Home » Đan Ngọc
Anton Chekhov tên đầy đủ là Anton Pavlovich Chekhov (1860-1904) là một nhà văn kiệt xuất người Nga. Ông được tôn vinh là một trong những nhà viết kịch hay nhất mọi thời đại và là bậc thầy của truyện ngắn hiện đại. Về sự nghiệp văn học của mình, ban đầu ông viết truyện ngắn để kiếm sống nhưng sau này, ông lại tập trung hơn vào giá trị nghệ thuật và có những cách tân táo bạo trong phong cách viết, góp phần định hình truyện ngắn hiện đại. Ông không ngại tạo ra những khó khăn cho người đọc, tin rằng vai trò của nghệ sĩ là đặt ra câu hỏi, chứ không phải đưa ra câu trả lời.
Các vở kịch và truyện ngắn hay nhất của ông không có cốt truyện phức tạp. Khi viết kịch, ông được biết đến với kỹ thuật “khẩu súng của Chekhov”, khẳng định rằng mọi yếu tố được đưa vào truyện đều cần thiết cho cốt truyệt và ông thường minh hoạ nguyên tắc này bằng cách sử dụng súng như một ví dụ về một yếu tố cần thiết.
Mặc dù Chekhov được biết đến chủ yếu với các vở kịch nhưng theo một số nhà phê bình, truyện ngắn của ông – đặc biệt những truyện được viết sau năm 1888 – thậm chí còn là một thành tựu văn học sáng tạo và quan trọng hơn.
Tờ vé số
Đan Ngọc dịch
Ivan Dmitritch, một người đàn ông thuộc tầng lớp trung lưu sống cùng gia đình với mức thu nhập 1200 rúp một năm và rất hài lòng với cuộc sống của mình, ngồi xuống ghế sofa sau bữa tối và bắt đầu đọc báo.
"Hôm nay em quên xem báo rồi," vợ anh nói khi đang dọn dẹp bàn ăn. "Anh xem thử có kết quả xổ số không?"
"Có đấy," Ivan Dmitritch đáp, "nhưng vé số của em hết hạn chưa?"
"Chưa, em mới mua hôm thứ ba."
"Số nào?"
"Dãy 9499, số 26."
"Được rồi... xem nào... 9499 và 26."
Ivan Dmitritch vốn không có niềm tin vào may mắn trúng số, và thường thì anh sẽ không bao giờ xem kết quả xổ số, nhưng lúc này, vì không có gì khác để làm còn tờ báo lại đang ở trước mặt, anh lướt ngón tay xuống cột các con số. Ngay lập tức, như bỡn cợt sự hoài nghi của anh, không xa hơn dòng thứ hai từ trên xuống, con số 9499 lọt vào mắt anh! Không thể tin vào mắt mình, anh vội vàng đặt tờ báo lên đầu gối mà không nhìn tiếp con số trên vé, và như thể ai đó vừa dội cho anh một gáo nước lạnh, anh cảm thấy có một cơn ớn lạnh dễ chịu trong ổ bụng; rùng mình, hoảng loạn và ngọt ngào!
"Masha, có 9499!" anh nói với giọng run rẩy.
Vợ anh quay sang nhìn khuôn mặt vừa ngạc nhiên vừa hoảng sợ của anh, và nhận ra anh không nói đùa.
"9499?" cô hỏi, mặt tái đi và làm rơi chiếc khăn trải bàn đã gấp trên bàn.
"Ừ, ừ... đúng là nó!"
"Còn số trên vé thì sao?"
"Ồ đúng rồi! Cũng có số vé ở đây. Nhưng, đợi... đợi đã! Không, ý anh là! Dù sao, dãy số của mình cũng có ở đây rồi! Dù sao, em hiểu mà..."
Nhìn vợ, Ivan Dmitritch ngoác miệng cười, vô tri, như một đứa trẻ khi được cho xem một vật phát sáng. Vợ anh cũng cười; với cô, mới chỉ nghe anh nhắc tới dãy số và chưa cần dò tiếp số của tờ vé trúng thưởng, cô cũng cảm thấy sung sướng như anh. Dày vò và trêu ngươi ai đó bằng hy vọng về một gia tài thật ngọt ngào, thật hồi hộp!
