TA DẠI TA TÌM NƠI VẮNG VẺ (*) - Bút ký Nguyễn Đoan Tuyết




                         





Em nghe chăng mùa thu (**) 

Nơi miền "sơn cốc" vắng

Ly cà phê sóng sánh 

Chờ đón bạn phương xa


       Thế là tôi và một cô bạn nữa đã hẹn nhau tìm về “sơn cốc” của T.L.  một cô bạn ở xứ sở cà phê (chúng tôi đã gọi nơi ở xa cách và vắng vẻ của bạn một cách trìu mến như thế). Chỉ có hiểu nhau như thế nào người ta mới đi thăm nhau mà không ngại tuổi tác và đường xa. Chúng tôi đến nhà T.L. thuộc  huyện Krông Ana, một vùng trọng điểm cà phê của Đắk Lắk, cách thành phố Buôn Mê Thuột gần 30 km vào một buổi chiều nắng nhẹ. Có đến tận nơi này chúng tôi mới thật sự hiểu về cuộc sống của bạn mình ra sao, đúng là “trăm nghe không bằng một thấy”, và lại càng thương bạn nhiều hơn.
          Cả buổi chiều chúng tôi thơ thẩn trên con đường cà phê xanh ngát, trĩu quả, nhìn ngút mắt cũng chỉ thấy cà phê bạt ngàn,  cùng tận hưởng không khí mát mẻ, trong lành.

​

           Tối hôm ấy có thêm hai bạn nam nữa là Th. và H. vốn là cựu học sinh Pleiku trước 75, một người từ thành phố Ban Mê, một người từ Ninh Hoà- Nha Trang nghe tin người PK về đã vượt đường xa để cùng hội ngộ với chúng tôi. Tình người Pleiku có thể hiện diện bất cứ nơi đâu!
 Không chỉ thế, người dân ở đây còn để lại trong tôi một ấn tượng khó quên. Đó là sẵn lòng giúp đỡ nhau lúc “tối lửa tắt đèn”, nhà TL có cây đu đủ cao khó hái, thấy có người đi qua trước nhà, bạn tôi liền gọi vào nhờ trèo lên hái. Mỗi người của mỗi nhà đều có số điện thoại của nhau để phòng khi có bất trắc xảy ra là gọi nhau cứu giúp. T.L. đã có những người bạn tốt như thế, trong đó nhiệt tình nhất là một cháu trai tên Th- người đã chở tôi đi lại khi còn ở đây. 






          Em có nghe mùa thu (**)

          Tình thu vui rộn rã

          Chuẩn bị mồi tá lả

          Mừng gặp bạn tri âm


​
   Sau cuộc vui chén tạc chén thù là đến tiết mục văn nghệ “cây nhà lá vườn” hát cho nhau nghe. Tiếng hát như phá tan không gian yên vắng thường ngày và kéo dài đến tận khuya, có lẽ không làm phiền ai vì  tôi nghe cũng có tiếng hát vọng lại từ nhà ai đó trong xóm.

​
        
        Sáng hôm sau, H. có việc phải về Ninh Hoà (còn Th. đã về Ban Mê trả phép cho bà xã từ đêm qua) những người còn lại đi tham quan thác Dray Nur – một cảnh đẹp nổi tiếng của Daklak. Nếu thác Phú Cường của Gia Lai hùng vĩ về độ cao đến chóng mặt và thường có câu vồng xuất hiện thì thác Dray Nur lại như một bức tường nước trải dài thật ngoạn mục . Tiếc rằng do các công trình thuỷ điện nên đã làm giảm đi vẻ đẹp kỳ thú của dòng thác này.

Tác giả bài viết là người ngồi thứ 2 từ trái sang







​

        Thác Dray Nur còn hấp dẫn du khách bởi cảnh sắc nơi đây vừa hoang sơ vừa có sự tôn tạo của con người với những bậc thang đá uốn lượn, với cầu treo vắt ngang dòng suối xen giữa các  khóm trúc xanh, với ngôi nhà sàn làm nơi nghỉ chân và uống cà phê hóng mát, ngắm cảnh núi rừng. 


​
        Trong thoáng chốc, tôi mơ màng nghĩ đến những đêm trăng sáng nơi đây chắc đẹp đến say lòng.

​
        Đêm cuối, chúng tôi- ba người đều đã lên chức bà, lại cụng ly và cười đùa nghiêng ngả. Chuẩn bị tới 4 chai rượu đủ loại nhưng chỉ để doạ chơi và… chụp hình cho vui thôi. Sau đó, theo yêu cầu của tôi, TL vừa đệm đàn vừa hát bản Serenade để cùng hồi tưởng lại một thời mơ mộng đã đi qua.

​
        Từ biệt “sơn cốc” thân thương của TL trong sự lưu luyến và mong một ngày nào đó có dịp sẽ quay về.






                 Những ngày vui qua mau

                 Nơi “sơn cốc” đìu hiu

                 Mà Tình Người rực sáng

                 Âm áp tuổi xế chiều 

                 


 Tháng 8- 2015
N.Đ.T (Gia Lai)

(*) Câu thơ của Nguyễn Bỉnh Khiêm


(**) Dựa ý câu thơ của Lưu Trọng Lư


                                           

        
Read more…

TRĂM NĂM TÂN LỘ KIỀU LƯƠNG - Bút ký Vĩnh Thông


        Vầng dương mai in rõ bước chân 
  Bóng trăng tối lồng theo tận gót (Trích “Châu Đốc Tân Lộ Kiều Lương ký”) 

