã nhanh chóng đưa ông đi điều trị, chiếc xà lang khai thác cát cũng đã rời khỏi khúc sông bên cạnh làng Năng, không biết có còn trở lại nữa không?

Dân làng kháo nhau rằng đó là báo ứng dành cho người làm hại làng Năng. Họ nói những người muốn lấy đất đai của làng để làm giàu cho bản thân mình thì phải chịu trừng phạt như thế, và quả quyết rằng tai nạn của Chín Nhạn chính là do thần làng Năng trừng phạt chứ không phải vì lý do nào khác. Cái gì không phải của mình thì đừng chiếm đoạt, đất đai của làng Năng thì phải trả lại cho làng Năng.

Người ta nói rằng thần làng Năng linh thiêng lắm!

 

V.T

 

 

 

 

 

 

Read more…

CÁCH NHẬP COMMENT TRÊN HƯƠNG QUÊ NHÀ

Đầu tiên, nhấp chuột vào ô Nhập nhận xét của bạn rồi viết comment. Viết xong, nhấp chuột vào ô Tài khoản Google. Sau đó nhấp chuột vào Tên/URL thì sẽ hiện ra 2 ô. Ô phía trên, ghi Họ và tên của bạn. Ô phía dưới, ghi dòng chữ:huongquenha.com

Cuối cùng, nhấp chuột vào ô Tiếp tục và nhấp chuột tiếp vào ô Xuất bản là xong. (Nếu bạn đã có sẵn Tài khoản Google, thì sau khi viết comment, chỉ cần nhấp chuột vào ô Xuất bản là thành công)