"Đó là dãy số của chúng ta," Ivan Dmitritch nói, sau một hồi im lặng dài. "Vậy là có khả năng chúng ta đã trúng. Nó chỉ là một khả năng, nhưng rất có thể!"
"Thế, giờ xem đi!"
"Đợi một chút. Chúng ta có vô số thời gian để thất vọng. Nó ở trên dòng thứ hai từ trên xuống, vì vậy giải thưởng là bảy mươi lăm nghìn. Đó không phải tiền, mà là sức mạnh, là vốn! Và chỉ trong một phút nữa, anh sẽ xem kết quả, và 26! Mà…? Xem nào, nếu chúng ta thực sự trúng thì sao?"
Hai vợ chồng bắt đầu cười và nhìn chằm chằm vào nhau trong im lặng. Khả năng trúng số khiến họ bối rối; họ không thể nói cũng không thể mơ mộng được cả hai sẽ dùng bảy mươi lăm nghìn đó để làm gì, họ sẽ mua gì, đi đâu. Họ chỉ nghĩ đến các con số 9499 và 75.000 và hình dung chúng trong tưởng tượng, trong khi đó họ lại không thể nghĩ gì đến sự hạnh phúc mà tự nó vốn đã có thể có.
Ivan Dmitritch cầm tờ báo trên tay, đi qua đi lại từ góc này sang góc khác, và chỉ đến khi bình tĩnh lại sau sự choáng ngợp ban đầu, anh mới bắt đầu mơ mộng một chút.
“Nếu chúng ta trúng số,” anh nói, “thì, sẽ là một cuộc sống mới, một sự biến đổi! Tờ vé số là của em, nhưng nếu là của anh thì trước hết, dĩ nhiên, anh sẽ chi 25.000 rúp để mua một trang trại; 10.000 rúp cho các chi phí cần thiết, nội thất mới... đi du lịch... trả nợ, v.v... 40.000 rúp còn lại, anh sẽ gửi ngân hàng và lấy lãi.”
“Đúng vậy, một trang trại, nghe hay đấy,” vợ anh nói, ngồi xuống và gác tay lên đùi.
“Một mảnh nào đó ở tỉnh Tula hoặc Oryol... Đầu tiên là, chúng ta không cần một ngôi nhà để nghỉ mát vào mùa hè, và ngoài ra, nó mang lại thêm một nguồn thu nhập.”
Và những bức tranh ùa vào trí tưởng tượng của anh, bức sau lại duyên dáng và thi vị hơn bức trước. Và trong tất cả những bức tranh ấy, anh thấy mình được ăn uống đầy đủ, thanh thản, khỏe mạnh, cảm thấy ấm áp, thậm chí hơi nóng nực! Ở đây, sau khi ăn món súp mùa hè, mát lạnh như đá, anh nằm ngửa trên bãi cát nóng bỏng ngay gần một dòng suối hoặc trong vườn dưới gốc một cây chanh... Trời khá nóng... Cậu con trai và con gái nhỏ đang bò xung quanh chỗ anh, đào cát hoặc bắt bọ rùa trên cỏ. Anh thiu thiu ngủ một cách ngọt ngào, không nghĩ ngợi gì, và hoàn toàn thấy không cần phải tới chỗ làm hôm nay, ngày mai, hay ngày kia. Hoặc, nằm chán, anh đi ra đồng cỏ khô, hoặc vào rừng hái nấm, hoặc xem nông dân đánh cá bằng lưới. Khi mặt trời lặn, anh mang theo một chiếc khăn tắm và miếng xà phòng, thong thả đi vào khu tắm, từ từ cởi đồ, chậm rãi xoa ngực trần bằng bàn tay, và bước xuống nước. Và ở bên dưới mặt nước, gần những vòng tròn bong bóng xà phòng mờ ảo, những con cá nhỏ đang bơi lội tung tăng và những cây rong biển xanh thì gật gà gật gù. Sau khi tắm, có trà với kem và bánh mì cuộn sữa... Buổi tối, anh sẽ đi dạo hoặc uống rượu vang với hàng xóm.
“Đúng vậy, mua một trang trại sẽ rất tuyệt,” vợ anh nói, cũng đang mơ mộng, và trên khuôn mặt thể hiện rõ cô đang phê pha bởi những suy nghĩ của mình.
