Home » Nguyễn Phin
Tác phẩm “Bel Ami” của nhà văn Pháp Guy de Maupassant, dịch giả Vĩnh Minh – Đức Hiếu dịch là “Anh bạn điển trai”, dịch giả Thanh Thiên là “Người tình hào hoa”.
Là tiểu thuyết thứ hai của Maupassant, lấy bối cảnh thủ đô Paris nước Pháp vào thời ông sống - những năm cuối thế kỉ 19.
Cuốn tiểu thuyết xoay quanh Georges Duroy, một cựu binh trẻ tuổi, điển trai với chòm ria mép cong thời thượng, và hành trình leo lên quyền lực và danh vọng của anh ta, thông qua những mối tình với những người phụ nữ giàu sang, có địa vị xã hội.
*
Nếu xã hội không tạo điều kiện thì…
Đọc “Người tình hào hoa” tôi cảm nhận và học hỏi, rút kinh nghiệm ở các nhân vật Georges Duroy hào hoa, ranh mãnh và đầy thủ đoạn; nhân vật Clotilde de Marelle ngây thơ và mù quáng; và phu nhân Madeleine Forestier đáng thương, luôn cam chịu và lúc nào cũng khao khát được yêu thương.
Dưới mắt tôi, "Anh bạn điển trai" Georges Duroy chỉ là một nhà báo dùng mọi thủ đoạn để leo lên bậc thang phú quý, nhất là chuyên lợi dụng các phụ nữ nhẹ dạ. Mánh khóe là thứ hữu ích để đổi lấy tiền bạc và quyền lực. Một gương mặt điển trai đôi khi lại được việc hơn cái đầu thông minh.
Đó là một kẻ hãnh tiến, là người sinh ra đã mang bản chất lười biếng nhưng lại muốn sống cuộc sống xa hoa. Con đường tham vọng của anh ta, cũng là sự tha hóa của những nhân cách trước sự giàu có và quyền lực.
Tôi đã bị cuốn vào hành trình ấy để rồi nhận ra anh chàng điển trai của mình từ đầu truyện đã thiên biến vạn hoá, người hùng bỗng nhiên trở thành kẻ ác, cái đẹp bỗng nhiên bao chứa cái mục ruỗng và dường như chẳng có gì gọi là đẹp trong cái đô thị Paris nhầy nhụa.
Tất cả những điều ấy được Maupassant trình bày bằng một giọng phớt tỉnh, chừng như ông chẳng có ý kiến gì hết cả, “vì đời là như thế”.
Thậm chí câu chuyện khép lại bằng một đám cưới, một bước tiến, một bậc thang nữa của kẻ hào hoa kia, không ai phải trả giá, cũng chẳng có cái gọi là “báo ứng”.
Phát biểu của tôi, nếu xã hội không tạo cơ hội thì họ cũng không thể làm được những việc xấu xa đó,
*
Mở mắt cho tôi cái nhìn về nhà báo
Gói gọn trong một tác phẩm Maupasant tập trung thể hiện thái độ về những con người đang hành nghề báo chí và tờ Đời sống Pháp.
Có thể nói chân dung người làm báo hiện lên trong tác phẩm này rõ rệt hơn bao giờ hết, đông đảo mỗi người một dáng vẻ, một tính cách; nhưng họ đều chung một bản chất là sự suy đồi về đạo đức của những kẻ bất tài.
Những nhân vật mà Guy De Maupassant xây dựng không ai là không tôn trọng đồng tiền, nên cái đau mà ông muốn nói không phải là cái đau của De Vante-Tổng biên tập mà chính là cái đau của xã hội đương thời, một xã hội có những nhà báo như thế, những tổng biên tập như thế, những thượng nghị viện như thế thì thật là đau đớn cho xã hội.
Tờ Đời sống Pháp không phải là nơi để nói về đời sống của người Pháp mà đó là nơi để những con người đó kiếm tiền, ăn chơi, thoả mãn những lạc thú cho nhau.
Ở xã hội đó không có tình yêu chân thật, ở xã hội đó không có sự giúp đỡ chân thành cho nhau và cũng không có những con người thật sự xứng đáng với địa vị mà họ mang. Họ sống để lừa bịp, lợi dụng lẫn nhau.
Từ điểm nghệ thuật của Guy De Maupassant, thế giới những người làm báo thể hiện lên đông đảo. Mỗi người một dáng vẻ, một tính cách. Được ông bóc trần một cách tài tình bản chất lưu manh của những ngài nghị sĩ, những kẻ mà trên danh nghĩa là đại diện cho tiếng nói của quảng đại quần chúng ở nghị trường.
*
N.P
Tóm tắt cốt truyện
Câu chuyện bắt đầu khi Duroy, sau ba năm phục vụ quân ngũ tại Algeria và một thời gian ngắn làm một nhân viên văn phòng đường sắt, hiện đang sống cảnh thiếu thốn, tình cờ gặp lại Forestier, một đồng đội cũ, một nhà báo có vị trí trong báo giới Paris, và được giới thiệu vào làm trong tòa báo Đời Sống Pháp.
Tại đây, Duroy bắt đầu với vai trò một người đưa tin vặt, nhưng nhờ sự giúp đỡ của Madeleine, vợ của Forestier, anh nhanh chóng leo lên những vị trí cao hơn.
Cùng thời gian này, Duroy được giới thiệu với những nhân vật lớn trong báo giới cũng như giới chính trị ở Paris trong phòng khách nhà Forestier, anh bắt đầu mối quan hệ với một người bạn của Madeleine, Clothide de Marelle, một thiếu phụ xinh đẹp.
Duroy cũng cố gắng tán tỉnh Madeleine nhưng cô đề nghị cả hai giữ mối quan hệ bạn bè.
Một thời gian sau, Forestier qua đời. Madeleine tái giá với Duroy và cả hai trở thành một cặp đôi mạnh mẽ trong báo giới và bắt đầu có những tác động vào giới chính trị gia ở Paris.
Duroy, lúc này đã là Ông Du Roy, thì vẫn luôn mặc cảm về vai trò của mình so với vợ và bắt đầu những cơn ghen tuông và sau này là thương hại đối với Forestier.
Một số người ở tòa báo cũng gọi anh là Forestier nhằm chế giễu khiến Du Roy tức giận và mối quan hệ giữa anh và vợ trở nên căng thẳng.
Du Roy tán tỉnh vợ của ông chủ mình, bà Walter và trở thành tình nhân đầu tiên của bà này. Rồi anh nhanh chóng chán bà ta và khó chịu khi không thể cắt đứt được bà.