Số lượt xem tháng trước


-------------------------------------------------------------------------


TÁC GIẢ & TÁC PHẨM
* TÁC GIẢ & TÁC PHẨM * TÁC GIẢ & TÁC PHẨM * TÁC GIẢ & TÁC PHẨM * TÁC GIẢ & TÁC PHẨM---------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------
Ái Nhân (21) Ambrose Bierce (1) ẢNH (58) Anh Ngọc (1) Anh Nguyên (1) Anh Phong (4) Anh Phương (9) âm nhạc (2) âm thanh (1) Ân Thiên (1) Bạch Diệp (5) Bách Mỵ (2) BÀN TRÒN VĂN NGHỆ (87) Bảo Hồ (1) Bảo Lâm (1) Bảo Ninh (2) Bé Hải Dân (1) Bích Ái (3) Bích Lê (4) Bích Ngọc (1) Bích Vân (2) Bình Địa Mộc (3) Bình Nguyên (1) Bình Nguyên Trang (2) binh pháp (1) Bình Tâm (1) Bobby Nam Giang (3) Bùi Anh Sắc (1) Bùi Công Thuấn (1) Bùi Danh Hải Phong (1) Bùi Đức Ánh (66) Bùi Hoài Vân (5) Bùi Huyền Tương (2) Bùi Hữu Phước (1) Bùi Nguyên Bằng (25) Bùi Nhựa (4) Bùi Văn Bồng (5) Bùi Việt Thắng (2) BÚT KÝ (17) Ca Dao (2) Cao Duy Thảo (1) Cao Kim Quy (1) Cao Thị Thu Hà (3) Cao Thọ Thêm (2) Cao Thoại Châu (1) Cao Thu Hà (1) Cao Trọng Quế (1) Cao Văn Tam (5) Cát Du (7) Catherine Mansfield (1) Cẩm Lệ (4) Cẩm Tú Cầu (1) Chàng Cát (1) Chánh Đức (1) CHÀO XUÂN 2014 (1) CHÂN DUNG VĂN NGHỆ SĨ (2) Châu Đoàn (1) Châu Quang Phước (1) Châu Thạch (9) Châu Thường Vinh (1) Chí Anh (1) Chính Đức (1) chủ (1) CHỦ BIÊN (141) Chu Giang Phong (1) Chu Lai (2) Chu Ngạn Thư (10) Chu Trầm Nguyên Minh (16) Chu Vương Miện (1) Chúa Sơn Lâm (1) Cỏ Dại (7) covid 19 (1) Công Nguyễn (1) Cơ Xương (1) Cúc Dương (1) Cuộc thi văn chương (1) CỬA SỔ VĂN HÓA (6) Dạ Ngân (1) Dã Phong Bình (2) Dã Phương (1) Dạ Thảo (2) Dạ Thy (1) Diệp Linh (18) Diệp Uy (1) Dino Buzzati (3) DỌC ĐƯỜNG (29) Du Tử Lê (1) Dung Thị Vân (28) Duy Bằng (1) Duy Phạm (6) Dương Diệu Minh (1) Dương Đăng Huệ (1) Dương Hải Yến (2) Dương Hằng (7) Dương Kim Nhi (4) Dương Kim Thoa (1) Dương Phương Vinh (1) Dương Thành Thái (3) Dương Thị Yến Trinh (2) Dương Xuân Triều (6) Dzạ Lữ Kiều (6) Đàm Lan (17) Đan Ngọc (2) đạo đức (2) Đào Hiền (2) Đào Hữu Thức (2) Đào Khương (2) Đào Minh Hiệp (2) Đào Phạm Thuỳ Trang (82) Đào Quang Bắc (1) Đào Quý Thạnh (1) Đào Thanh Hoà (14) Đào Thị Quý Thanh (1) Đào Thị Thu Hiền (3) Đào Văn Đạt (31) Đào Viết Bửu (7) Đặng Châu Long (1) Đặng Diệu Thoa (1) Đăng Đăng (1) Đăng Huỳnh (1) Đặng Quốc Khánh (8) Đặng Quý Địch (3) Đặng Tấn Tới (2) Đặng Thị Hoa (2) Đặng Thị Xuân (1) Đặng Toán (1) Đăng Trình (1) Đặng Tường Vy (3) Đặng Văn Sử (1) Đặng Việt Trinh (1) Đặng Xuân Xuyến (9) ĐIỂM BÁO (2) Điêu Thuyền (1) Đinh Lốc (2) Đình Thậm (1) Đinh Vương Khanh (4) Đoàn Khương Duy (1) Đoàn Thị Minh Hiệp (4) Đoàn Tình (1) Đoàn Tuyết Thu (1) Đoản văn (1) ĐỌC SÁCH (30) Đỗ Chiến Thắng (6) Đỗ Duy Hoàng (15) Đỗ Hồng Ngọc (5) Đỗ KIm Dung (1) Đỗ Phu (1) Đỗ Quyên (2) Đỗ Tâm Linh (1) Đỗ Tấn Đạt (2) Đỗ Thị Kim Hải (2) Đỗ Trúc Hàn (1) Đỗ Văn Tiến (1) Đỗ Xuân Phương (1) Đức Linh (1) Đức Tiên (3) Elena Pucillo Truong (6) gan jing world (1) Ghi chép (2) Giang Đình (8) Giang Hiền Sơn (6) Giáo dục (1) Guy de Maupassant (1) Hà Đoàn (2) Hạ Ly (1) Hà Nguyên (2) Hà Nhi (1) Hà Nhữ Uyên (2) Hà Phi Phượng (1) Hạ Thi (3) Hà Thị Thu Hằng (1) Hà Tùng Sơn (1) Hải Điểu (1) Hải Miên (3) Hải Phong (2) Hải Thăng (1) Hải Thuỵ (6) Hải Yến (2) Hàm Sơn (1) Hàn Dã Thảo (2) Hàn Du Tử (17) Hàn Hữu Yên (1) Hàn Lâm (1) Hãn Nguyên Nguyễn Nhã (1) Hàn Nguyệt (1) Hàn Phong Vũ (19) Hàn Tín (1) Hạng Vũ (1) Hậu Cốc Ngang (1) Hậu Đậu (1) Hiếu Dũng (1) Hoa Hướng Dương (1) Hoa Mai (2) Hoa Tím Buồn (4) Hoa Tuyết (2) Hoà Văn (10) Hoa Xuyến Chi (1) Hoài Huyền Thanh (53) Hoan Giang (1) Hoàng Anh (6) Hoàng Anh 79 (26) Hoàng Chẩm (53) Hoàng Chẫm (1) Hoàng Đình Quang (2) Hoàng Giao (4) Hoàng Hạ Miên (6) Hoàng Hữu (1) Hoàng Khánh Duy (5) Hoàng Kim (1) Hoàng Kim Chi (1) Hoàng Kim Oanh (2) Hoàng Linh (6) Hoàng Long (2) Hoàng Lộc (8) Hoàng Mẫn (1) Hoàng Minh Tường (2) Hoàng Nghĩa Lược (1) Hoàng Ngọc Xuân (4) Hoàng Nguyên (1) Hoàng Phủ Ngọc Tường (1) Hoàng Thảo Chi (1) Hoàng Thị Bích Hà (1) Hoàng Thị Nhã (8) Hoàng Thị Thu Thủy (2) Hoàng Trang (1) Hoàng Trần (1) Hoàng Trọng Quý (9) Hoàng Trọng thắng (1) Hoàng Tuấn Sơn (1) Hoàng Tuyên (2) Hoàng Vũ Thuật (1) Hoàng Xuân Hiến (1) Hoàng Xuân Niên (1) Hồ Bích Ngọc (4) Hồ Bích Vân (2) Hồ Đắc Thiếu Anh (1) Hồ Hải (2) Hồ Lê Diêm (1) Hồ Nam (1) Hồ Ngọc Diệp (1) Hồ Nhật Quang (1) Hồ Sĩ Duy (1) Hồ Thanh Ngân (10) Hồ Thế Hà (2) Hồ Thế Phất (3) Hồ Thế Sinh (1) Hồ Tĩnh Tâm (1) Hồ Tịnh Thuỷ (21) Hồ Vũ Khánh Linh (1) Hồ Xuân Thu (3) Hội Nhà văn TP. HCM (1) Hồng Hạnh (3) Hồng Liễu (1) Hồng Phúc (8) Hồng Tâm (10) Huệ Triệu (3) HUMICHI (5) Huy Nguyên (15) Huy Vọng (17) Huy Vũ (1) Huyết Kiệt (1) Huỳnh Dạ Thảo (1) Huỳnh Gia (18) Huỳnh Kim Bửu (1) Huỳnh Minh Lệ (2) Huỳnh Ngọc Nga (1) Huỳnh Ngọc Phước (29) Huỳnh Như Phương (1) Huỳnh Thanh Lan (1) Huỳnh Thị Quỳnh Nga (1) Huỳnh Thúy Thúy (1) Huỳnh Văn Diệu (1) Huỳnh Văn Mỹ (1) Huỳnh Văn Yên (1) Huỳnh Xuân Sơn (3) Hương Đêm (1) Hương Đình (4) Hương Quê Nhà (1) Hương Văn (6) Hửu Thỉnh (1) Irina Polianxkaia (1) James Dylan (4) James Joyce (1) Jeffrey Thai (9) Jerry Thu Trà (7) Kai Hoàng (1) Kate Chopin (1) Kha Tiệm Ly (4) Khả Xuân (1) Khán Võ (2) Khảo Mai (1) khoa học (1) Khổng Trường Chiến (3) Khổng Vĩnh Nguyên (1) KỊCH BẢN (1) Kiên Giang (1) Kiến Giang (12) Kiều Huệ (1) Kim Chuông (4) Kim Dung (2) Kim Ngoan (15) Kim Quyên (1) Kim Sơn Giang (22) Kim Tiết (10) Kim Yến (1) Kỳ Nam (2) Ký sự (14) Lã Bố (1) La Hán (1) La Mai Thi Gia (1) Lạc Thảo (1) Lại Ngọc Thư (1) Lam Giang (3) Lan Anh (1) Lan Phương (1) Lan Thanh (1) Lãng Du (6) Lâm Bích Thuỷ (8) Lâm Cẩm Ái (3) Lâm Hạ (11) Lâm Huy Nhuận (1) Lâm Trúc (30) Lâm Xuân Vi (1) Lâu Văn Mua (1) Lê Ân (5) Lê Bá Duy (9) Lê Đình Danh (79) Lê Đức Hoàng Vân (1) Lê Đức Lang (13) Lê Giang Trần (1) Lệ Hằng (3) Lê Hoài Lương (4) Lê Hoàng (2) Lê Hứa Huyền Trân (39) Lê Khánh Luận (1) Lê Minh Chánh (1) Lê Minh Dung (2) Lê Minh Hải (3) Lê Minh Vũ (3) Lê Ngân (3) Lê Ngọc Phái (1) Lê Ngọc Trác (1) Lê Ngũ Nam Phong (11) Lê Nhựt Triết (8) Lê Phương Châu (30) Lê Quang Trạng (23) Lê Sa Long (2) Lê Thanh Hùng (34) Lê Thanh My (8) Lê Thấu (1) Lê Thị Cẩm Tú (6) Lê Thị Hồng Thắm (1) Lê Thị Kim (1) Lê Thị Ngọc Lệ (1) Lê Thị Ngọc Nữ (33) Lê Thị Thu Hiền (1) Lê Thị Xuyên (13) Lê Thiếu Nhơn (15) Lê Thống Nhất (6) Lê Thụy Phương (2) Lê Tiến Dũng (1) Lê Tiến Mợi (6) Lê Trọng Nghĩa (3) Lê Trung Hiếu (1) Lê Tuân (4) Lê Uyên (1) Lê Văn Hiếu (12) Lê Văn Ngăn (3) Lê Vi Thuỷ (1) Lê Vinh (4) Lê Xuân Tiến (1) Lindsay Polak (1) Linh Lan (7) Linh Lan (Quảng Nam) (8) Linh Phương (3) Linh Thy (2) Long Khánh (4) Long Vương (1) luân hồi (1) Lữ Hồng (3) Lư Nhất Vũ (1) Lương Cẩm Quyên (1) Lương Duyên Thắng (3) Lương Đình Khoa (1) Lương Sơn (27) Lưu Ly (6) Lưu Quang Minh (15) Lưu Thành Tựu (1) Lưu Thị Mười (2) Lưu Xuân Cảnh (2) Lý Khánh Vinh (15) Lý Thành Long (1) Lý Thời Miễn (1) M.T.N.H (7) Mã Nhị Lan (1) Mạc Minh (2) Mạc Tố Hồng (1) Mạc Tường (2) Mai Đức Trung (6) Mai Hạnh (1) Mai Kiệm (1) Mai Loan (12) Mai Nhật (2) Mai Thanh (1) Mai Thị Vân (1) Mai Thìn (3) Mai Tuyết (37) Mang Viên Long (63) Marie Hải Miên (4) Mẫu Đơn (1) Mèo Con (1) Mi Thu (1) Miên Đức Thắng (2) Miên Linh (1) Minh Châu (2) Minh Đan (Lọ Lem Đất Võ) (6) Minh Nguyên (15) Minh Nguyễn (3) Minh Nguyệt (15) Minh Nguyệt (NT) (1) Minh Nhân Tông (1) Minh Vy (25) Mỗi tháng một tác giả và một bài thơ hay (2) Mộng Cầm (8) Mộng Nam (1) Mùa Xanh (3) Mưa (1) Mường Mán (1) MỸ THUẬT (6) My Tiên (1) Mỹ Vân (1) Nam Art (2) Nam Cao (1) Nam Thi (17) Năm Bửu (1) Nấm Độc (1) NCCGL (4) Ngàn Thương (33) Ngày Đẹp Tươi (1) nghệ thuật. (1) nghiên cứu (1) Ngọc Bút (8) Ngọc Diệp (35) Ngọc Thịnh (1) Ngô Càn Chiểu (1) Ngô Cự Chính (2) Ngô Diệp (6) Ngô Đình Hải (7) Ngô Hồng Nhung (1) Ngô Liêm Khoan (1) Ngô Minh Trãi (3) Ngô Nguyên Ngiễm (1) Ngô Thị Hoà (1) Ngô Thị Ngọc Diệp (10) Ngô Thuý Nga (30) Ngô Thúy Nga (16) Ngô Thy Học (7) Ngô Văn Cư (52) Ngô Văn Giảng (11) Ngô Văn Khanh (17) Ngô Viết Hòa (2) Nguyễn (1) Nguyễn An Bình (70) Nguyễn An Đình (4) Nguyễn Ánh 9 (1) Nguyễn Bá Nhân (1) Nguyễn Bích Sao Linh (1) Nguyễn Bình (1) Nguyễn Bính Hồng Cầu (2) Nguyên Cẩn (26) Nguyễn Châu (2) Nguyễn Chinh (4) Nguyễn Công Thụ (2) Nguyễn Công Tùng Chinh (1) Nguyễn Cử Tú Quỳnh (2) Nguyên Diệp (1) Nguyễn Dũng (1) Nguyễn Duy Khương (6) Nguyễn Duy Phương (1) Nguyễn Duy Thịnh (3) Nguyễn Đại Duẩn (2) Nguyễn Đặng Mừng (3) Nguyễn Đăng Thanh (20) Nguyễn Đăng Trình (4) Nguyễn Đình Bảng (1) Nguyễn Đình Trọng (1) Nguyễn Đoan Tuyết (25) Nguyễn Đồng Bội Thảo (1) Nguyễn Đức Chính (5) Nguyễn Đức Cơ (1) Nguyễn Đức Mậu (2) Nguyễn Đức