Ivan Dmitritch hình dung mùa thu với những cơn mưa, những buổi chiều lạnh giá và mùa hè Thánh Martin. Vào mùa này, anh phải đi bộ lâu hơn quanh vườn và ven sông để cảm nhận cái lạnh thấu xương, sau đó uống một ly rượu vodka lớn và ăn một miếng nấm muối hoặc dưa chuột muối, rồi… lại uống thêm một ly nữa… Lũ trẻ sẽ chạy từ vườn rau đến, mang theo một củ cà rốt và một củ cải ngập mùi đất tươi… Và sau đó, anh sẽ nằm dài trên ghế sofa, thong thả lật giở các trang của một tạp chí nhiều hình ảnh, hoặc, úp nó lên mặt và cởi nút áo gi-le, chìm vào giấc ngủ.
Sau đó là mùa hè Thánh Martin với thời tiết u ám, ảm đạm. Trời mưa cả ngày lẫn đêm, những cành cây trơ trụi rỉ nước, gió ẩm và lạnh. Chó, ngựa, gà - tất cả đều ướt nhẹp, uể oải, ủ rũ. Chẳng có chỗ nào để đi dạo; chẳng ai có thể đi chơi vài ngày cùng nhau; mọi người chỉ có thể đi lại trong phòng rồi nhìn ra ngoài cửa sổ xám xịt một cách buồn chán. Thật u ám!
Ivan Dmitritch dừng lại và nhìn vợ.
“Anh sẽ đi nước ngoài, Masha,” anh nói.
Và anh bắt đầu nghĩ sẽ tuyệt vời biết bao nếu vào cuối thu, được đi nước ngoài, đến một nơi nào đó ở miền Nam nước Pháp... Ý... Ấn Độ!
“Chắc chắn em cũng sẽ đi nước ngoài,” vợ anh nói. “Nhưng hãy xem số vé!”
“Đợi đã, đợi đã!...”
Anh ta đi lại trong phòng và tiếp tục suy nghĩ. Anh chợt nghĩ: nếu vợ anh thực sự đi nước ngoài thì sao? Đi du lịch một mình hoặc đi cùng với những người phụ nữ phóng khoáng, vô tư sống cho hiện tại sẽ thú vị hơn, chứ không phải kiểu người suốt chuyến đi chỉ nghĩ và nói về con cái, thở dài và sốt ruột vì lo lắng từng xu. Ivan Dmitritch hình dung vợ mình trên tàu hỏa với vô số gói đồ, giỏ xách và túi; cô ấy thở dài vì điều gì đó, phàn nàn rằng tàu hỏa khiến cô đau đầu, rằng cô đã tiêu quá nhiều tiền... Tại các ga tàu, anh sẽ liên tục phải chạy đi lấy nước nóng, bánh mì và bơ... Cô ấy sẽ không ăn tối vì nó quá đắt...
“Cô sẽ tính toán từng xu với anh,” anh nghĩ, liếc nhìn vợ. “Vé số là của cô ấy, không phải của mình! Hơn nữa, việc gì cô ấy phải đi nước ngoài? Cô ấy muốn gì ở đó? Cô ấy sẽ nhốt mình trong khách sạn, và không cho mình rời khỏi tầm mắt cô ấy... Mình biết rồi!”
Và lần đầu tiên trong đời, anh nhận ra vợ mình đã già và nhợt nhạt, người cô ấy còn đẫm mùi nấu nướng, trong khi anh vẫn trẻ trung, tươi mới và khỏe mạnh, và hoàn toàn có thể kết hôn lần nữa.
“Tất nhiên, tất cả những điều đó đều là ngớ ngẩn,” anh nghĩ; “nhưng... tại sao cô ấy phải đi nước ngoài? Cô ấy sẽ làm gì ở đó? Thế nhưng, cô ấy chắc chắn sẽ đi... Mình có thể hình dung... Thực tế thì đối với cô ấy, việc đó chẳng khác gì Naples hay Klin. Cô ấy sẽ chỉ cản đường mình. Mình sẽ phụ thuộc vào cô ấy. Mình có thể hình dung, một người phụ nữ bình thường sẽ khóa chặt tiền ngay khi nhận được nó... Cô ấy sẽ lo cho họ hàng và tính toán từng xu với mình.”