Trong thời gian Thoại Ngọc Hầu trấn thủ Vĩnh Thanh, ngoài việc đào kinh Vĩnh Tế từ năm 1819 đến 1824 ông còn tiếp tục cho đắp một con đường chạy dài từ tỉnh thành Châu Đốc vào núi Sam từ năm 1826 đến 1827. Ngày xưa đất sâu, trũng, nhiều ao hồ ngăn lại rất bất tiện, vì thế việc đắp con đường nầy là một việc làm rất độc đáo. Con đường đắp xong, ông tứ danh là “Châu Đốc Tân Lộ Kiều Lương” và đến năm 1828 cho dựng bia đá có khắc bài “Châu Đốc Tân Lộ Kiều Lương ký” để kỷ niệm, nội dung bia nói về việc làm đường và lợi ích của con đường. Khi có đường xá thông thương, ông huy động sức dân lập nên các làng mạc bên bờ kinh Vĩnh Tế, bao gồm các làng Vĩnh Nguơn, Vĩnh Tế, Vĩnh Điều, Vĩnh Gia và Vĩnh Thông. Mới đây đã ngót hai trăm năm… Tấm bi ký trứ danh một thời nay đã không còn. Nó đã cùng gió bụi thời gian hòa vào từng thớ đất của vùng biên cương xa xôi. Nhưng, con đường Châu Đốc Tân Lộ Kiều Lương còn đó, 5 ngôi làng kể trên ngày thêm trù mật, cùng với khu Lăng mộ của ông ngày ngày không ngớt khói hương. Ta không thể nào quên được công nghiệp của Thoại Ngọc Hầu trong những công tác kiến thiết biên cương năm nào. Con lộ đó, làng mạc kia, và khu sơn lăng yên bình gợi cho ta bao niềm thương nhớ mà bất cứ người con An Giang xa quê nào cũng phải bịn rịn. Tôi từng được đọc trong quyển “Thoại Ngọc Hầu và những cuộc khai phá miền Hậu Giang” của cố học giả - nhà văn Nguyễn Văn Hầu - một người đã bỏ nhiều công sức sưu tầm, ghi chép và để lại cho đời những tác phẩm nghiên cứu vô cùng giá trị về miền Tây Nam bộ. Quyển sách nêu trên là một tác phẩm lớn, tôi khẳng định thế. Vì qua lời kể của tác giả, ta mới thấy được hết sự khó khăn của người xưa mở đất, lại càng thêm trân quý tấm lòng của tác giả với quê nhà khi đã dày công nghiên cứu ở nhiều địa điểm, nhiều tài liệu. Một chi tiết làm tôi hiếu kỳ và cũng không khỏi xúc động, đó là nhà văn Nguyễn Văn Hầu đã đến tận núi Sam đào những nơi mà ông nghi ngờ để tìm tấm bia “Châu Đốc Tân Lộ Kiều Lương ký”. Một việc không tưởng có thể thành công. Đã qua hàng trăm năm, bao lần lũ lụt, bao lần đắp đường, xây dựng nhà cửa… chỉ bấy nhiêu thôi cũng đủ cho tấm bia chìm sâu trong lòng đất. Nhà văn đã quá trân trọng dấu xưa, nhưng có lẽ không có kết quả gì. Ấy thế mà, ông đã thành công, dầu không trọn vẹn. Qua ba lần đào đất ông đều tìm được những dấu vết ban đầu về tấm bia nầy. Lần đầu tìm được một vài mảnh vỡ, chưa dám khẳng định đây là mảnh vỡ của tấm bia. Lần hai là nguyên vẹn cái chân bia. Và lần ba, ông đã tìm được một góc trái phía trên đầu của tấm bia, nhưng rất tiếc chữ đã mòn không còn đọc được, chỉ thấy lờ mờ mấy chữ “Châu Đốc Tân Lộ…”. Mặc dù bi ký không còn, nhưng ngày nay ta vẫn còn lưu giữ được một đoạn cuối bài ký nầy do một vị cao nhân nào đó chép lại và học giả Ngạc Xuyên Ca Văn Thỉnh đã dịch ra. Đặc biệt, trong bài bi ký nầy có một chi tiết làm người đời sau phải chú ý, đó là việc tiền nong để đắp đường. Đáng lý ra đường sá phải được triều đình đứng ra thực hiện, nhưng thực tế thì Thoại Ngọc Hầu chỉ xin “lệnh trên” phê chuẩn. Còn chi phí làm đường do bổng lộc cá nhân ông và các quan viên lân cận quyên góp, nhân dân hỗ trợ sức người và xe cộ. Và cuối bài bi ký ông chỉ khiêm tốn nhận xét việc mình làm rằng: “Làm việc ấy chính là đã tỏ chút lòng đền đáp của kẻ chăn dân”. Như vậy ông đã tự xin được làm đường, tự huy động sức dân, tự bỏ tài sản ra để làm sở phí, cùng nhân dân chung lưng lo cho sự nghiệp cộng đồng. Ấy vậy mà ông chỉ xem việc nầy là sự đền đáp của ông đối với cộng đồng. Thực tế đáng lý ra ông không có gì phải cần đền đáp cộng đồng cả, mà đúng hơn là cộng đồng phải đền đáp những công lao to lớn của ông. Nhưng ông cho rằng mình phải làm thế, đó là bổn phận của một con người chứ không phải là nhiệm vụ của một vị quan.Tại miền Nam và thậm chí cả nước, hiếm có vị quan nào thanh liêm và lo cho dân như thế! Tôi trở lại Tân Lộ Kiều Lương vào một buổi trưa hè đầy nắng, hai bên đường phượng lả tả bay đỏ trời quê núi thân thương. Con đường xưa - nay đã trở