Tới một lúc, Du Roy theo dõi vợ mình và rồi gọi cảnh sát tới bắt quả tang cô ta đang ngoại tình với một chính trị gia. Hoàn tất thủ tục li hôn, Du Roy kết hôn với Suzanne Walter, con gái của ông chủ và tình nhân cũ.
Lễ cưới được tổ chức linh đình với sự có mặt của nhiều nhân vật lớn, là một sự kiện đình đám tại Paris lúc bấy giờ.
Tiểu thuyết “Kim Các tự” của nhà văn Nhật Bản Mishima Yukio xuất hiện trong nhà tôi năm lâu lắm, một thủa xa xưa yêu dấu, hồi đó tôi còn quá trẻ để đọc loại sách như vậy. Nhưng tháng năm trôi qua, câu chuyện ngôi chùa lịch sử bị hỏa hoạn loáng thoáng cũng đã mê hoặc tôi.
Hôm nay vào thư viện Khoa học tổng hợp thành phố tình cờ nhìn thấy “Kim Các tự” trên giá sách, tôi thấy nó gắn một chút kỷ niệm nên tìm đọc. Tôi thật sự không hiểu được nhiều chiều sâu của tác phẩm, chỉ thấy sau khi đọc xong thấy khoái một điều là truyện dường như nói thay ý nghĩ của tôi - là lời của nhà phê bình văn học chứ không phải của tôi:
“Sự hiện hữu của cái đẹp trong tâm tưởng của kẻ tôn thờ còn thiêng liêng và trường tồn hơn cả sự hiện hữu vật chất của chính nó, và đó là cách mà văn hóa được gìn giữ”. Hay là một ý khác: “Đẹp là cái gì tàn bạo, dũng mãnh để đi tới chỗ tự huỷ hoại hoặc bị hủy hoại.” Vì vậy, tác giả Mishima để cho nhân vật Mizoguchi đốt Kim Các Tự có lẽ không chỉ để giải thoát cậu ta khỏi sự cầm tù của ngôi chùa, mà còn để ấn tượng đẹp đẽ nhất về nó in sâu trong tâm trí cậu, bảo vệ cậu khỏi hình ảnh mục nát của ngôi chùa sau này. Có đúng vậy chăng? Qua câu chuyện tôi lờ mờ nhận ra điều đó.
Ngày 2.7.1950, toà Kim Các Tự chìm trong biển lửa. Di sản trân quý của Kyoto đã hoá tro tàn dưới tay phóng hỏa của một tiểu tăng của chùa. Cả nước Nhật sững sờ và thương xót trước tin ngôi chùa hơn một trăm năm tuổi đã bị thiêu rụi.
Dựa trên sự kiện phóng hỏa ở Kim Các, nhà văn Mishima Yukio đã cất công thu thập tư liệu từ khắp nơi, thậm chí vào thăm hung thủ phóng hỏa trong tù để gom nhặt chất liệu cho cuốn tiểu thuyết của mình. Năm năm sau biến cố, tiểu thuyết gắn liền với tên tuổi của nhà văn Mishima ra đời. Bối cảnh của tác phẩm là năm 1950, khi Mỹ đang chiếm đóng Nhật Bản.
Mizoguchi, trong vai người kể chuyện ngôi thứ nhất, xưng tôi – chú tiểu tại Kim các tự là một thiếu niên xấu xí, mắc tật cà lăm, sinh ra và lớn lên tại một vùng quê hẻo lánh ven biển Đông Maizuru. Cậu là con trai của tăng lữ một ngôi chùa nhỏ tại miền quê ấy. Từ nhỏ cậu đã được nghe cha kể về vẻ đẹp vô song của ngôi chùa Kinkakuji ở Kyoto. Hình ảnh ngôi chùa tưởng tượng trong tâm trí cậu lớn dần và cậu đã say mê nó lúc nào không hay. Rồi cha của Mizoguchi bị ốm và khi biết mình không qua khỏi, ông dẫn cậu lên Kyoto gặp Hòa thượng trụ trì Kim các tự vốn là bạn đồng môn thời trẻ để giới thiệu và gửi gắm con trai, hi vọng dưới sự chỉ bảo của hòa thượng, Mizoguchi sẽ trở thành một vị tu hành đắc đạo trong tương lai. Nhưng chuyến đi mơ ước tới Kim các tự không làm cậu thỏa mãn. Lần đầu tiên khi nhìn thấy ngôi chùa thực sự, Mizoguchi thấy đó chỉ là một tòa kiến trúc xấu xí tầm thường soi bóng xuống mặt ao Tokyo đầy bèo tấm. Cậu nhận thấy Kim các tự trong tâm tưởng đẹp hơn nhiều so với hiện thực.
Sau khi cha mất, cậu được hòa thượng tiếp nhận như một chú tiểu, sống trong ngôi chùa Kinkakuji, Mizoguchi dần dần cảm nhận được vẻ đẹp mãnh liệt của nó.
Ngày ngày, ngoài công việc dọn dẹp trong chùa, hầu hạ hòa thượng trụ trì, nghe giảng kinh, đôi khi là các công án Thiền, Mizoguchi đã dành rất nhiều thời gian cho việc ngắm nghía ngôi chùa. Dần dần cậu bị nó ám ảnh đến mức nhìn thấy cái gì đẹp cậu cũng so sánh với Kim các tự. Sau một thời gian, cậu được hòa thượng tin yêu và cho đi học đại học. Tại trường, với bản tính cô độc, tự ti vì sự xấu xí và tật cà lăm của bản thân, nên cuối cùng cậu cũng chỉ kết bạn được với một gã thọt, xấu chơi tên là Kashiwagi.
Những kiến giải của Kashiwagi về cuộc sống, về cái Đẹp và các công án Thiền bằng một thứ triết lí tự kỉ đã gây nhiều xáo động trong tâm hồn Mizoguchi. Trở thành một thanh niên, cậu cũng dần tập chơi bời nhưng mỗi lần gần phụ nữ, cậu không bao giờ đi đến đích được bởi những khi ấy, vẻ đẹp của Kim các tự lại hiện lên, ám ảnh.
Có thể nói, Mizoguchi đã bị cầm tù trong vẻ đẹp của Kim các tự. Trong cậu đã dần manh nha ý định đốt chùa, ý định ấy ngày càng nung nấu khi những cuộc oanh kích của quân đội Hoa Kì bắt đầu xảy ra trên bầu trời Nhật Bản, khi chiến tranh Triều Tiên bùng nổ.