Ivan Dmitritch nghĩ đến những người họ hàng của vợ. Tất cả những anh chị em, dì dượng nghèo khổ đó sẽ lũ lượt kéo đến ngay khi hay tin về chiếc vé số trúng thưởng, họ bắt đầu rên rỉ như những kẻ ăn xin, và nịnh bợ bằng những nụ cười giả tạo, đầy dầu mỡ. Kiểu người đáng ghét, đáng khinh! Nếu họ được cho thứ gì, họ sẽ đòi thêm; còn nếu bị từ chối, họ sẽ nguyền rủa, vu khống và mong mọi điều bất hạnh sẽ giáng xuống vợ chồng anh.
Ivan Dmitritch nhớ lại những người họ hàng của mình, và khuôn mặt của họ, mà trước đây anh đã nhìn một cách vô tư, giờ đây lại hiện lên trong anh với vẻ ghê tởm và đáng ghét.
"Họ đúng là những loài bò sát!" anh nghĩ.
Và khuôn mặt của vợ anh cũng hiện lên trong anh với vẻ ghê tởm, đáng ghét. Cơn giận dữ với vợ dâng lên trong lòng anh, và anh ta nghĩ xấu về vợ:
"Cô ta chẳng biết gì về tiền bạc, nên mới keo kiệt. Nếu cô ta trúng thì sẽ chỉ đưa cho mình một trăm rúp, rồi cất phần còn lại đi và giấu kỹ."
Anh nhìn vợ mình, không còn mỉm cười nữa mà là hằn học. Cô cũng liếc nhìn anh, cũng hằn học và giận dữ. Cô có những giấc mơ riêng, những kế hoạch riêng, những suy nghĩ riêng; cô hiểu rõ những giấc mơ của chồng mình. Cô biết ai sẽ là người đầu tiên cố lấy tiền trúng số của mình.
"Thật sung sướng khi mơ mộng dựa vào tiền của người khác!" - ánh mắt cô thể hiện như vậy. "Không, đừng có hòng!"
Chồng cô hiểu ánh nhìn của vợ; lòng anh lại dấy lên sự thù hận, và để chọc tức vợ, anh liếc nhanh xuống trang bốn của tờ báo, đọc to lên một cách đắc thắng:
"Dãy 9499, số 46! Không phải 26!"
Cả thù hận và hy vọng đều tan biến, và ngay lập tức đối với Ivan Dmitritch và vợ anh, căn phòng của họ trở nên tối tăm, chật chội và thấp chủm; bữa tối họ vừa ăn không khiến họ no bụng mà còn nặng trĩu trong dạ dày; buổi tối thật dài và mệt mỏi…
"Chết tiệt thế này là sao?" Ivan Dmitritch nói và bắt đầu gắt gỏng. "Chỗ nào cũng thấy giấy vụn dưới chân, vụn bánh mỳ, vỏ hạt. Nhà thì chẳng bao giờ quét! Phải đi ra ngoài thôi. Quỷ tha ma bắt tôi rồi! Tôi sẽ đi và treo cổ mình lên cây dương đầu tiên trên đường!"
Đan Ngọc dịch
Stephen Crane (1871 – 1900) là một tiểu thuyết gia, nhà thơ và nhà văn viết truyện ngắn người Mỹ. Ông được coi là một trong những nhà văn tiêu biểu của trường phái hiện thực Mỹ, các tác phẩm của ông được ghi nhận là đánh dấu sự khởi đầu của Chủ nghĩa Tự nhiên (Naturalism) hiện đại Mỹ. Ông nổi tiếng nhất với các tiểu thuyết "Maggie: A Girl of the Streets" (Maggie: Cô gái đường phố) (1893) và "The Red Badge of Courage" (Huy hiệu Đỏ của Lòng Dũng Cảm) (1895) cùng các truyện ngắn như The Open Boat, (Chiếc Thuyền Biển Mở), The Bride Comes to Yellow Sky (Cô Dâu đến thị trấn Yellow Sky và The Blue Hotel (Khách sạn Xanh).
Sinh ra tại Newark, New Jersey, Crane là con út trong gia đình 14 người con. Đam mê viết lách của ông được truyền cảm hứng từ chính gia đình: cha ông, một mục sư Methodist, và mẹ ông, một phụ nữ mộ đạo quan tâm đến các vấn đề xã hội, đều là những người viết các bài báo tôn giáo, và hai trong số những người anh em của ông là phóng viên báo chí.