thành Quốc lộ phơi mình dưới cái nắng “sáu tháng đạp đất đồng khô” của An Giang. Hai bên đường nhà cửa, dự án đang dần mọc lên. Có lần tôi được xem bức ảnh chụp con lộ nầy những năm 50 - 60 của thế kỷ trước, con đường chỉ là độc đạo, không nhà, không xóm, cây che bóng mát cũng không, chỉ có vài bụi cỏ thấp liêu xiêu trong gió. Những năm cuối thế kỷ XX mà con đường còn hoang vắng thế, thử hỏi thời Thoại Ngọc Hầu thì việc đi qua lại con đường nầy còn khó khăn đến độ nào? Nghĩ đến Tân Lộ Kiều Lương xưa, sực nhớ “Sơn phòng xuân sự” của Sầm Than: “Lương viên nhựt mộ loạn phi nha/Cực mục tiêu điều tam lưỡng gia/Đình thụ bất tri nhân khứ tận/Xuân lai hoàn phát cựu thì hoa”. Cảnh đìu hiu vắng vẻ, cỏ cây núi đá vô tri làm sao biết người đi mất, song cứ mỗi xuân sang hoa lại nở, không cần quan tâm có ai thưởng thức hay không, cứ như có hẹn với nhân thế, với cõi đời nên chúng tự nhiên nở mà không cần bẻ mình làm dáng với ai. Hòn núi Sam kia và Tân Lộ Kiều Lương cũng thế, cứ tự nhiên hòa cùng nhịp thở trăm năm! Mới ngày nào còn hoang vắng, vậy mà giờ nơi đây sắp trở thành đô thị. Con đường chạy dài xanh tít về phía núi Sam. Chỉ có vài cây số nhưng nó đọng lại trong lòng người biết bao hoài niệm. Nhìn từ trên núi Sam xuống, Tân Lộ Kiều Lương giống như con rắn lượn vòng vèo giữa làng mạc, xóm thôn, dưới chân núi là nhà cửa chi chít, xa hơn là ruộng đồng, kinh rạch xanh lơ, và đô thị Châu Đốc nằm tít xa quyện với sương mờ. Trong văn bia “Châu Đốc Tân Lộ Kiều Lương ký” viết rằng đường phải đi qua bốn cái đầm và mỗi nơi đều được Thoại Ngọc Hầu cho bắc cầu ván kiên cố để người và xe qua lại dễ dàng. Thì ngày nay, bốn cây cầu vẫn còn đó, mặc dù đã bao lần xây dựng lại, nhưng ta cũng nên nhớ rằng những cây cầu đầu tiên là do Thoại Ngọc Hầu bắc. Trăm năm nước vẫn xanh dòng, vẫn là núi quyện màu mây, mây in dáng núi, con đường hàng trăm tuổi nầy gợi lại cho người An Giang biết bao niềm nhớ niềm thương. Khó tả thành lời lắm! Ngót trăm năm, bao nhiêu lần dâu bể, cuộc thế đổi xoay, nhưng cái tầm vóc kỳ vĩ người xưa gửi gắm vào từng tấc đất thì không thể phủ nhận. Công đức của Thoại Ngọc Hầu vẫn chưa và sẽ không thể phai mờ. Trăm năm vẫn còn đây vẻ đẹp tự nhiên của Thoại Hà - Vĩnh Tế Hà, còn đây dáng đứng lớn lao uy võ của Thoại Sơn - Vĩnh Tế Sơn. Chúng ta tự hào vì hai ngọn núi, hai dòng kinh mang tên ông và phu nhân, ân huệ đó không quá lớn lao như lời trong bia Vĩnh Tế Sơn và bia Thoại Sơn, mà theo cá nhân người viết bài nầy thì chỉ bấy nhiêu là chưa xứng đáng. Nhưng có lẽ niềm an ủi lớn nhứt là Lăng mộ Thoại Ngọc Hầu ở núi Sam vẫn trầm mặc cùng thời gian, mỗi ngày không ngớt khói hương. Cũng bên cạnh đó, nhân dân tôn kính gọi ông với danh xưa gần gũi hơn so với cái tước Hầu, cái chức Khâm sai của ông rất nhiều, đó là “Ông Quan lớn Bảo hộ”. Người ta gọi Lăng Thoại Ngọc Hầu là Lăng Quan lớn Bảo hộ với câu ca dao xưa đến nay vẫn còn truyền lại: “Nước kinh Vĩnh Tế lờ đờ/Nhớ Ông Bảo hộ cặm cờ chiêu an”.Hoặc là câu:“Đi ngang qua cảnh núi Sam, Thấy Lăng Ông lớn hai hàng lụy rơi, Ông ngồi vì nước vì đời, Hy sinh tài sản không rời nước non”. Thì, những người An Giang chúng tôi - hỏi làm sao không nhớ, không thương? Chiều nay đi qua Tân Lộ Kiều Lương, chạnh lòng nhớ về người cũ. Ta gọi đó là “ân đức” chứ không đơn thuần chỉ là “công lao”. Một cánh phượng rơi trên Tân Lộ Kiều Lương, một cánh én bay trên đỉnh non Sam, vài chiếc thuyền chạy dọc kinh Vĩnh Tế, tất cả đầy xao xuyến, đầy thi vị và làm người ta phải nặng lòng. Phải chăng đó là khi tâm hồn ta rung nhịp cảm hoài trong mớ ký ức xa xưa, trong câu chuyện mà bà hay kể? Biết đâu rằng, có thể anh linh người mở cõi còn phảng phất chốn nầy, có thể một gốc cây nào đó bên đường từng do người mở cõi trồng nên và có thể tổ tiên ta cũng từng có người làm dân phu đắp nên con đường đó? Có thể lắm chứ! Tất cả chỉ là có thể nhưng chỉ bấy nhiêu thôi cũng đủ cho ta tự hào. Mặc cho cuộc thế xoay vần suốt trăm năm, ta vẫn tự hào có một Tân Lộ Kiều Lương chạy dài mãi trong lòng người…