Minh (6) Nguyễn Đức Minh Hùng (10) Nguyễn Đức Nhân (1) Nguyễn Đức Phú Thọ (26) Nguyễn Đức Quyền (4) Nguyễn Đức Tấn (6) Nguyễn Đức Tình (4) Nguyễn Gia Long (1) Nguyên Hạ (11) Nguyễn Hải Thảo (2) Nguyễn Hậu (2) Nguyễn Hiếu (8) Nguyễn Hiếu Học (2) Nguyễn Hòa Hiệp (2) Nguyễn Hoài Ân (1) Nguyễn Hoàng Thức (2) Nguyễn Hồng Diệu (1) Nguyễn Huệ (3) Nguyên Hùng (1) Nguyễn Huy (3) Nguyễn Huy (HD) (1) Nguyễn Huy Khôi (1) Nguyễn Huỳnh (1) Nguyễn Hữu Minh (1) Nguyễn Hữu Phú (1) Nguyễn Hữu Quý (2) Nguyễn Hữu Thuần (4) Nguyễn Hữu Trung (2) Nguyễn Khiêm (1) Nguyễn Khoa Đăng (51) Nguyễn Kiều Lam (2) Nguyễn Kiều Phương (3) Nguyễn Kim Hương (7) Nguyễn Kim Thịnh (1) Nguyễn Lam (2) Nguyễn Lương Vỵ (4) Nguyên Minh (1) Nguyễn Minh Dũng (46) Nguyễn Minh Hoà (1) Nguyễn Minh Khiêm (1) Nguyễn Minh Nguyệt (1) Nguyễn Minh Phúc (47) Nguyễn Minh Quang (5) Nguyễn Minh Thuận (9) Nguyễn Minh Toàn (1) Nguyễn Mỳ (1) Nguyễn Mỹ Nữ (3) Nguyễn Nga (14) Nguyễn Nghiêm (3) Nguyễn Ngọc Dũng (1) Nguyễn Ngọc Đặng (1) Nguyễn Ngọc Hà (4) Nguyễn Ngọc Hưng (6) Nguyễn Ngọc Minh Anh (1) Nguyễn Ngọc Thơ (31) Nguyễn Ngọc Tư (5) Nguyễn Nguy Anh (21) Nguyễn Nguyên Phượng (69) Nguyễn Nhật Hùng (4) Nguyễn Như Tuấn (14) Nguyễn Phin (30) Nguyên Phong (1) Nguyễn Phú Yên (8) Nguyễn Phượng (2) Nguyễn Phương Dung (2) Nguyễn Quang Quân (8) Nguyễn Quang Tâm (2) Nguyễn Quang Tuấn (1) Nguyễn Quân (2) Nguyễn Quốc Ái (1) Nguyễn Quốc Bảo (1) Nguyễn Quốc Đông (1) Nguyễn Quy (2) Nguyên Tâm (1) Nguyễn Tấn Thuyên (3) Nguyễn Thái An (3) Nguyễn Thái Dương (6) Nguyễn Thái Huy (35) Nguyễn Thành Công (48) Nguyễn Thành Giang (22) Nguyễn Thanh Hải (1) Nguyễn Thanh Huyền (8) Nguyễn Thanh Mừng (1) Nguyễn Thánh Ngã (1) Nguyễn Thành Nhân (18) Nguyễn Thanh Tuấn (7) Nguyễn Thanh Xuân (2) Nguyễn Thế Kiên (1) Nguyễn Thế Kỷ (1) Nguyễn Thị Ánh Huỳnh (2) Nguyễn Thị Bích Phượng (2) Nguyễn Thị Cẩm Thuỳ (3) Nguyễn Thị Chi (2) Nguyễn Thị Diệu Hiền (3) Nguyễn Thị Hải (1) Nguyễn Thị Hằng (7) Nguyễn Thị Hậu (1) Nguyễn Thị Hồng Đào (10) Nguyễn Thị Huệ (1) Nguyễn Thị Kim Huệ (2) Nguyễn Thị Mây (127) Nguyễn Thị Ngọc Hải (1) Nguyễn Thị Ngọc Sen (2) Nguyễn Thị Như Tâm (3) Nguyễn Thị Phụng (27) Nguyễn Thị Thanh Bình (6) Nguyễn Thị Thành Nhân (1) Nguyễn Thị Thanh Toàn (1) Nguyễn Thị Thanh Xuân (1) Nguyễn Thị Thu Ba (23) Nguyễn Thị Thu Hiền (1) Nguyễn Thị Thu Hoài (1) Nguyễn Thị Thu Thuý (3) Nguyễn Thị Thùy Linh (3) Nguyễn Thị Tiết (3) Nguyễn Thị Tuyết (1) Nguyễn Thị Việt Hà (39) Nguyễn Thị Xuân Hương (14) Nguyễn Thu Hằng (1) Nguyễn Thủy (4) Nguyễn Thúy Ngân (13) Nguyễn Thuý Quỳnh (2) Nguyễn Thường Kham (3) Nguyễn Thượng Trí (2) Nguyễn Tiến Đường (8) Nguyễn Trần (1) Nguyễn Trí Tài (40) Nguyễn Trọng Luân (2) Nguyễn Trung (1) Nguyễn Trung Nguyên (1) Nguyễn Tuyển (4) Nguyễn Văn Ân (68) Nguyễn Văn Bút (6) Nguyễn Văn Công (2) Nguyễn Văn Cường (CCK) (4) Nguyễn