Những năm cuối đời của Crane đầy hỗn loạn và bi kịch. Sự khác biệt và lòng trắc ẩn của ông đối với những người khốn khổ đã khơi dậy những tin đồn độc địa và những lời vu khống ông nghiện ma túy và thờ Satan khiến nhà văn khó tính này phẫn nộ. Danh tiếng của ông với tư cách là một nhà văn chiến tranh, mong muốn kiểm chứng những phỏng đoán của mình về tâm lý chiến đấu, cùng sự đam mê tìm hiểu về cái chết và nguy hiểm đã đưa ông đến Hy Lạp, sau đó là Cuba với vai trò phóng viên chiến tranh. Bí mật thành công của Crane với vai trò phóng viên chiến tranh, nhà báo, tiểu thuyết gia, nhà văn truyện ngắn và nhà thơ nằm ở khả năng tạo ra những căng thẳng giữa các yếu tố đối lập: giễu nhại và thương cảm, ảo tưởng và thực tế, hay niềm hy vọng mâu thuẫn với tuyệt vọng. Crane là một nhà văn tài ba và bậc thầy trong việc sử dụng những hiệu ứng đối nghịch này.
BỐN GÃ ĐÀN ÔNG TRONG HANG ĐỘNG - Stephen Crane
Đan Ngọc dịch
Trăng treo mình tạm nghỉ trên một ngọn thông cao vút phía đỉnh đồi. Ngay trước đống lửa trại, một người đàn ông nhỏ bé đang thao thao bất tuyệt trước những người trong đoàn. Cuối bài phát biểu, anh ta kết luận: Hãy thử điều tra thứ này, khi trở về thành phố, biết đâu chúng ta sẽ có một câu chuyện tuyệt vời để kể.
Những người khác hoàn toàn bị thuyết phục. Anh ta quyết tâm khám phá cái hang bởi nó cứ há hốc chiếc miệng đen ngòm về phía anh ta. Bốn người đàn ông mỗi người cầm theo một cây đuốc thông rực lửa, leo qua những tảng đá lớn để xuống đồi. Trong một bụi cây trên sườn núi có một lỗ nhỏ nằm nghiêng. Họ dừng lại bên cạnh nó.
Giờ thì thế nào? Người đàn ông nhỏ bé lên tiếng. Cả đám nhao nhao tranh giành vị trí đi cuối và người đàn ông nhỏ bé bị dồn vào thế. Dù cố hét lên từ phía dưới giải thích rằng nếu gã to béo kia đi ngay phía sau, anh ta sẽ bị nút lại, cuối cùng, việc duy nhất anh ta có thể làm chỉ là ngoái đầu qua vai buông một lời chửi rủa rồi bò vào cái lỗ. Những người còn lại dè chừng theo sau. Một lối đi nhỏ, nền đất bùn ẩm ướt với những viên sỏi, những bức tường rêu nhầy nhụa, trơn và dốc xuống. Bên trong hang, những ngọn đuốc trở thành vật trung gian giữa ngọn lửa đỏ và khói đen.
- Này! Gã đàn ông nhỏ bé kêu lên, người cảm thấy khó thở và không thoải mái, quay lại thôi. Những người còn lại không ai có can đảm quay đầu. Họ đang là người đi cuối. Gã to béo ngay phía sau đẩy anh ta đi tiếp, anh ta chửi thề và thận trọng tiếp tục bò. Những thứ lủng lẳng trên trần hang ẩm ướt, gồ ghề như chực chờ rơi xuống ngay những chiếc cổ trần trụi của mấy gã đàn ông. Dưới tay họ, nền đất ẩm ướt như một sinh vật sống đang ngọ nguậy. Khi gã đàn ông nhỏ bé cố đứng thẳng lên, trần hang lại ép anh ta xuống. Những nút tròn và đầu nhọn nhô ra, đâm vào anh ta. Trong tình trạng quần áo ướt đẫm, lấm bùn, mắt bị khói che phủ, anh ta cố gắng xuyên qua bóng tối dày đặc luôn ngự trị đằng trước ngọn đuốc.