V.T (An Giang) 
Read more…

TRẠI RUỘNG THỚI SƠN XƯA VÀ NAY - Bút ký Vĩnh Thông






Làng Thới Sơn thuộc huyện Tịnh Biên, tỉnh An Giang ngày nay, là một trong những nơi còn lưu lại khá nhiều di tích liên quan đến công cuộc hành đạo và khai khẩn của tôn giáo Bửu Sơn Kỳ Hương - một tôn giáo nội sinh đặc trưng của xứ An Giang. Nói đến Thới Sơn, người ta không chỉ nghĩ đến chốn hành hương của riêng của tín đồ Bửu Sơn Kỳ Hương mà còn là điểm đến đầy thú vị của khách du lịch gần xa, nhứt là giới nghiên cứu văn hóa - sử học.

Quan sát bản đồ ta có thể dễ dàng nhận thấy, Thới Sơn là cửa ngõ vào vùng Thất Sơn, cũng là tiền đồn án ngữ vùng biên cương nầy. Cả xưa và nay, Thới Sơn đều có một vị trí chiến lược trong nhiều lĩnh vực: quân sự, kinh tế, văn hóa… Để đến được Thới Sơn, chúng ta có thể đi theo Quốc lộ 91 đến địa phận thị trấn Nhà Bàng tiếp tục rẽ sang đường tỉnh 948 qua khỏi núi Két khoảng một cây số rồi rẽ trái sẽ lần lượt đến được các di tích như đình Thới Sơn, chùa Thới Sơn, chùa Phước Điền.
Thới Sơn xưa bao gồm hai làng Hưng Thới và Xuân Sơn (mà nay gộp lại thành Thới Sơn) do Đức Phật Thầy Tây An Đoàn Minh Huyên chủ trương cho tín đồ khai phá để canh tác và tu tập. Hai vị tiền bối có công lao lớn nhứt trong buổi đầu là ông Tăng Chủ tên thật Bùi Văn Thân và ông Đình Tây tên thật Bùi Văn Tây. Có thuyết nói ông Tăng Chủ là bác ông Đình Tây, nhưng cũng có người cho rằng hai ông là anh em họ. Dầu sao, đối với người đời nay, cả hai vị đều được kính trọng vì là những bậc đại đệ tử của Phật Thầy, đã có công dẫn dắt tín đồ khai khẩn và hình thành làng xóm.
Nói đến đây, không thể không nhắc sơ lược về nền đạo Bửu Sơn Kỳ Hương khá đặc biệt nầy. Người sáng lập đạo có tên là Đoàn Văn Huyên (1807 - 1856), sau xuất gia với pháp danh Minh Huyên - Pháp Tạng (nên còn gọi là Đoàn Minh Huyên). Ông là một nhà doanh điền, nhà yêu nước, nhà cải cách tôn giáo. Năm 1849 quanh vùng Hậu Giang xảy ra dịch bệnh, ông đi nhiều nơi trị bệnh cho dân và phổ truyền giáo lý, khuyên mọi người tu hành.
Đạo của ông dạy tín đồ Tứ ân: ân tổ tiên cha mẹ, ân đất nước, ân Tam bảo, ân đồng bào nhân loại. Tu không coi trọng hình thức, không bày trí hình tượng mà chỉ thờ Trần điều (tấm vải đỏ) tượng trưng cho vô vi và thanh tịnh. Người tín đồ Bửu Sơn Kỳ Hương không xuất gia mà tu tại gia, cũng không tụng kinh gõ mõ, không ngồi chờ đắc đạo (xuất thế) mà phải làm lụng phục vụ cuộc sống vừa tạo tác phước điền (nhập thế). Ngoài ra, ông còn cùng các đệ tử khẩn hoang, lập xóm ấp cho người dân đến sống và canh tác. Người đời sau tôn xưng ông là Đức Phật Thầy Tây An.
Điểm qua một số di tích tại Thới Sơn. Đình Thới Sơn là cơ sở được thành lập trễ nhứt. Một số ý kiến cho rằng “đây là Trại rẫy, Phật Thầy cho dựng đình thờ thần hoàng” là không đúng, vì chỉ có Trại ruộng chứ không có Trại rẫy, và Đình Thới Sơn cũng được lập sau khi Phật Thầy viên tịch. Khi vùng Xuân Sơn và Hưng Thới đã được trù mật, ông Tăng Chủ và Đình Tây bắt đầu chuyển sang chú trọng việc chăm lo tu tập cho tín đồ. Xét thấy thôn Hưng Thới đã có chùa nhưng thôn Xuân Sơn thì chưa nên hai vị lập chùa Xuân Sơn (thờ Phật), khi hai thôn sát nhập thì đổi thành Đình Thới Sơn (thờ Thần).
Ban đầu đình được xây cất bằng cây rừng, mái tranh, vách lá, nền đất. Sau bao nhiêu lần tín đồ trùng tu cũng chính là bấy nhiêu lần quân giậc bị đốt phá. Mãi đến những năm 70 - 80, đình mới được xây dựng lại khang trang. Kiến trúc của đình cũng theo kiểu các đình miếu miền Tây Nam với mái cổ lầu, nóc lợp ngói, vách tường và nền xây cao ráo, cột trụ cũng bằng xi măng. Nội thất đình trang trí hoa văn nhiều sắc màu, các khánh thờ chạm trổ công phu, sắc nét. Giữa thờ Thành hoàng Bổn cảnh như những Đình khác, phía sau thờ Đức Phật Thầy và Thập nhị Hiền thủ (mười hai cao đồ của Phật Thầy). Trước đình là cổng tam quan có mái che cổ kính, bên cạnh là di tích cổ thụ được rào lại cẩn thận bởi vì tương truyền ngày xưa Đức Phật Thầy thường ngồi tịnh nơi gốc cây nầy.
Gần đó là chùa Thới Sơn. Đây cũng là nơi được thành lập sớm. Trước kia được dùng làm chỗ tu hành, thờ phượng theo nghi thức đơn giản của Phật Thầy. Ngày nay, chùa được xây dựng lại với quy mô nằm giữa một khuôn viên rộng lớn, thoáng mát với nhiều cây xanh, hoa kiểng. Chùa mang kiến trúc hiện đại và sáng tạo, khá đẹp mắt. Mái ngói và các hàng cột được đắp nổi nhiều hình rồng, búp sen, chim thú, hoa lá… Cửa bầu theo kiểu phương Tây thế kỷ XIX, các liễn đối không phải vẽ mà được ghép lại từ các mảnh sành rất điêu luyện.