Và khi hàng ngày, cậu được nghe giảng kinh “Gặp Phật giết Phật!” bằng đầu óc bệnh hoạn với thứ triết lí đã bị Kashiwagi nhồi sọ của mình. Cậu lên kế hoạch thật chi tiết, chờ thời cơ thật chín muồi để thực hiện ý định. Cuối cùng ngày ấy cũng xảy ra. Nửa đêm, với một bao diêm và ba bó rơm, Mizoguchi đã bình tĩnh đốt cháy trụi một bảo vật quốc gia. Cậu cũng từ bỏ ý định cùng chết với ngôi chùa. Sau khi đốt nó, trong cậu ngập tràn một cảm giác tự do và ham sống.
Tôi có nghe đâu đó, người Nhật tin rằng, cái đẹp không tồn tại vĩnh viễn, giống như vẻ đẹp của hoa anh đào, quốc hoa của Nhật Bản, chỉ nở rực rỡ trong ba - bốn ngày rồi tàn lụi. Cũng như sự phù du của kiếp người và vẻ đẹp của những thứ liên tục đổi thay trong thế giới tự nhiên. Giống như chú tiểu Mizoguchi trong tiểu thuyết, si mê Kim Các tự đến mức muốn nó tồn tại vĩnh cửu trước nguy cơ nó sẽ bị phá huỷ bởi chiến tranh, và cả bởi thời gian. Ham muốn này đi ngược lại với quy luật hữu hạn của vạn vật. Sự ám ảnh ấy cản trở Mizoguchi sống một cuộc sống dung dị của một con người.
Tuy vậy, tiểu thuyết có kết thúc tươi sáng khi cuối cùng Mizoguchi cũng học được bài học phân biệt cái đẹp duy lý trong tâm tưởng và chọn vẻ đẹp dung dị của hiện thực. Chú tiểu Mizoguchi đã nhận ra lòng ham sống của bản thân và chú đã có thể sống tốt hơn sau khi đốt chùa.
Tôi không đủ sức để phát biểu, tôi chỉ ghi lại ý của nhà phê bình để nghiền ngẫm:
"Hành động đốt chùa trở thành biểu tượng của sự từ chối bám chấp vào cái vô thường, sự nhận biết cái giả tạm của lòng ham muốn chiếm hữu cái đẹp, và điều này cũng giống với bất cứ thứ ham muốn quá mức nào đó ở thế gian".
N.P
Tôi biết “Lolita” là một tác phẩm nặng ký, tôi đọc nó một cách rất vất vả, bỏ nửa chừng do không hứng thú. Tôi phải xem phim cùng tên để lấy cảm hứng, rồi đọc lại thấy hứng thú, rồi chán, rồi đọc lại, đến lần thứ tư mới xong. Dưới đây là mấy dòng thu hoạch từ tác phẩm này.
Đọc lần thứ nhất, tôi tưởng đây một câu chuyện nói về triệu chứng “ấu dâm” của người đàn ông trung niên có học thức, nhưng khi xem lại “Lolita”, tôi đã nghĩ chủ đề tác phẩm vượt ra khỏi rào cản về định kiến mà xã hội đặt sẵn.
Theo tôi “Lolita” là một hành trình của nhân vật Humbert đi xuyên qua thời gian, cố gắng vươn tay để chạm vào những ảo ảnh tuổi thanh xuân. Ở đó mọi tội ác đều có thể xảy ra khi có những đứa con ngang ngạnh, những người mẹ ích kỷ, những người đàn ông bị quỷ ám.
Sau khi đọc “Lolita”, bản thân tôi thầm ước, giá như xã hội có sự quan tâm đúng mực hơn về việc giáo dục giới trẻ và xây dựng nên hệ thống giáo dục kiện toàn để bảo vệ những thiên thần bé bỏng.
Tóm tắt câu chuyện
Tác phẩm được viết dưới góc nhìn của nhân vật Humbert Humbert – là một học giả, nhà thẩm mĩ và còn là một nhà văn lãng mạn, trạc 35 tuổi và đẹp trai.
Tuy sinh sống cùng vợ nhưng Humbert không hề có hứng thú tình dục với vợ mà luôn thầm tơ tưởng đến những cô gái 12, 13 tuổi để mong tìm lại thiên đường đã mất khi người yêu thời nhỏ của mình là Annabel đã chết vì bệnh hiểm nghèo. Sau đó, vợ Humbert bỏ theo một người đàn ông khác, và ông được mời sang Mĩ giảng dạy văn học trong một trường đại học ở New England. Tại đây ông đã bất đắc dĩ cưới bà chủ trọ Charlotte Haze để được gần gũi với con gái của bà ta tên là Dolores Haze (mà ông ta gọi là Lolita), cô bé chỉ mới 12 tuổi.
Hàng ngày ông đều ghi vào nhật ký những cảm xúc dạt dào với đứa con riêng của vợ đang ở tuổi dậy thì. Đến một ngày, vợ ông phát hiện ra bí mật khủng khiếp này và đã bị xe cán chết trong trạng thái hoang mang tột độ khi trên đường ra bưu điện gửi thư cho con gái ở trại hè. Mọi việc trở nên dễ dàng hơn khi mẹ của Lolita qua đời. Và tiếp đó là chuỗi ngày hai người chìm đắm trong men say đắm của tình yêu và dục vọng, rong ruổi khắp các nhà nghỉ trên những cung đường mà họ đi qua. Vào một ngày mưa, Lolita ra đi với toàn bộ số tiền ăn trộm từ Humbert rồi bỏ đi theo một người đàn ông khác với những hứa hẹn ảo tưởng về tương lai.
Sau đó rất lâu, Humbert đã gặp lại Lolita, nhưng giờ đây cô đã lập gia đình với một thanh niên nghèo, đang mang thai và cơ thể tàn tạ vì suy dinh dưỡng.
Tôi cảm thông những linh hồn tội nghiệp
Humbert – nhân vật chính của câu chuyện, một gã đàn ông trung niên, đã bảo vệ xong luận án Tiến sĩ, thường xuyên có bài viết được đăng tải trên các tờ báo khoa học. Ông ta thừa kế một khoản tiền kếch xù từ một người họ hàng ở Mỹ. Ông ta mắc chứng say mê các “Tiểu nữ thần”, chứng bệnh tội lỗi mà Humbert phải cố gắng đè nén hàng ngày, nhưng càng đè nén thì lại càng phồng rộp lên, nhức nhối. Đối với Lolita, Humbert là một chỗ dựa tinh thần trong quãng đời nổi loạn, bất cần nhất. Một người đàn ông luôn chấp nhận những trò nghịch ngợm, những cử chỉ xấu xa mà cô bày ra. Nhưng tệ thay, trái tim của cô không chấp nhận bị ràng buộc, tình yêu mà Humbert trao cho cô giống như một gánh nặng mà cô bé 12 tuổi không thể nào hiểu hết được. Cô muốn được phóng khoáng, muốn sở hữu nhiều thứ mới mẻ. Cả Lolita và Humbert đều là những linh hồn tội nghiệp. Họ sở hữu hoài bão về một tình yêu nồng cháy nhưng ý chí lại rẽ hai lối khác nhau. Một kẻ muốn ràng buộc người còn lại vào tình yêu ích kỉ, một người lại muốn tìm kiếm những phóng khoáng và tự do. Cái giá phải trả là những lầm lạc, khổ đau dằn vặt họ trong suốt quãng đời còn lại.