Văn Hiến (5) Nguyễn Văn Hoà (5) Nguyễn Văn Hòa (2) Nguyễn Văn Học (55) Nguyễn Văn Ngọc (1) Nguyễn Văn Thanh (1) Nguyễn Văn Thành (1) Nguyễn Văn Thảo (17) Nguyễn Văn Toan (1) Nguyên Vi (1) Nguyễn Việt Hà (2) Nguyễn Vinh (1) Nguyễn Vĩnh Bình (3) Nguyễn Xuân Cảm (3) Nguyễn Xuân Dương (1) Nguyễn Xuân Khánh (1) Nguyễn Xuân Thuỷ (1) Nguyễn Xuân Thủy (1) Nguyễn Xuân Tư (3) Nguyệt Linh (5) Nguyệt Quế (1) Ngưng Thu (44) Nhã Ngọc (1) Nhã Thiên (7) nhà Thương (1) Nhân Hậu (2) NHÂN VẬT (1) Nhật Nguyệt Xuân Hương (1) Nhật Quang (17) Nhất Sinh (1) Nhật Vũ (1) Nhi Hạ (1) NHỚ THUỞ ẤU THƠ (37) Như Hoài (4) NHỮNG ÁNG VĂN HAY VỀ LÀNG QUÊ VIỆT NAM (7) NHỮNG NGƯỜI BẠN ĐÂT THỦ (6) NHỮNG NGƯỜI THỰC HIỆN HQN (5) Nông Quốc Lập (2) NP phan (1) Nửa Đời hư (1) NỬA THÁNG MỘT TÁC GIẢ VÀ MỘT BÀI THƠ HAY (38) nước (1) O. Henry (1) P.N. Thường Đoan (1) Pearl (1) Phạm Ánh (34) Phạm Anh Xuân (3) Phạm Bá Nhơn (2) Phạm Cao Hoàng (1) Phạm Đình Nghi (1) Phạm Hổ (1) Phạm Hữu Hoàng (20) Phạm Kiều Hưng (1) Phạm Lâm (1) Phạm Lê Tường Vi (1) Phạm Minh Dũng (14) Phạm Minh Hiền (9) Phạm Minh Thuận (10) Phạm Mỹ (1) Phạm Ngân (3) Phạm Như Vân (1) Phạm Phan Hòa (1) Phạm Phương Lan (1) Phạm Quỳnh An (1) Phạm Thái Ba (4) Phạm Thị Hải Dương (9) Phạm Thị Liên (1) Phạm Thị Mỹ Liên (30) Phạm Thị Phương Thảo (3) Phạm Thuý (6) Phạm Trần Ái Linh (4) Phạm Trung Tín (2) Phạm Tuấn Vũ (29) Phạm Tử Văn (21) Phạm Văn Phương (16) Phạm Văn Thạnh (1) Phạm Vũ (1) Phan Anh (12) Phan Cung Việt (1) Phan Đức Nam (1) Phan Hoài Thương (1) Phan Hoàng (2) Phan Huỳnh Điểu (1) Phan Hữu Lý (1) Phan Khanh (2) Phan Mai Thư Nhã (6) Phan Nam (20) Phan Quỳnh Như (1) Phan Sửu (1) Phan Tấn Lược (6) Phan Thanh Cương (2) Phan Thị Huỳnh Trang (2) Phan Tiên Phát (1) Phan Tình (1) Phan Trang Hy (25) Phan Văn Bình (1) Phan Văn Thạnh (1) Phan Văn Thuần (3) Phan Vĩnh (1) phần 1 (1) phần 2 (1) phần 3 (1) phần 4 (1) Phiêu Vân (1) Phong Dương (2) Phong Điệp (1) Phỏng vấn (7) Phú Ngọc (1) Phú Quang (3) Phú Xuân (8) Phùng Gia Lộc (1) Phùng Hiếu (10) Phùng Hiệu (1) Phùng Hoàng Chương (1) Phùng Phương Quý (7) Phụng Thiên (1) Phùng Văn Khai (1) Phước Vũ (1) Phương Phương (10) Phương Uy (5) Quan Thế Âm (1) Quảng Ngọc (1) Quảng Ngôn Lê Ngữ (1) Quang Thám (1) Quang Tuấn Dũng (9) Quốc Hùng (2) Quốc Tuyên (1) quy luật dịch (1) Quỳnh Lệ (1) Quỳnh Nga (16) Quỳnh Trâm (1) Rason Helmandollar (1) Raymond Carver (1) Raymond Thư (1) Rêu (Cao Hoàng Từ Đoan) (13) SÁCH BẠN VĂN (71) SARAH HALL (1) SINH NHẬT (1) Song Ninh (11) Sông Hương (11) Sông Lam (1) Sông Song (8) Sơn Tịnh (2) Sơn Trần (15) Sruthi Thekkiam (1) Stephen Crane (1) T.T.Hiếu Thảo (22) Tạ Nghi Lễ (1) Tạ Thị Hoa (14) Tam quốc diễn nghĩa (4) TẢN VĂN (230) TẠP BÚT (624) Tạp chí Văn Mới (1) TẠP CHÍ VN BÌNH DƯƠNG (11) Tashi Dawa (1) Tâm Lãng (1) Tâm Nhiên (2) Tấn Hòa (1) Tần Khánh (4) Tân Vương