Trong chùa có hai gian, chánh điện thờ Tam bảo, hậu điện thờ Phật Thầy Tây An. Xung quanh còn phối thờ Hộ pháp, Chư quan cựu thần, Năm non bảy núi, Thập nhị hiền thủ, Cửu huyền thất tổ, và nhiều bàn thờ khác… Đặc biệt, mặc dầu ít nhiều thay đổi so với buổi đầu, nhưng chùa vẫn giữ y truyền thống đạo với bức Trần điều. Hàng năm, cứ đến những dịp Tết, ngày rằm, các ngày lễ đạo thì tín đồ lại tề tựu về đây để cùng nhắc nhở nhau về công lao của các bậc tiền bối.
Chùa Phước Điền là nơi Phật Thầy và các đệ tử dẫn dắt dân nghèo vượt qua những năm tháng đầy khó khăn, gian khổ. Họ khai phá và lập những cơ sở tôn giáo đầu tiên gọi là “Trại ruộng”. Ngoài mặt “Trại ruộng” để che mắt sự dòm ngó và gây khó dễ của triều đình, nhưng thực tế đây là một cơ sở tôn giáo thuở sơ khai của đạo Bửu Sơn Kỳ Hương. Nơi đây, sau khi tín đồ khai phá vùng đất hoang vu, họ bắt tay vào cày cấy, sản xuất, như quan niệm của Đức Phật Thầy từ buổi đầu lập đạo.
Theo nếp sống và sinh hoạt được định ra từ những ngày đầu, thì ban ngày tín đồ cùng nhau trồng trọt, cày cấy, đến tối sẽ lo tu tập: “Khát thời uống nước Tào Khê/Đói ăn ma phạn tối về canh tân”. Như vậy rõ ràng đây là một mô hình mới và độc đáo, vừa có thể tu hành nhưng cũng không vì lợi ích bản thân mà quên đi cộng đồng xã hội. Chủ trương đó của Phật Thầy dẫu đã qua gần hai trăm năm, trại ruộng xưa nay đã thành chùa chiềng, làng mạc, nhưng tư tưởng ngày ấy vẫn được tín đồ kế tục và phát huy.
Ngày nay khuôn viên chùa Phước Điền có diện tích rộng lớn, tuy nhiên quy mô chánh điện lại nhỏ. Đó là bởi vì chủ trương Phật Thầy là giản dị hóa cách thức hành đạo, không xây chùa am lớn vì Phật cốt ở tâm chứ không phải xây chùa cao, đắp tượng lớn. Tại chùa Phước Điền ngày nay vẫn còn hai câu đối tương truyền là của Phật Thầy. Câu đối ở cổng chùa: “Nhứt trần bất nhiễm Bổ Đề địa/Vạn thiện đồng quy Bát Nhã môn” và tại Chánh điện: “Phước bảo thiền quang thanh tịnh vô vi thường phổ chiếu/Điền kinh công đức viên dung bát nhã biến thông truyền”.
Và, một điều đặc biệt, hiện trong khuôn viên chùa còn có một khoảng đất rộng được dọn dẹp sạch sẽ, rào lại tươm tất, đó chính là nơi chôn cất hai con trâu của Phật Thầy. Nhân dân kính trọng đôi trâu nầy như người hữu sông với làng xóm là vì lúc sinh thời Phật Thầy đã nuôi đôi trâu và khi khai khẩn Thới Sơn thì đôi trâu đã cùng giúp đỡ bà con chuyên chở hàng hóa. Chính vì thế khi đôi trâu qua đời, nhân dân trong vùng đã chôn cất bên cạnh chùa và gọi hai “ông” trâu là ông Sấm, ông Sét. Chỉ là những con vật nhưng nếu có công thì vẫn được đồng bào ta tôn kính như con người, thế cũng đủ biết người miền Tây trọng tình nghĩa thế nào.
Giờ đây, thế kỷ 21 chúng ta thử nhìn lại chặng đường khai khẩn của tín đồ Bửu Sơn Kỳ Hương gần hai trăm năm trước. Cả một vùng đất hoang vu sỏi đá, tín đồ chỉ với công cụ thô sơ và trâu bò đã cày cấy, sản xuất, khai mở hai ngôi làng mênh mông. Đó là chưa kể thiên nhiên khắc nghiệt, thú dữ, bệnh tật. Tuy nhiên, người tín đồ không chỉ rèn sức khỏe và sự chịu đựng để sống ở vùng đất khó khăn này, mà còn phải rèn cả tâm hồn, nuôi dưỡng đạo đức của một người tu hành. Nhà văn Nguyễn Văn Hầu nhận xét: “Người ta thấy nếp sống gần với thiên nhiên nầy rất thi vị và thoát tục, nên vui lòng theo đuổi mãi công việc”.
Sống trong cảnh “Huê tươi trước mặt thơm tho nực/Thú dữ bên mình nhã nhớn chơi” nhưng họ không chùng chí mà vẫn có thể “Dày cỏ tới lui trời đất rộng/Ao sen xài xạt núi sông dài”. Có lẽ bởi, tâm hồn người tu hành đã rời khỏi sự tác động của ngoại cảnh: “Một tấm lòng nhàn mây sắc trắng/Trăm đường tục lợi nước màu xanh”. Rõ chẳng phải là thoát tục đó hay sao? Và, rao giảng thuyết “tận thế” và vùng Thất Sơn chính là “thánh địa” cũng chính là một hình thức “doanh điền” hết sức độc đáo để gom dân về vùng hẻo lánh, khuyến khích định cư và canh tác, làm vùng đất khô cằn nầy trở nên trù phú.
Đã qua gần hai thế kỷ nhưng mô hình “Trại ruộng” độc đáo vẫn đầy kỳ bí và hấp dẫn trong mắt các nhà nghiên cứu. Về phía những tín đồ, họ vẫn tiếp tục trùng tu cơ sở và không ngớt hương khói đối với bao công lao của người xưa. Bên cạnh những di tích đó còn có núi Két tên chữ là Anh Vũ Sơn cũng mang nhiều dấu ấn của đạo Bửu Sơn Kỳ Hương và là điểm đến hấp dẫn cho khách du lịch gần xa. Dẫu là di tích của đạo Bửu Sơn Kỳ Hương ngày nay còn lại không nhiều. Nhưng mỗi nơi, mỗi câu chuyện là những bài học lớn cho người đời sau.
V.T (An Giang)
Read more…