Tôi học được nhiều điều từ Lolita - tác phẩm nặng ký
Nặng ký ở vốn hiểu biết sâu rộng của tác giả về ngôn ngữ, về thi ca, về khoa học, về đạo lý. Và nó còn nặng ký ở tư tưởng: đây là một trong 10 tác phẩm văn học gây tranh cãi lớn nhất trên thế giới, bị cấm xuất bản ở nhiều nước. Vậy nên về nội dung của tác phẩm được bàn cãi rất nhiều về mặt đạo đức, thậm chí còn được cho là ghê tởm, bệnh hoạn. Nhưng những ý kiến đó vẫn không thể chối bỏ được sự khéo léo của tác phẩm về mặt văn chương.
Về mặt kĩ thuật, tác giả sử dụng ngôn ngữ khéo léo, thông minh và sự tài tình, dường như ông rất thích chơi chữ. Lối chơi chữ nhiều ngôn ngữ cùng một lúc, liên tưởng đa nghĩa, nghĩa lồng trong nghĩa bịa chữ. Và trong tác phẩm vô số kiến thức văn học, triết học và sử học núp bóng ẩn dụ để miêu tả trọn vẹn tình yêu ngang trái của gã đàn ông trung niên bệnh hoạn và “tiểu nữ thần” đầy kì lạ.
Tạm kết
“Lolita” quá dung tục để đại diện cho tình yêu, đồng thời cũng quá tinh tế để đại diện cho tình dục.
Theo cái hiểu của tôi, “Lolita” là tác phẩm thể hiện sự xung đột giữa hai giá trị: đạo đức và cái đẹp. Muốn hưởng thụ cái đẹp thì phải từ bỏ đạo đức. Muốn giữ lấy đạo đức thì phải từ biệt cái đẹp.
Bé Lolita chính là biểu tượng của cái đẹp, một cái đẹp mang tính xuất chúng, “yêu tinh”, và Humbert chính là điển hình của một con người phàm trần đáng thương, đã từ bỏ đạo đức và thiêu rụi cả tâm hồn mình để hưởng thụ cái đẹp lộng lẫy nhất đời ông - Lolita.
N.P
Nói thêm
Phải nói nhờ mấy đoạn văn như dưới đây mới kích thích tôi chịu khó đọc. Trong tác phẩm có rất nhiều đoạn khoái chí như dưới đây. Xin được trích dẫn làm ví dụ:
“Tôi ngắm gương mặt nàng trên nền trời, nó rõ nét lạ lùng, như thể đang tỏa ra vầng hào quang mờ mờ của chính nó. Đôi chân nàng, đôi chân sống động đáng yêu của nàng, chỉ khép hờ, và khi bàn tay tôi định vị được cái mà nó cố tìm, một nét mơ màng và huyền bí, nửa sung sướng, nửa đau đớn, xuất hiện trên nét mặt trẻ thơ ấy”
“Nàng ngồi cao hơn tôi một chút, và hễ khi nào, trong cơn sướng khoái đơn côi, muốn được hôn tôi, đầu nàng lại cúi xuống với một động tác ngái ngủ, mềm mại, ủ rũ, gần như thiểu não, và cặp đầu gối trần của nàng quắp lấy cổ tay tôi, riết chặt rồi lại buông lơi; miệng nàng run rẩy, méo mó vì vị đắng của liều thuốc nước thần bí nào đó, hít vào đánh xuýt một cái, ghé sát mặt tôi”
“Nàng cố làm dịu nỗi đau tình, trước tiên bằng cách miết mạnh đôi môi khô cháy của mình lên môi tôi; rồi người tôi yêu ngả người ra xa, bồn chồn hất tóc, rồi lại rầu rĩ áp lại gần, hé miệng để tôi mớm vào, trong khi ấy, với sự rộng lượng sẵn lòng tặng nàng tất cả mọi thứ, trái tim, cổ họng, gan ruột, tôi trao cho nàng giữ cây vương trượng đam mê của tôi trong bàn tay vụng về của nàng”
Tôi đọc “Vỡ mộng” của Andre Guide, cuốn tiểu thuyết chỉ 160 trang, đọc một lần vào một buổi chiều nhạt nắng, tôi chẳng nắm được tác giả muốn nói gì. Tôi lại phải đọc nó lần thứ hai, theo lời khuyên của dịch giả Bửu Ý: Đọc sách, nhất là văn chương, là còn đọc văn phong, chữ nghĩa của tác giả. Đôi khi chỉ một từ thôi cũng đã làm mình rung lên, chưa nói đến văn phong, bút pháp. Chữ nghĩa nó bồi bổ và gợi mở cho người đọc rất nhiều điều.
Lần thứ hai tôi đã tóm tắt được nội dung câu chuyện:
Lacase đang làm một luận án thạc sĩ về Bossuet, giáo sư hướng dẫn của anh đã giới thiệu anh đến lâu đài Quartfoutche, để gặp gỡ ông Floche, người được xem là chuyên gia và có rất nhiều tài liệu về Bossuet.
Cuộc sống ở lâu đài dường như rất tẻ nhạt. Và lập tức Lacase đã vấp ngay phải sự “vỡ mộng” đầu tiên khi được tiếp cận với số tài liệu quá ít ỏi so với tưởng tượng của anh. Ngay trong ngày làm việc đầu tiên, anh đã thấy không còn gì để tìm kiếm thêm. Anh tìm lý do để rời đi, nhưng ngay lúc đó, một giấc mộng thứ hai bắt đầu cuốn hút anh. Giấc mộng đầy bí hiểm, và cũng sặc mùi ái tình, mang tên nàng thiếu nữ Saint – Aureol.