- Mọi người, hãy quay lại thôi, anh ta kêu lên. Vừa đúng lúc đó, anh ta nhìn thấy một ánh sáng le lói run rẩy trong bóng tối mờ ảo trước mặt.
- Ha! Ở đây có một lối ra khác. Anh ta nói.
Lối đi bị cua đột ngột. Anh ta đưa một tay sờ soạng quanh góc cua, tuy không thấy gì nhưng lại phát hiện ra lối dẫn nhỏ đó bất ngờ dốc xuống một ngọn đồi. Từ phía dưới hắt lên một tia sáng màu vàng. Anh ta vặn mình một cách đau đớn, quay chân xuống trước. Những người khác làm theo.Tất cả đều thận trọng. Những hòn đá như những kẻ phản bội lăn ra khỏi chân anh ta và gầm lên như sấm bên dưới, những viên đá nhỏ hơn thì bị những gã phía trên đạp vào làm cho lung lay và rơi xuống trúng lưng anh ta. Kiếm được một chỗ kê chân vững chắc, anh ta quay nửa người lại, chửi thề inh ỏi vào những gã đồng hành vì sự vụng về và bất cẩn. Gã to béo ngồi trên cao phía sau đoàn, thở hổn hển, mồ hôi đầm đìa. Khí độc và khói từ bốn ngọn đuốc thông đã ngấm vào máu hắn. Những vụn than hồng cùng những tia lửa bắn tới tấp vào mắt và tóc hắn. Sự dừng lại của anh ta khiến hắn tức giận.
- Đi tiếp đi, thằng ngu! Hắn hét lên. - Đồ yếu đuối, mày đang sợ chứ gì.
- Ha! Anh ta đáp lại. - Xuống đây và tự mà đi tiếp, đồ ngu!
Gã to béo run người lên vì tức giận. Hắn cúi xuống. Thằng ngớ ngẩn - Đột nhiên, hắn bị giật ngửa do một chân bị văng ra ngoài, rồi va vào người phía trước và phía dưới. Rõ ràng, gây lộn trên một đoạn dốc trơn trượt không mang lại điều gì tốt đẹp, nhất là khi không biết thứ gì đang đợi ở bên dưới. Gã to béo, do mất đi chỗ bám một bên chân, liền lảo đảo lao về phía trước. Người hắn đập vào gã kế bên, khiến người này húc tiếp vào người đằng sau nữa. Cuối cùng, tất cả cùng ngã nhào vào người đàn ông nhỏ bé đang không ngừng chửi rủa.
Họ cuộn thành một khối, trượt dài trên nền đất trơn trượt và nhớp nháp của lối đi. Hang đá hẳn phải rung lắc dữ dội bởi cú lao ình ình của một tảng người xoắn lại với nhau kèm theo những tiếng hét thất thanh. Ngọn đuốc tắt phụt bởi những cú tấn công dồn dập vào gã đàn ông nhỏ bé. Những nhà thám hiểm bị cuốn đi trong bóng tối mịt mù không biết điều gì đang chờ đợi phía trước. Gã đàn ông nhỏ bé tưởng mình đang lao xuống địa ngục, nhưng ngay cả trong cơn vật lộn, anh ta vẫn cắn xé và cào cấu những gã còn lại vì cho rằng đây là lỗi của họ. Cả đám người cuộn xoáy rơi tự do khoảng hơn sáu mét, rồi đáp xuống một mặt phẳng khô ráo dưới ánh sáng vàng rực của những ngọn nến. Đám người tách ra và nhìn nhau.