Huy (1) TẬP SAN ÁO TRẮNG (39) Tập san Văn học nghệ thuật Hương Quê Nhà (1) Tây bá hầu Cơ Phát (1) Tây Du Ký (1) Tây Sơn bi hùng truyện (2) Thạch Anh (2) Thạch Cầu (1) Thạch Đà (7) Thạch Lam (1) Thạch Sene (5) Thái An Khánh (2) Thái Hoà (1) Thanh Bình Nguyên (27) Thành Dũng (1) Thanh Hải (1) Thanh Huyền (2) Thanh Lương (2) Thanh Minh (4) Thanh Phong (1) Thanh Sơn (1) Thanh Thảo (3) Thanh Trắc Nguyễn Văn (42) Thanh Tùng (7) Thành Văn (3) Thạnh Văn (1) Thanh Xuân (2) Thảo Nguyễn (1) Thâm Tâm (1) Thần Y (1) Thi Ngọc Lan (1) Thiên Ân (1) Thiên Di (5) Thiên Sơn (1) Thiên Thần Áo Trắng (7) Thiên Tôn (10) Thiên Trần (1) Thiệp chúc mừng năm mới (4) Thiệp chúc Tết (3) Thiệp mừng (3) Thông báo (1) Thơ (3149) Thơ Lê Nhựt Triết (1) THƠ MỜI HOẠ (7) THƠ PHỔ NHẠC (106) Thời sự Văn nghệ (6) Thu Dung (3) Thu Hằng (1) Thu Hiền (1) Thu Hoài (1) Thu Nga (1) Thuận Thảo (8) Thuận Yến (1) Thục Minh (7) Thuỳ Anh (13) Thuỵ Du (1) Thụy Du (3) Thuỳ Dương (1) Thùy Dương (1) Thủy Điền (1) Thuỳ Nhân (1) Thư cảm ơn (1) Thư ngỏ (1) THƯ NGỎ CỦA HQN (2) Thư tin (285) THƯ VIỆN TÁC GIẢ (1) Tiểu luận (4) Tiểu Mục Đồng (1) Tiểu Nguyệt (5) Tiểu thuyết (107) Tiêu Tương (1) Tin buồn (2) TIN VĂN (2) Tịnh Bình (19) Tịnh Minh Tiến (2) Tô Hồng Phương (1) Tô Kiều Ngân (1) Tố Mai (3) Tô Minh Yến (21) Tôn Nữ Hỷ Khương (2) Tôn Thất Út (2) Tôn Tư Mạc (1) Tống Ngọc Hân (1) Tống Xuân Tám (1) Trà Bình (4) TRABATHA (1) Trác Phi (1) Trang Linh (1) Trang Lộc (1) Trang Thơ Chào Xuân Mậu Tuất 2018 (1) TRANG THƠ CHỦ NHẬT (528) Trang Thơ Đón Xuân Đinh Dậu 2017 (1) TRANG THƠ ĐƯỜNG LUẬT (17) Tranh ảnh (3) Trầm Mặc (4) Trần Anh Dũng (1) Trần Bảo Định (4) Trần Băng Khuê (1) Trần Biên Thùy (1) Trần Dần (1) Trần Duy Đức (17) Trần Dzạ Lữ (4) Trần Định (1) Trần Đình Sử (2) Trần Đoàn Luận (1) Trần Đức ÁI (2) Trần Đức Hiển (1) Trần Đức Tín (1) Trần Hà Nam (4) Trần Hoàng Vy (2) Trần Hồng Vân (5) Trần Huiền Ân (2) Trần Huy Minh Phương (2) Trần Hữu Du (1) Trần Hữu Hội (17) Trần Kim Đức (5) Trần Kim Loan (2) Trần Kim Quy (1) Trần Lê Sơn Ý (2) Trần Linh Chi (1) Trần Long Thạch (1) Trần Lưu (1) Trần Mai Hường (11) Trần Mạnh Hảo (1) Trần Minh Nguyệt (16) Trần Năm (1) Trần Ngọc Hồ Trường (4) Trần Ngọc Mỹ (11) Trần Nguyên Hạnh (6) Trần Nhã My (2) Trần Như Luận (3) Trần Nhương (1) Trần Phù Nam (1) Trần Quang Dũng (4) Trần Quang Khanh (12) Trần Quang Lộc (1) Trần Quang Ngân (10) Trần Quốc Tiến (8) Trần Quốc Toàn (1) Trần Quốc Việt (1) Trần Tâm (7) Trần Thái Hưng (5) Trần Thanh Hải (3) Trần Thành Nghĩa (1) Trần Thế Nhân (13) Trần Thị Bích Thu (1) Trần Thi Ca (9) Trần Thị Cổ Tích (2) Trần Thị Huệ (1) Trần Thị Huyền Trang (3) Trần Thị Mai (1) Trần Thị Ngọc Hồng (1) Trần Thị Thanh (5) Trần Thị Thắng (1) Trần Thị Thương Thương (4) Trần Thị Trúc Hạ (1) Trần Thị Uyên (8) Trần Thiện (3) Trần Thiện Tuấn (1) Trần Thoại Nguyên (2) Trần