Đó là người mẹ của cậu bé Casimir, một đứa trẻ ngây ngô và có phần quấn quýt với Lacase. Vì những tâm sự bất chợt của cậu bé mà anh đã dần khám phá, và thêu dệt nên một câu chuyện ái tình rất đẹp, về một người phụ nữ đã biến mất khỏi lâu đài.
Anh ôm ấp hình ảnh về nàng, mộng tưởng về những bi kịch mà nàng trải qua, và nhen nhóm tình yêu ngày một mãnh liệt trong trái tim dành cho nàng. Anh không ngừng chờ đợi, tìm kiếm nàng, để rồi anh đi đến một sự kinh ngạc, và rơi vào một cơn vỡ mộng tiếp theo.
Mộng và thực đã hòa quyện vào nhau trong tâm hồn của một thanh niên lý tưởng và đa cảm Lacase. Lâu đài Quartfoutche cổ xưa, tách biệt với cõi nhân gian rộn ràng đã đổ bóng xuống nỗi cô độc của chàng. Ở đó, tình ái viễn mơ, đam mê đã trỗi dậy và đam mê cũng đã tàn phai. Một không khí hoang phế của thời thanh xuân lồng trong truyện nhuốm màu u hoài và quyến rũ.
Truyện lồng trong truyện
Như trên đã nói, nhờ đọc lần thứ hai tôi mới nhận ra, câu chuyện được lồng ghép đan xen giữa trần thuật và tưởng tượng, là khởi nguyên của lối viết truyện lồng trong truyện. Thông qua những tưởng tượng của Lacase về chuyện tình nàng Saint – Aureol, chỉ qua vài chi tiết nhỏ mà anh thu thập được. Chỉ trong một thời điểm rất ngắn nhưng anh ta đã dựng nên một bức tranh đầy sống động về những viển vông của con người, thêu dệt nên rất nhiều bi kịch, diễm lệ và trắc trở, về tình ái, về danh vọng.
Sự thật khác xa với chuyện tiểu thuyết mà nhân vật Lacase đã viết ra, nó đem lại cảm giác tan hoang, và mất mát. Nó bao trùm xuống câu chuyện một không khí ẩm ướt, buồn thảm và đầy mất mát.
Andre Gide đã làm tôi nôn nao, rơi vào vùng tưởng tượng diễm tình như chàng trai Lacase. Tôi nhận ra ông viết chặt chẽ, vừa lan tỏa ái tình mê muội lại vừa bí ẩn. Andre Gide còn nhấn nhá nói về sự ảo tưởng của tuổi trẻ.
Cái bệnh đa sầu đa cảm của tuổi trẻ nó dễ khiến họ ảo tưởng, nhưng ảo tưởng đến mức si mê như chàng trai Lacase thì thật là ảo tưởng thú vị.
Sự si mê của anh dẫn đến lòng trắc ẩn đối với đứa trẻ khờ dại thiếu vắng tình thương của mẹ cha, sự si mê của anh cũng khiến anh nặng tình với lâu đài hoang phế, và đem lòng yêu những vụn vặt đời thường.
Nương theo sự kiện đời sống cá nhân tác giả
Đoc tiểu sử Andre Gide tôi có thể hình dung ông là nhà văn viết nhiều về bản thân, bởi tôi thấy những sự kiện trong tiểu thuyết của ông nương theo những sự kiện đời sống cá nhân của ông rất nhiều. Ngay với mối tình ôm bóng hình xa xôi để tô bồi của chàng trai Lacase trong tiểu thuyết này, cũng có nhiều xúc cảm tương đồng với mối tình của Gide và Madelenie.
Họ yêu nhau từ lúc ông còn là chú nhóc 12 tuổi, và nàng 14, chỉ là những tình cảm lãng mạn vu vơ, một thứ tình cảm được dệt bằng mộng tưởng. Cho đến khi lớn lên Gide mới hiểu mình không thể chăn gối vợ chồng, song ông vẫn cưới Madelenie, và đấy là một đời sống nhuốm màu tuyệt vọng.
Cũng vậy, cái cảm khái về văn chương chiết ra từ chính những điều tưởng như mộng tưởng ấy là điều thú vị trong suốt cuộc đời của Lacase. Dù không bày tỏ quan niệm một cách rõ ràng về văn chương, về nhà văn, nhưng ngay từ chương mở đầu Andre Gide đã để cho nhân vật của mình tự thú rằng:
“Ngày nay tôi hầu như khó lòng hiểu nổi sự nôn nóng đưa tôi lao mình vào cuộc sống hồi đó. Tuổi hăm lăm tôi như chẳng biết gì, chỉ nhờ sách vở là cùng, và chắc có lẽ bởi thế tôi ngỡ mình là nhà văn. Vì tôi vẫn không hay biết các sự việc che mắt ta một cách tai quái như thế nào khi khuất lấp cái khía cạnh đáng lẽ bắt ta quan tâm hơn, tôi không dè những sự việc ấy tỏa ra ít hấp dẫn đối với kẻ nào không biết khổ công”.
N.P
Mời bạn đến với Huế xưa, những năm 1920 của thế kỷ XX được nhà văn Pháp T. Trinby (*) miêu tả trong tác phẩm “Florette ou la rivière des parfums” (**) của bà.
Sách dày 230 trang, tôi - Nguyễn Phin đã dịch ra tiếng Việt lấy nhan đề là “Chuyện bên dòng sông Hương”.
Dưới đây là trích đoạn nói về Huế những năm xa xưa ấy. Phần này đã được đăng trên tạp chí Sông Hương, tháng ba năm 2019.
Lời người dịch:
Cuốn tiểu thuyết “Florette ou la rivière des parfums” của tác giả T. Trinby được tôi dịch sang tiếng Việt với nhan đề “Chuyện bên dòng sông Hương”.
Bối cảnh câu chuyện xảy ra ở Huế và vùng phụ cận vào thập niên 1920 của thế kỷ XX. Nhân vật chính là cô bé Pháp Florette, 13 tuổi.
Cô bé đang học tại trường nội trú ở Pháp nhưng phải tạm bỏ học để sang xứ Đông Dương, cụ thể là thành phố Huế để thăm mẹ bị ốm nặng. Cùng đi có anh trai tên Jean, 19 tuổi, đang học đại học Y khoa ở Paris.
Xoay quanh nhân vật chính là cô bé người làm của gia đình tên là Thị Năm, 15 tuổi, người bản xứ, xuất thân gốc dân tộc ít người vùng ven xứ Huế, biết tiếng Pháp.
Nhân vật này theo sát Florette trong quá trình buồn vui, xúc động, biến cải tâm hồn, suy nghĩ, ý chí của Florette.