ĐỒNG GIEO, NGÀY ẤY - BÂY GIỜ - Bút ký Nguyễn Hữu Duyên







Về Nhơn Lộc, trong những ngày tháng 3 năm nay, tôi thực sự ngỡ ngàng vì được chứng kiến sự đổi thay kỳ diệu của một xã đạt chuẩn nông thôn mới đầu tiên của thị xã An Nhơn. Nhơn Lộc sau giải phóng là vùng đất từng được coi nghèo nhất huyện...

Với Nhơn Lộc, nhà thơ Yến Lan từng viết những câu thơ cháy lòng:

Lâu không về Đồng Gieo
Ngại Đồng Gieo khô khát
Nhớ cái xóm lưng đèo
Một năm, một vụ gặt

Ngọn cỏ như ngọn chông
Con bò ăn xốc cổ
Đầu gà trụi cả lông
Sục gai tìm dế mổ

Thương cái rựa lỏng khâu
Tất bật cùng than củi
Ngày lấn mãi vào sâu
Rượt cây rừng chém đuổi
…                
(Lâu không về Đồng Gieo – Yến Lan)

Nhơn Lộc vốn là xã nghèo, bởi đất thì bạc trắng, ruộng làm chỉ trông vào nước trời nên mỗi năm chỉ một vụ lúa Trì “gieo thúng sét cắt thúng vun”. Phần lớn người dân nơi đây phải vào rừng đốt than, bứt mây, hái lá dang, hái sim, suốt chà là… mang ra chợ Bình Định, chợ Cây Bông, chợ An Thái… đổi lấy gạo, mắm, rau, sách vở…
Nhưng rồi mọi thứ đã thay đổi khi hồ Núi Một hiện hình: năm 1978! Cái công trình thủy lợi được coi như là một biểu tượng đẹp của CNXH này được người nông dân Nhơn Lộc nói đến bằng cả sự trân trọng và biết ơn. Hồ Núi Một giúp Nhơn Lộc cải tạo và mở rộng đồng ruộng, thâm canh tăng năng suất và sản lượng cây trồng. Và ngoài chuyện góp phần làm nên áo cơm cho vùng đất phía tây nam An Nhơn và các xã khu đông Tuy Phước, hồ Núi Một còn là điểm du lịch sinh thái hấp dẫn, một bức tranh thiên nhiên quyến rũ giữa đại ngàn lung linh huyền ảo…
Giờ đây, ai lần đầu đến Nhơn Lộc đều không thể tin rằng nơi đây từng một thời gieo neo, khó khổ. Nhơn Lộc giờ đã là nơi chuyên canh lúa giống Nguyên chủng và cấp 1 của thị xã An Nhơn. Hằng năm Nhơn Lộc làm ra hơn 900 tấn lúa giống. Anh Cao Văn Nghĩa, Chủ tịch UBND xã không giấu được vẻ tự hào: “Nếu 2010, tỷ lệ hộ nghèo là 5,88% thì đến đầu năm 2015 này chỉ còn 3,81%. Thu nhập bình quân đầu người năm 2014 là 26,3 triệu đồng!”.
Là người có duyên nợ với Nhơn Lộc từ vài mươi năm trước, tôi hiểu cuộc “lột xác” ấn tượng hôm nay có vai trò kiến trúc rất lớn của anh Hồ Đình Long, vị lãnh đạo xã thâm niên (từ năm 1988 đến năm 2004). Tôi tìm gặp và nghe anh Long tâm sự: “Ngày nhận nhiệm vụ chủ tịch xã, tôi chỉ mới ngoài 30 tuổi. Với suy nghĩ phải cố gắng làm một điều gì đó cho quê hương và rồi tôi chọn Gò Dưa để bắt đầu cho sự nghiệp của mình…”.
Gò Dưa vốn là nghĩa địa, hoang vắng; là nỗi ám ảnh của người sợ ma khi có việc phải đi ngang qua vào thời điểm chạng vạng đến bình minh. Giờ đây Gò Dưa đã thành khu trung tâm sầm uất với trường học, bưu điện văn hóa xã, chợ, công viên, sân vận động, khu vui chơi thiếu niên, nhà văn hóa xã… Tôi biết để có được Gò Dưa như hôm nay là một sự nỗ lực vận động lớn của cả hệ thống chính trị ở Nhơn Lộc trong một thời gian khá dài, đặc biệt là tâm huyết và tầm nhìn của người “nhạc trưởng” Hồ Đình Long.
Ngồi với nhau bên chén trà trong buổi sáng đầu xuân 2015, khi tôi đã bấm máy ghi âm mà anh vẫn cứ trầm tư. Mãi sau, anh cười: “Nói gì đây anh? Người ta sẽ bảo mình kể công thì không hay lắm”. Tôi khuyến khích: “Anh à, nói mà không làm là có tội với Đảng, với dân. Nhưng làm được mà không nói cũng là người ích kỷ đấy!”. Có lẽ khúc dạo đầu này đã giúp anh thoải mái hơn. Thế là những thước phim của gần 30 năm về trước được anh thuyết minh rõ ràng, khúc chiết. Qua đó tôi hiểu thêm, anh không làm cho riêng mình, và thành quả từ những năm ấy thuộc về Đảng bộ và nhân dân Nhơn Lộc.  
Năm 2014, Nhơn Lộc đạt sản lượng hơn 8.450 tấn thóc (con số mà những năm 70 của thế kỷ trước người dân Nhơn Lộc nằm mơ cũng không thấy) có sự bắt nguồn từ dòng nước hồ Núi Một. Và nếu như ngày ấy không quy hoạch cải tạo Gò Dưa thì sao bây giờ có khu trung tâm xã sầm uất với nhiều công trình dân sinh và những con đường bê tông đẹp như tranh nối liền các thôn về chợ Nhơn Lộc, cũng như thông thương với các xã lân cận. Tất cả là tiền đề để 19 tiêu chí của Đề án xây dựng xã nông thôn mới giai đoạn 2012-2015 được Nhơn Lộc hoàn thành trước một năm và UBND tỉnh đã ra Quyết định công nhận.
Thế hệ lãnh đạo của Nhơn Lộc ở những năm 80-90 thế kỷ 20, có thể không nhận được nhiều huân, huy chương nhưng họ nhận được rất nhiều sự tin yêu của người dân. Cái nền móng họ xây dựng được không chỉ là công trình phục vụ an sinh xã hội mà đó còn là đội ngũ kế cận có phẩm chất và năng lực. Có thể đưa ra một con số khá thuyết phục: 21/22 cán bộ, công chức của xã có trình độ đại học với từng chuyên ngành cụ thể, phục vụ tốt yêu cầu nhiệm vụ của địa phương.
Tôi có dịp tiếp xúc với người nông dân từ Trường Cửu đến An Thành, từ Cù Lâm đến Tráng Long và cả những bạn trẻ, những doanh nhân của Nhơn Lộc... Điều chung nhất tôi nhận được ở họ là sự quý mến dành cho đội ngũ cán bộ chủ chốt của xã, nhất là khi Nhơn Lộc được công nhận xã nông thôn mới. Danh hiệu này đã đem lại cho người dân Nhơn Lộc nguồn kinh phí hỗ trợ rất lớn từ ngân sách thị xã, tỉnh, Trung ương và các nguồn vốn khác. Tổng kinh phí thực hiện xây dựng nông thôn mới hơn 88 tỷ đồng, trong đó ngân sách xã chỉ đầu tư hơn 12 tỷ đồng, chiếm tỷ lệ gần 14%. Đường liên thôn, liên xã được nhựa hóa, bê tông hóa; hệ thống kênh mương nội đồng được kiên cố hóa; mạng lưới điện được bố trí 100% khu vực dân cư; cơ sở vật chất trường học, trạm y tế xã đạt chuẩn quốc gia… Riêng trong năm 2014, kinh tế của Nhơn Lộc tiếp tục tăng trưởng khá, tổng giá trị sản xuất ước đạt 102,77 tỷ đồng, tăng 11,53% so với năm 2013. Cơ cấu kinh tế tiếp tục chuyển dịch theo hướng tích cực, trong đó tỷ trọng ngành nông nghiệp: 46,6%, công nghiệp tiểu thủ công nghiệp: 40%, và thương mại dịch vụ chiếm 13,4%...