Bốn người đàn ông nằm vật ra thành một đống trên sàn một phòng họp màu xám. Một ngọn lửa nhỏ âm ỉ cháy ở góc phòng, khói bay lên và biến mất qua một vết nứt trên tường. Một góc khác là chiếc giường được lót bằng những cành linh sam đã phai màu cùng hai tấm chăn. Đồ dùng nấu ăn và quần áo vương vãi xung quanh, có thêm vài cái hộp và một thùng rượu. Cả bốn gã chẳng mấy quan tâm đến những thứ đó. Gã to béo không chửi người đàn ông nhỏ bé và người đàn ông nhỏ bé cũng không chửi thề vu vơ nữa. Những đôi mắt mở to nhìn chằm chằm vào chính giữa căn phòng bằng đá. Giữa căn phòng đặt một phiến đá xám khổng lồ, được đẽo vuông vức như một bàn thờ. Bên trên có ba ngọn nến được thắp trong những chiếc cốc thiếc treo lủng lẳng từ trần xuống. Trước bàn thờ, một người đàn ông đang đứng, những ngón tay vàng vọt kẹp chặt hình như một bộ sách nhỏ. Ông ta trông vô cùng xanh xao trong chiếc áo sơ mi kẻ ca-rô màu nâu thường thấy của những người nông dân hoặc những gã chăn bò. Phần còn lại của trang phục là một đôi ủng cao cổ. Một bộ râu màu xám, dài từ cằm xuống. Ông ta nhìn những gã đàn ông chằm chằm bằng đôi mắt rực lửa sáng quắc, người bất động. Như bị thôi miên, lưỡi xẻ ra làm đôi, máu lạnh ngắt, họ đứng dậy. Ánh nhìn sắc lẹm của vị ẩn sĩ lướt chậm rãi qua từng người và dừng lại ở khuôn mặt của gã đàn ông nhỏ bé. Cái nhìn như thiêu đốt. Anh ta co rúm lại và gập người xuống như chiếc lá khô nằm dưới tấm kính. Cuối cùng, vị ẩn sĩ hằn giọng, nói chậm rãi. Đó thực sự là giọng nói của một cái hang, lạnh lẽo, trang nghiêm và ẩm ướt.
- Đến lượt anh đặt cược, ông ta nói.
- Sao cơ? Anh ta hỏi.
Vị ẩn sĩ nghiêng bộ râu của ông ta và cười một điệu cười như tiếng la hét của ma cà rồng trong dông bão hoặc tiếng lạch cạch của những viên sỏi trong hộp thiếc. Thịt của những vị khách như sắp róc ra khỏi xương. Họ bám chặt lấy nhau và liếc nhìn qua bả vai của nhau đầy sợ hãi. Họ thì thầm.
“Một con ma cà rồng!” một người kêu lên.
“Một con quỷ!” người khác nói.
“Một thầy phù thuỷ trước lễ tế thần,” người thứ ba thì thầm.
“Bóng ma của một pháp sư Aztec,” người đàn ông nhỏ bé lên tiếng.
Khi họ nhìn, khuôn mặt bí ẩn đó biến sắc. Da mặt ông ta nhợt nhạt làm nền cho đôi mắt rực lên, trông như những nốt mụn nhọt bị sưng đỏ, chừng muốn thiêu rọi người đàn ông nhỏ bé. Ông ta gằn giọng thành tiếng hú dữ tợn. "Đến lượt anh đặt cược!" Với động tác nhanh như một con báo, ông ta rút ra con dao dài, mỏng và tiến tới, khom người. Hai con chó săn trông như xác chết xuất hiện từ hư không, cau có gầm gừ, hung hăng chồm vào chân người đàn ông nhỏ bé. Những người còn lại rung bần bật đẩy hắn về phía trước. Hắn lẩy bẩy cho tay vào túi.
- Bao nhiêu? Hắn nói rồi liếc nhìn lưỡi dao sáng bóng với ánh mắt run rẩy.
Những nốt mụn nhọt mờ dần.
- Ba đô la, vị ẩn sĩ nói, giọng trầm vang vọng khắp các bức tường và lối đi, như đánh thức những linh hồn đã chết từ lâu bằng giọng nói. Gã đàn ông nhỏ bé run rẩy lấy ra một cuộn tiền trong một cái túi và đặt ba tờ một đô lên tảng đá giống như bàn thờ. Lão ẩn sĩ nhìn bộ sách nhỏ trong tay mình với ánh mắt tôn kính. Đó là một bộ bài.
Dưới ánh sáng của ba ngọn nến lắc lư, trên phiến đá giống như bàn thờ, lão ẩn sĩ với bộ râu xám và người đàn ông nhỏ bé trông thật khốn khổ cùng chơi bài poker. Ba gã còn lại co rúm ở một góc, nhìn trân trân bằng những cặp mắt hoảng sợ. Trước mặt họ, hai con chó xác sống đang liếm láp đôi môi đỏ của chúng. Nến cháy gần hết, bắt đầu chập chờn. Ngọn lửa ở góc phòng đã tắt lịm. Cuối cùng, ván bài đi đến hồi kết, người đàn ông nhỏ bé đặt bài xuống và run rẩy nói:
- Lần này tôi không theo cược được nữa, thưa ông. Tôi hết sạch tiền rồi.