Thông qua nhân vật chính Florette, nhà văn dẫn dắt người đọc đến với thế giới tuổi thơ qua những nghĩ suy trong trắng, ngây thơ, ngộ nghĩnh và đáng yêu.
Từ những buổi sinh hoạt ở trường nội trú đến hành trình xuyên quốc gia trên chuyến bay của hãng hàng không Air France đi từ nước này sang nước nọ để đến Sài Gòn.
Có nhiều điều mắt thấy tai nghe của thủa thập niên 1920, mà đối với thời hiện đại chúng ta hôm nay chắc có nhiều lạ lẫm mà quen thuộc.
Tác giả cũng cho thấy mình khá sành điệu và biết rõ sinh hoạt ở Huế với những dòng miêu tả sông Hương, cảnh vùng phụ cận, cảnh rừng, cảnh núi, ruộng đồng những năm 20 mới khai phá vừa gần gũi, vừa đáng yêu.
Chẳng hạn, một chi tiết cụ thể, đó là miêu tả đám rước ở làng của một vùng quê miền núi khá sinh động mà ít có tài liệu sách vở người Việt nhắc tới.
Trong truyện nổi bật tính cách một thiếu nhi Pháp yêu mến, gắn bó với sinh hoạt văn hóa, đời sống thường nhật của người Huế xưa.
Đặc biệt, tinh thần dũng cảm, hy sinh, quên thân mình vì người khác của cô bé Pháp 13 tuổi, chắc chắn sẽ động lòng nhiều bạn đọc nhỏ tuổi Việt Nam.
Đó là chương kể lại một mình Florette sống nhiều ngày trong rừng sâu để theo dõi bọn mẹ mìn bắt cóc một em bé người làng, cuối cùng đã cứu được em bé, với nhiều chi tiết hồi hộp, gay cấn.
Dưới đây là trích đoạn viết về chuyện bên dòng sông Hương những năm 1920.
*
Trích đoạn tác phẩm
Xe lăn bánh tiến vào giữa thành phố đang ngái ngủ, đêm đã khuya mà người tài xế lại không rành đất Huế. Hầu như không có người khách bộ hành để hỏi, và hết đường đi họ gặp bờ sông, có một ngôi nhà Annam lớn, kiểu dáng lạ.
Người tài xế dừng xe, anh em nó bước xuống đi vào khu vườn. Vô tình đúng ngay nhà ba mẹ chúng, ông Massenac đang đợi chờ anh em nó.
Đêm yên tĩnh, khu vườn ngập tràn ánh trăng. Florette đi vào vườn hoa, hít đầy lồng ngực mùi hương thoáng nhẹ, ngọt ngào. Một lối đi dài hai bên trồng cây thông, phía cuối là ngôi nhà mà mục đích chính anh em nó tìm đến.
Anh em sóng đôi, sải những bước dài, họ gặp một mái hiên bằng sắt uốn cong, một con chim sơn ca lớn bay về phía chúng như quen với nhau từ lâu. Họ đặt va-li ở lối đi, chạy nhanh về hướng ông Massanec.
…
Sáng hôm sau, mặt trời lên cao đã lâu Florette mới tỉnh giấc. Một cô bé Annam bước vào phòng, tiến đến gần giường, nó đặt một khay thức ăn cho buổi điểm tâm trên tủ đầu giường.
Nó cúi đầu, nói giọng nhẹ nhàng, gần như là hát:
- Xin chào em gái.
Florette ngạc nhiên, nó không nghĩ cô gái bé nhỏ này là người da vàng.
- Xin chào, tên chị là gì?
- Thị Năm.
- Chị nói được tiếng Pháp ư?
- Vâng.
- Chị bao nhiêu tuổi?
- Mười lăm.
- Chị làm gì ở đây?
- Chị đến đây làm đầy tớ cho cô chủ có “khuôn mặt xanh”.
- Cô bé đó là tôi đó sao?
- Đúng đó em gái à.
…
Một giờ sau, Florette mới bước ra khỏi phòng, hai anh em bắt đầu đi dạo, họ muốn biết rõ xứ Annam nhỏ bé, vì thế nó muốn nhìn gần, rất gần dòng sông Hương. Khu nhà tĩnh lặng, nó đi khám phá một mình, có một lối đi dẫn đến mái hiên uốn gợn sóng, bên dưới là cửa sổ được chia cách bởi các trụ cột cao phủ đầy hoa hồng đang độ nở rộ.
Trên lối đi, có những viên đá xám cũ kỹ, khu vườn tràn ngập cây xanh, một lối đi dài trồng toàn thông mà nó đã thấy đêm qua. Bên trái nhiều cây cọ, những cây huệ đỏ, bên phải cơ man nào là chuối, loại cây mà nó đã gặp trên Đường Cái Quan, lá rộng phủ màu xanh.
Bên cạnh khu trồng chuối là một loại cây khác thường, có hoa màu lửa, hàng ngàn cánh hoa mỗi cành là một búi lớn màu đỏ. Florette đi đến cuối con đường cây thông, nó nhìn thấy dòng sông thật hùng vĩ trước mặt, trước khi tham quan khu vườn, Florette muốn thăm các phần bên dưới.
Nó vào nhà, bên trái, phòng khách hôm qua nó đến, bây giờ rất khác, hôm nay nó nhìn thấy nhiều phòng lớn, nền lát gạch ca rô đen trắng, nhiều đồ vật làm rối mắt.
Một chiếc bàn gỗ có bốn chân chạm trổ rồng phượng, trong góc phòng, một chiếc giường gỗ, phủ nệm lụa có viền sặc sỡ. Cầu thang bằng gỗ tếch, trên tường, vài chiếc ngà voi, gần tường, trên chiếc bàn thấp, một chậu hoa đỏ hồng mà nó không biết tên. Ở xứ này thứ gì cũng lạ.
Nó bước ra ngoài, khu vườn ngập tràn nắng ấm, trong nhà tất cả cửa chớp đều đóng kín khiến tối om, mùi thơm lạ thoang thoảng đưa đến mũi Florette, nó hít một hơi dài, muốn gọi tên, nhưng lạ quá, có phải mùi bùn của sông hay mùi hoa hồng, mà nó ngỡ như hoa mộc lan của Pháp.
Hai người họ đang đi trên con đường vây quanh là dòng sông mà Florette chỉ mới thấy trong giấc mơ - sông Hương là con sông lớn màu bạc, hai bên bờ là những bụi cây nở hoa, nước sông xạm màu bùn lờ đờ chảy, trên đó thuyền tam bản và các phương tiện khác đang lưu thông.