Điều gì trong 40 năm qua đã giúp Nhơn Lộc làm nên điều kỳ diệu?
Anh Cao Văn Nghĩa, Chủ tịch UBND xã, xác định: “Đó là nhờ sự quan tâm chỉ đạo kịp thời của lãnh đạo thị xã và sự nỗ lực của cán bộ, nhân dân địa phương. Đảng bộ và chính quyền xã đã cụ thể hóa chính sách về nông nghiệp, nông dân, nông thôn phù hợp với tình hình thực tế, lấy lợi ích của nhân dân làm trung tâm của mọi chương trình, kế hoạch hành động, được người dân đồng thuận và tích cực hưởng ứng”.
Tôi tâm đắc với anh Cao Văn Nghĩa với ý thức “lấy lợi ích của nhân dân làm trung tâm của mọi chương trình, kế hoạch hành động” của địa phương. Bởi nếu không vì điều đó, không thể biến khu Gò Dưa trở thành khu trung tâm xã sầm uất như hôm nay. Ai cũng biết việc đụng chạm đến mồ mả, một lĩnh vực của đời sống tâm linh, không hề dễ với người Việt nói chung và với người dân Nhơn Lộc. Nhưng nếu dân cư cả xã cứ co cụm dọc theo nhánh sông Côn ở phía bắc thì không thể phát triển được. Trong khi đó phía nam của xã giáp quốc lộ 19, thông thương với các tỉnh Tây Nguyên và thành phố Quy Nhơn dân cư lại thưa thớt! Muốn thoát nghèo, không có cách nào khác, trung tâm xã phải được mở về hướng nam mà khu Gò Dưa là điểm nhấn. Ý Đảng lòng dân đã như một. Nhơn Lộc đã đúng khi chọn Gò Dưa là điểm để “bay lên”. Và thôn Tân Lập được hình thành, trở thành khu đô thị trung tâm xã…  
Khai thác tối đa vị trí phong thủy tuyệt vời của khu đô thị trung tâm, chợ trung tâm xã cũng được dời về đây để kết nối thông thương hàng hóa với các xã Nhơn Hòa, Nhơn Phúc, Nhơn Thọ và hàng hóa từ Tây Nguyên xuống. Với quan niệm “chợ tan thì làng mạt”, việc mở ra chợ trung tâm để xóa đi 2 chợ cũ là An Thành và Đông Lâm cũng là một thách thức lớn đối với chính quyền địa phương. Song với cách làm hợp lý là “đột phá” vào các đảng viên lão thành, gia đình có công với cách mạng có lợi ích trực tiếp ở gần 2 chợ cũ để họ động viên các hộ dân khác ủng hộ việc làm vì lợi ích chung. Và cuối cùng cái chợ trung tâm cũng đi vào hoạt động ổn định mỗi ngày hai buổi nhóm, góp phần lớn vào việc đáp ứng nhu cầu trao đổi hàng hóa cho sản xuất và tiêu dùng của nhân dân. Chỉ tính riêng trong năm 2014, giá trị sản xuất ngành thương mại – dịch vụ ước đạt gần 25 tỷ đồng, tăng 26% so với năm trước, trong đó có sự đóng góp phần lớn của chợ trung tâm.
Uống với người bạn học vài ly rượu Bàu Đá sau bao tháng năm bận bịu áo cơm, tôi lại nhớ cái gánh than của ba anh, cái thúng chà là của mẹ anh để trước hè ngày ấy. Và, tôi lại nhớ những đêm say nghe anh Hồ Đình Long kể chuyện được mất của mùa màng, nghe Phi Yến, Lâm Xuân Sanh, Trần Văn Định kể chuyện vui buồn của Đồng Gieo, nghe Ngọc Thiện hát những bản tình ca ngọt ngào…
Nhớ có lần có lẽ vì say quá và vì ánh trăng đầu tháng lờ mờ, tôi và xe đạp nhào xuống ruộng. Tôi la lớn với anh Hồ Đình Long, nhớ cố gắng làm chủ tịch xã rồi làm đường cho ngon nghen anh. Đường sá thế này thì không say cũng té. Anh kéo tôi lên và chỉ cười. Không ngờ sau vài năm anh được tín nhiệm làm chủ tịch xã, chẳng những 34 km đường giao thông nông thôn được bê tông hóa, mà Nhơn Lộc còn có thêm thôn Tân Lập, có điện phục vụ sản xuất và dân sinh…
Sau mấy chục năm trở lại Nhơn Lộc, tôi thực sự choáng ngợp với những con số phản ánh sự phát triển của vùng đất này trên tất cả các lĩnh vực kinh tế - xã hội. Tôi cố đi tìm câu trả lời vì đâu đồng gieo phát triển nhanh đến vậy? Những ngày ở lại với làng nghề đan tre Cù Lâm, làng nghề bánh tráng Trường Cửu, làng rượu Bàu Đá; đến với một số trang trại chăn nuôi và sản xuất của người nông dân; ngồi uống ly cà phê trước UBND xã, vòng xe trên các đường thôn ngõ xóm; ăn bữa cơm với người bạn thời còn học cùng lớp thời phổ thông… tôi đã nhận ra: dòng nước hồ Núi Một và cái Gò Dưa hoang vắng ngày nào thành thôn Tân Lập hôm nay chính là bệ phóng quan trọng để Nhơn Lộc phát triển, được công nhận là xã nông thôn mới trong năm 2014!
Anh Nguyễn Thành Sơn, Phó chủ tịch UBND xã, tâm tình: “Được công nhận xã nông thôn mới chỉ là bước đầu. Trong năm 2015 và những năm tiếp theo, Nhơn Lộc còn phải tập trung củng cố 19 tiêu chí xã nông thôn mới, bởi suy cho cùng 19 tiêu chí ấy sẽ giúp cho đời sống vật chất và tinh thần của người dân ngày càng được cải thiện”. Tôi hiểu ý anh Sơn và kỳ vọng Nhơn Lộc với quyết tâm tiếp tục giữ vững và nâng cao chất lượng các tiêu chí xã nông thôn mới, tiến tới xây dựng nông thôn tiên tiến, giảm tỷ lệ hộ nghèo đến cuối năm 2015 còn 3% - 3,5%... sẽ thành hiện thực.
Tạm biệt Nhơn Lộc, tạm biệt xã nông thôn mới được công nhận đầu tiên ở thị xã An Nhơn, trong tôi vẫn còn miên man bao cảm xúc...  
Có điều gì mà không thành khi trong mọi chương trình, kế hoạch hành động, Đảng bộ xã “luôn lấy lợi ích của nhân dân làm trung tâm”!