- Cái gì? Lão ẩn sĩ gào lên. - Không cược! Kẻ phản bội hèn hạ! Chó chết! Ta có bốn con hậu, đồ khốn! Giọng ông ta trở nên hùng hổ đến mức không thể lọt qua cổ họng. Ông ta nghẹn ngào vật lộn với lá phổi của chính mình trong giây lát. Rồi dồn sức mạnh của toàn thân vào một từ: Xéo!
Người ông ta rung lên, giơ ngón tay vàng khè chỉ vào một vết nứt lớn trên tảng đá. Người đàn ông nhỏ bé rú lên và lao về phía nó. Những gã còn lại mới trước đó còn đông cứng như đá chợt cảm thấy máu trong người đang lưu thông trở lại. Với những bước nhảy lớn, họ lao theo sau người đàn ông nhỏ bé. Sau một phút vật lộn, ngã nhào và đẩy nhau, họ đã ra đến nơi có không khí thoáng đãng. Họ hộc tốc leo lên trại của mình bằng những cú bật liên tiếp.
Bầu trời phía đông vàng rực một màu. Còn phía tây, bước đi của màn đêm in hằn trên những thân cây thông. Ngồi trước đống lửa trại đã được nhóm lại của họ là John Willerkins, người hướng dẫn.
- Xin chào! Anh ta hét lên khi họ đến gần. - Các anh đã sẵn sàng đi săn hươu chưa?
Không một tiếng trả lời, họ dừng lại, thì thầm bàn bạc với nhau. Cuối cùng, gã to béo tiến lên.
- John, hắn hỏi, anh có biết điều gì lạ thường trong cái hang ở dưới không?
- Có chứ, Willerkins nói ngay lập tức, Tom Gardner.
- Cái gì? Gã to béo hỏi.
- Tom Gardner.
- Thế nào?
- À thì, Willerkins nói chậm rãi, miệng rít từng hơi thuốc, ra vẻ nghiêm trọng, Tom Gardner từng là một người đàn ông gia đình, sống ở vùng đất này trong một trang trại nhỏ. Anh ta thường xuyên lên thành phố. Một lần, anh ta đã đặt cược ở một trong những sòng bạc và rất nhanh sau đó bị tán gia bại sản. Cuối cùng, anh ta trở về nhà, thông báo với gia đình rằng mình đã bán hết trang trại và tất cả những gì mình có trên đời. Không lâu sau, vợ anh ta qua đời. Tom phát điên, và sau đó...
Lời kể bị cắt ngang bởi người đàn ông nhỏ bé, giờ đây như bị quỷ ám. Tôi sẽ không quan tâm đến tên cướp biển da đỏ, râu xám, già nua đáng ghét đó nếu hắn để lại cho tôi một số tiền đủ để tôi về nhà, hắn hét lên phẫn nộ. Gã to béo nhìn người đàn ông nhỏ bé một cách bình tĩnh và đầy mỉa mai.
- Ồ, thế thì, hắn nói, chúng ta có thể kể một câu chuyện tuyệt vời khi quay về thành phố sau khi điều tra thứ này.
- Quỷ tha ma bắt, người đàn ông nhỏ bé đáp.
Đan Ngọc dịch
CÁCH NHẬP COMMENT TRÊN HƯƠNG QUÊ NHÀ
Đầu tiên, nhấp chuột vào ô Nhập nhận xét của bạn rồi viết comment. Viết xong, nhấp chuột vào ô Tài khoản Google. Sau đó nhấp chuột vào Tên/URL thì sẽ hiện ra 2 ô. Ô phía trên, ghi Họ và tên của bạn. Ô phía dưới, ghi dòng chữ:huongquenha.com
Cuối cùng, nhấp chuột vào ô Tiếp tục và nhấp chuột tiếp vào ô Xuất bản là xong. (Nếu bạn đã có sẵn Tài khoản Google, thì sau khi viết comment, chỉ cần nhấp chuột vào ô Xuất bản là thành công)