…
Trước mặt Florette, con đường lớn rậm rạp cây xanh, phủ bóng mát vùng không gian rộng lớn, nhà nhà sơn màu trắng, cửa chớp đóng kín. Những vi-la là những khu đất vuông vức, có những tàng cây thấp bé sống động cùng những chậu hoa đầy màu sắc, lối đi trải sỏi thấp thoáng những bụi cây đẹp, như phong cách khu vườn Pháp, hòa lẫn nhiều loại cây hồng phấn.
Suốt dọc đại lộ, những người phu kéo xe và những xe hơi đầy rẫy, dường như phương tiện còn nhiều hơn hành khách. Có nhiều loại xe cộ đẹp có xấu có, những người phu kéo xe ai nấy hom hem.
Florette chọn một người vẻ đáng thương nhất, trông như ốm đói. Cô bé leo lên chiếc xe lạ lẫm hai bánh này, Thị Năm theo sau.
Florette thử cân ước chừng hai đứa có lẽ cũng nặng bằng một người đàn ông. Người kéo xe là một cậu bé gầy còm, nghe Thị Năm chỉ đường xong, nó còng lưng giữa hai càng xe và kéo.
…
Đại lộ có mặt đường được bảo dưỡng tốt, xe cộ bon bon và những tàng cây thẳng tắp, hè phố phủ bóng cây mát dịu. Thị Năm giải thích đi qua phố Tây có những giáo đường, bệnh viện, văn phòng của Chính phủ bảo hộ.
Một khu phố châu Âu không có gì hấp dẫn lắm đối với Florette, nó chỉ muốn khám phá thành phố châu Á. Người phu xe bắt đầu chạy nhanh hướng về phía bờ sông, trước mặt là dòng nước xanh mát.
Lúc này Florette mới nhận ra đi dạo trên xe kéo thật bất tiện, nếu không có chú bé kéo xe đáng thương cô sẽ đi dạo tự nhiên hơn. Trên một khoảng đất trống gần sông có một khu chợ họp dưới những tàng cây. Chú bé kéo xe ngừng lại, Florette yêu cầu Thị Năm trả tiền, nó không biết định giá những đồng tiền anh nó nhét vào xách cho nó là bao nhiêu, tiêu xài ra sao.
Cả hai tiến vào chợ, những bà già tụ tập dưới tàn cây me, cây xoài cổ thụ. Họ bày ra đủ kiểu các mặt hàng, đặt trong thúng có, trên mẹt có, và bày cả ngay trên đất nữa.
Trước mắt Florette cơ man nào là màu sắc, nó nghe tiếng người bán, người mua trao đổi mặc cả nói với nhau giọng chát chúa.
Thị Năm bày nó tên các loại quả, này đây là măng cụt, này đây là vải thiều, này đây chuối, xoài, cam xanh, dưa hấu… Một mảng màu mới đẹp làm sao!
Florette muốn nếm thử tất cả các loại trái cây mà nó mới thấy lần đầu, và đề nghị Thị Năm phải mua mỗi thứ một ít để hai đứa đi ra bờ sông ngồi thưởng thức.
Nó nói gì Thị Năm cũng nghe, nó không muốn từ chối “cô chủ mặt xanh” bất cứ điều gì. Mua trái cây xong, Thị Năm đưa nó thăm các quày hàng rau quả, rồi quày bán gia cầm, quày bán cá tươi.
Sau đó là đi vào dãy nhà kho bố trí giữa lối đi là các quày hàng tơ lụa, quày hàng da, hàng sơn mài, hàng trang sức. Người bán chào hàng, người mua mặc cả giọng sắc nhọn như cãi cọ. Phần lớn người bán cũng như người mua mặc đồ Annam nói với nhau bằng thổ ngữ lạ.
Người châu Âu rất ít, thường đi qua cười nói ồn ào chứ ít mua đồ. Rời khỏi đám đông, Florette dừng khá lâu trước quày hàng bán hoa, nơi trưng bày cái đẹp.
Nó muốn mua nhiều thứ hoa, nào là hoa phượng, hoa sứ, hoa dâm bụt, toàn là hoa lạ, Thị Năm bày nó tên nhưng nói là không nên mua, bởi vì những thứ đó có thể hái trong vườn nhà.
Florette muốn chọn một chỗ phù hợp ngồi đánh chén, tránh xa không khí xô bồ của khu chợ lúc nãy. Họ đã dừng lại dưới tàng cây me cổ thụ.
- Thị Năm chúng mình ngồi đây thơ mộng quá, vừa ăn vừa kể chuyện, em muốn chị kể về đất nước mình, em tò mò muốn biết câu chuyện lịch sử đẹp, em sẽ ghi nhớ trong trí não, sau đó sẽ viết lại, bởi vì em muốn trở thành nhà văn mà.
- Một nhà văn, một quý ông viết sách!
- Đúng Thị Năm à, em muốn vậy.
- Nhưng em không thể, em gái ơi, bởi vì em không phải là quý ông.
- Ở Pháp, phụ nữ cũng có thể viết văn.
Thị Năm đã bắt đầu thấy cảm phục, kính nể “đại văn hào” tương lai.
Nó nhỏ nhẹ nói với Florette:
- Vậy em sẽ viết về cái gì?
- Chị sinh ở Huế à?
- Không, làng chị ở miền núi, cũng không xa con đường đi ra phố người Âu.
- Hãy kể về ngôi làng của chị đi, em chắc là em rất thích.
Cô bé Annam nhìn kỹ Florette, nó xoa tay lên lồng ngực và mắt không rời dòng sông, bởi vì dòng nước trước mặt nó đêm nay đang chảy qua làng mà đã bốn năm nay nó chưa trở về, giờ đây làng chỉ còn trong ký ức.
- Làng tôi tên là làng Thừa, ẩn mình trong khu rừng dày, dưới chân núi, có khoảng trăm ngôi nhà, đó là một ngôi làng lớn. Nhà tuy nhỏ nhắn nhưng đẹp, tường được dựng bằng tre ngâm, người ta gọi là tường da rắn khô.
Mái lợp tranh. Ở cuối căn nhà có phòng ngủ, nơi đặt những chiếc giường phảng, thường dành cho khách. Gối cũng bằng gỗ cứng, chắc không hợp với em đâu.
Có một tủ chè bên cạnh, có lẽ cũng giống tủ nhà em, trên bàn là một khay trà, có ấm chén uống trà, một cái tráp đựng đồ trầu cau, chén đũa ăn cơm. Tôi có thể nhìn thấy tất cả đồ vật thân thương như hiện ra trước mắt tôi, như dòng nước chảy.