Thuận (7) Trần Thúy Lành (6) Trần Thuỳ Trang (1) Trần Thư (1) Trần Thương Nhiều (1) Trần Trọng Hưng (2) Trần Trọng Tân (1) Trần Trọng Vũ (2) Trần Tuấn Anh (2) Trần Tuấn Thanh (10) Trần Vạn Giã (2) Trần Văn Bạn (16) Trần Văn Nhân (5) Trần Văn Thiên (1) Trần Việt (1) Trần Viết Dũng (11) Trần Võ Thành Văn (24) Triết học (2) Triều Âm (2) Triều Châu (1) Triều La Vỹ (2) Triệu Lam Châu (1) Triệu Từ Truyền (30) Trịnh Bửu Hoài (106) Trịnh Duy Sơn (2) Trịnh Hoài Linh (5) Trịnh Huy (4) Trịnh Thuỳ Mỹ (1) Trịnh Tuyên (1) Trịnh Viết Hiền (1) Trịnh Viết Hiệp (1) Trịnh Yến (2) Trọng Mật (2) trụ vương (1) Trúc Giang (4) Trúc Lập (1) Trúc Linh Lan (2) Trúc Thanh Tâm (12) Trúc Thuyên (3) trung quốc (1) Trung Trung Đỉnh (1) Trung Y (1) Truong Nguyen (1) Truyện dài (10) TRUYỆN DỊCH (17) Truyện ký (2) TRUYỆN NGẮN (1173) TRUYỆN VỪA (14) Trương Công Tưởng (16) Trương Diễm Phiến (1) Trương Đình Phượng (8) Trương Đình Tuấn (3) Trương Hồng Phúc (14) Trương Huỳnh Như Trân (2) Trương Lan Anh (1) Trương Nam Chi (5) Trương Thanh Cường (2) Trường Thắng (65) Trương Thị Thanh Tâm (22) Trương Thị Thúy (2) Trường Thịnh (6) Trương Tri (2) Trương Văn Dân (21) Trương Viết Hùng (1) TTM (1) Tuấn Nguyễn (7) Tuấn Quỳnh (3) Tuệ Mỹ (1) Tuti (2) Tuỳ bút (2) TÙY BÚT (120) Tuyết Nhung (2) Tuyết Vân (1) tứ đại mỹ nhân (1) Tường Vi (1) TX (1) Út Lãng Tử (1) Uyên Khuê (2) Uyên Minh (1) Uyển Phan (1) Vạn Lộc (1) Vành Khuyên (1) Văn (2483) Văn Công Mỹ (2) văn hóa truyền thống (5) Văn học nước ngoài (13) Văn Lưu (1) Văn Nguyên (1) Văn Nguyên Lương (7) Văn Nhược Ba (1) Văn Thạnh (2) Văn Thành Lê (1) Văn Thắng (23) Văn Trọng Hùng (1) Vân Đồn (3) Vân Giang (12) Vân Khanh (2) Vân Phi (32) Vân Tùng (2) Vi Ánh Ngọc (2) Vi Quốc Hiệp (1) Victor Remizov (1) VIDEO CLIP (2) Viễn Trình (25) Việt Quỳnh (1) Việt Trang (1) Việt Trương (1) Vĩnh Sơn (7) Vĩnh Thông (43) Vĩnh Tuy (21) Võ Bá Cường (1) Võ Chân Cửu (17) Võ Chí Nhất (3) Võ Công Liêm (1) Võ Diệu Thanh (18) Võ Dõng (1) Võ Đông Điền (4) Võ Hà (1) Võ Hạnh (2) Võ Mỹ Cát (1) Võ Ngọc Thọ (4) Võ Như Văn (3) Võ Thị Nga (13) Võ Thị Thu Thủy (1) Võ Thuỵ Như Phương (15) Võ Văn Hoa (1) Võ Văn Luyến (1) Võ Xuân Phương (3) Vũ Bình Lục (1) vũ đạo (1) Vũ Đình Huy (9) Vũ Đình Liên (1) Vũ Đình Minh (1) Vũ Đình Nguyệt (2) Vũ Đình Thung (2) Vũ Đức Trọng (1) Vũ Hạ (1) Vũ Hạnh (3) Vũ Hùng (2) Vũ Miên Thảo (5) Vũ Thành An (1) Vũ Thị Huyền Trang (115) Vũ Thụy Khuê (8) Vũ Trọng Quang (1) Vũ Trọng Tâm (2) Vũ Trọng Thanh (1) Vương Doãn (1) Vương Hạnh (1) Vương Hoài Uyên (4) Vương Tâm (3) Xanh Nguyên (4) Xuân Đài (1) Xuân Phong (6) Xuân Phương (1) Xuân Tiến (20) Ý Thu (3) Yên Kha (7) Ziken (2)
-------------------------------------------------------------------------
+ 817 TÁC GIẢ CÓ BÀI ĐĂNG TRÊN HƯƠNG QUÊ NHÀ
-------------------------------------------------------------------------