- Nghe chị kể mà em cũng thấy như vậy đó.
- Trên tủ chè có một tượng Phật lớn bóng lên nước đồng đen, màu của suy nghĩ những điều cao cả. Nào bây giờ đến hồ bông súng đi.
Tôi đã xa chiếc giường nằm ngủ hàng ngày bên cạnh cái hồ bông súng vươn vòi dài trên mặt nước, nhìn kìa, trắng, hồng, vàng, tía - màu của mặt trời, ban đêm chúng như thầm thì với ta như lời yêu thương.
Hãy nhìn các cây thân mềm sẽ thấy nó bị rỗng ruột do bị chim bồng chanh màu xanh - đỏ cắn, chim rời nơi ẩn nấp bay lên đậu trên bông súng như để tự tôn vinh vẻ đẹp của chúng.
“Kể gì nữa đây? Hãy nghe giọng buồn của tiếng cồng chiêng từ đâu đưa đến? Còn bây giờ quay về góc khác, hãy nhìn xa xa phía đồng bằng, này đây đồng lúa xanh, kia là những đụn cát thấp thoáng phía chân trời đỏ hồng, sau lưng nhà là núi, mọi người đi ngủ ban ngày để ban đêm thức làm việc.
Họ đi theo con đường mòn có nguy cơ hiểm họa rình rập, bởi bạn có thể gặp con báo, “ông” hổ, những tên cướp áo đen. Trong vùng tối lực lượng đó luôn rình mò, con người thì khiếp đảm, còn những con vật bé nhỏ nằm im run rẫy trước uy phong của nó.
Mau chuồn nhanh vì người thợ săn bắt đầu làm việc và những con vật hung dữ đang đói mồi. Hãy nghe tiếng hổ gầm, tiếng mèo rừng meo meo, và đoàn voi dữ hoang dã đang rầm rập tiến bước”.
“Xuống núi bạn sẽ gặp các loại cây cỏ, kỳ hoa dị thảo kể cho bạn nghe nhiều câu chuyện đẹp, kể rằng xa xưa có những người chiến binh Annam áo quần sặc sỡ dát bạc vàng, được thiết kể bởi các ông hoàng, họ ra đi cùng với voi thần đi đến các đất nước xa xôi tìm một công chúa xinh đẹp để sau này tôn vinh thành hoàng hậu.
Họ cứ đi xuyên rừng hoang, không ngại nguy cơ bị ông hổ, bà báo và những tên cướp áo đen luôn rình rập. Cuối cùng các chiến binh đã tìm thấy công chúa, nhưng hành trình quá dài, cuộc chiến đấu với hổ, báo, với những tên cướp áo đen quá cam go, họ đã bị tiêu diệt gần hết.
Họ chết không như những người thường, đem chôn trong đất, linh hồn họ đã biến thành những con đom đóm. Đó như chuyện cổ tích về con đom đóm, đêm đêm những con đom đóm đến vây quanh tỏa sáng khắp làng. Loại côn trùng bé nhỏ này có cánh mang những chùm ánh sáng.
Kia là những cây cau tôi đã kể cho em nghe, đến lúc mặt trời đi ngủ nó mới đến”.
Florette nghe với vẻ chăm chú. Ngôi làng của Thị Năm dưới chân núi, nó đã thấy, nó muốn đến đó sống vài ngày. Trong nhà, nó sẽ ăn cơm bằng đũa, đêm đến nó sẽ ở cạnh hồ bông súng nghe tiếng chim kêu và tiếng gầm rú của những con vật hung dữ, đó mới chính là quê hương nó cần khám phá.
Huế, thành phố châu Âu chẳng có gì hấp dẫn. Ông bạn vong niên của nó từng nói: Hãy học hỏi những chuyến đi, đừng bằng lòng với những gì mà người hướng dẫn thiết kế. Hãy tự tìm hiểu những điều bạn thích thì mới gọi là thú vị.
NGUYỄN PHIN (giới thiệu và dịch)
*
Chú thích
(*) T. Trilby là nhà văn nữ, quốc tịch Pháp, sinh tại Louveciennes, ngày 12/07/1875, mất tại La Rochelle, ngày 18/11/1962; tên thật: Marie Thérèse Léontine de Marnyhac.
Bà tham gia cuộc thi trên báo “Tiếng vọng Paris” và đạt giải nhất về nhiều phóng sự ký nhiều tên khác nhau. Bút danh Trilby có lẽ xuất hiện vào năm 1903 với xuất bản phẩm “Lẩn quẩn”.
Năm 1919 bà xuất bản hai tiểu thuyết “Y tá Ninette” và “Trở về” mang hơi hướng của những năm chiến tranh khốc liệt. Tính đến năm 1930 Trilby đã cho ra đời mười hai tiểu thuyết trong bộ sưu tập Stella.
Cũng thời kỳ đó bà cũng có một danh sách dài hợp tác với nhà xuất bản Flamarion, nơi bà được xem là tác giả chính. Cho đến năm 1961 đã có khoảng bốn mươi thiểu thuyết Trilby cho bộ sưu tập “Sách thiếu nhi”, do họa sĩ Manon Iessel (1909 - 1985) minh họa.
Bà được nhận giải Hàn lâm Pháp vào năm 1949.
(**) “Chuyện bên dòng sông Hương” là cuốn sách xưa, đã trên 70 năm, không còn bản quyền tác giả.
Trang thông tin về tác quyền, đầu sách có ghi: Bản quyền dịch thuật, in sao và phóng tác thuộc về tất cả các quốc gia. Bản quyền năm 1946, phần chính văn và minh họa bởi nhà xuất bản Ernest Flamarion. In tại Pháp.
Thông tin về in ấn, cuối sách có ghi: Nhà in Sévin-Dessaint, thành phố Doullens (tỉnh Somme)- Nộp lưu chiểu quý 4, năm 1946.
CÁCH NHẬP COMMENT TRÊN HƯƠNG QUÊ NHÀ
Đầu tiên, nhấp chuột vào ô Nhập nhận xét của bạn rồi viết comment. Viết xong, nhấp chuột vào ô Tài khoản Google. Sau đó nhấp chuột vào Tên/URL thì sẽ hiện ra 2 ô. Ô phía trên, ghi Họ và tên của bạn. Ô phía dưới, ghi dòng chữ:huongquenha.com
Cuối cùng, nhấp chuột vào ô Tiếp tục và nhấp chuột tiếp vào ô Xuất bản là xong. (Nếu bạn đã có sẵn Tài khoản Google, thì sau khi viết comment, chỉ cần nhấp chuột vào ô Xuất bản là thành công)