N.H.D
Read more…

VỀ MIỀN TÂY, THĂM NGƯỜI BẠN VĂN - Bút ký Mang Viên Long

       
Nhà thơ Trịnh Bửu Hoài (bên trái) và nhà văn Mang Viên Long


 Chúng tôi “biết” nhau từ trước năm 1970, khi Trịnh Bửu Hoài, Ngô Nguyên Nghiễm và Lưu Nhữ Thụy cùng bạn văn An Giang, chủ trương tạp chí Khai Phá. Khoảng giữa năm 70 - khi Trịnh Bửu Hoài đang học Trung học ở Long Xuyên, đã cùng bạn văn chủ trương ấn hành tạp chí Khuynh Hướng. Anh đã thư cho tôi đề nghị “tiếp tay” một truyện ngắn. Tôi chia sẻ niềm vui với anh, và gởi ngay một truyện vừa viết xong. Tờ Khuynh Hướng số 1 được in ấn vào cuối năm 70, và phát hành đúng vào ngày Tết Dương lich (01 th1.1971). Dường như vào những năm ấy, chỉ có tờ Khai Phá, và Khuynh Hướng là làm cho tôi chú ý nhiều hơn, vì hình thức được trình bày rất trang nhã, mỹ thuật; còn nội dung thì vô cùng phong phú! Lúc đó, tôi nghĩ - Khai Phá và Khuynh Hướng là  hai tờ báo độc lập duy nhất của nhóm anh em cầm bút Miền Tây Nam bộ. Đây là một nỗ lực rất lớn khởi nguồn từ đam mê văn học, bất chấp mọi thử thách khó khăn trước mắt…
        Chúng tôi chờ đón tin tức và bài viết của nhau như chờ một lần được “hội ngộ” qua thư gởi đường bưu điện và các tờ báo xuất bản ở Sài Gòn được phát hành rộng rãi, nhưng ít có cơ hội gặp nhau, bởi phương tiện đi lại rất gian nan, và ai cũng bị buột chặt một chốn, vì nhiều lý do - trong lúc, tình trạng chiến tranh ngày càng sôi sục, đe dọa tất cả mọi đời sống! Chúng tôi cảm thông và chia sẻ cùng nhau qua những sáng tác được đăng tải trên vài tuần báo, tạp chí văn nghệ…
         Tuy chỉ là “thân nhau” qua tác phẩm, nhưng cái tình thì rất bền chặt, chân thành! Khi có cơ hội dược gặp nhau,  chỉ “cho biết quý danh” là đã ôm nhau như anh em ruột thịt từ xa về! Tôi nhớ lần bị động viên năm 72 - khi được đưa từ trung tâm nhập ngũ số 3 Sài Gòn vào quân trường Đồng Đế Nha Trang, chỉ “nghe” anh Trần Huiền Ân cho biết nhà thơ Duy Năng đang công tác ở đó, tôi đã đến thăm, và đã được anh “lo lắng & chăm sóc” như một người em. Cũng thời gian nầy, có dịp về Ninh Hòa, tôi lại đến thăm nhà thơ Lâm Chương ở Quân trường Lam Sơn, vừa nghe tên và thấy mặt nhau, là chúng tôi đã ôm choàng lấy nhau, Lâm Chương “tạm nghỉ việc”, kéo tôi vào căngtin trò chuyện cho thõa, cho dầu đó là ngày cuối tháng mà… chưa có lương!
          Chúng tôi rất nhiệt thành chia sẻ cho nhau những tác phẩm đã xuất bản (hay đăng báo) được - như một món quà quý rất cần cho đời sống của nhau khi còn ngăn cách! Sự thành công của một người, cũng là niềm tự hào của tất cả! Tôi đã gởi tặng tập truyện thứ 2 (Mùa Thu Trống Trải – XB năm 1970) cho Trịnh Bửu Hoài (cũng như nhiều anh em khác), khi chẳng biết mặt mũi ra sao? Sau đó, là tập “Phố Người” (1972) và… thư đi tin lại hằng tuần, ròng rã bao năm, dù tất cả đang ở vào thời điểm khó khăn nhất!
           Sau năm 1975 – chúng tôi tạm thời mất liên lạc nhau. Nhưng có lẽ từ năm 1991, tôi lại bắt đầu nhận được những tập thơ xinh xắn, đầy ắp yêu thương, từ Trịnh Bửu Hoài, cho dầu tôi vẫn ít có dịp viết thư cám ơn anh! Tuy không có điều kiện viết tiếp, nhưng tôi đã đọc các tập thơ anh (và tác phẩm của bạn văn gởi cho), đã nhận được niềm vui và an ủi – cảm thấy mình không còn cô độc! Có duyên đọc thơ Trịnh Bửu Hoài từ Phai Phá, Khuynh Hướng, trên các tạp chí văn nghệ trước 75; tôi nhận thấy dòng thơ anh mãi trong trẻo, hồn nhiên và tràn đầy sức sống yêu thương. Sau cuộc bể dâu chìm nổi, thơ anh vẫn giữ sự tươi mát mênh mang như dòng sông Hậu quê nhà! Tôi đã “biết” thêm Trịnh Bửu Hoài qua những tập thơ như vậy, mà chưa bao giờ gặp nhau, để “cụng ly” như những lá thư trao đổi mong chờ (hay sau nầy là các lần phone thăm nhau).
            Qua năm 2010, Trịnh Bửu Hoài có dịp ra Trung công tác, đã ghé lại quê An Nhơn, tìm đến thăm tôi lần đầu. Vậy là sau hơn 40 năm, duyên lành mới đến! Về sau, biết rõ “nơi ăn chốn ở” của tôi, Trịnh Bửu Hoài thường “tranh thủ” ghé lại thăm nhau trên đường ngược xuôi Nam Bắc, có lúc một giờ, có khi một buổi! Tôi đã nhận ra “chân dung” một nhà thơ Miền Tây đôn hậu, cởi mở, chí tình! Tôi không có chút gì “hối hận” khi trước đây, chỉ biết Trịnh Bửu Hoài qua thơ văn. Con người anh và thơ & văn anh là một! Hễ mỗi lần được hội ngộ như vậy – Trịnh Bửu Hoài luôn nhắc tôi nên về thăm Miền Tây một chuyến: “Đơn giản thôi, anh cứ nhảy lên xe đò, đến bến xe Châu Đốc, là có tôi!”. Nghe thì đơn giản thật, nhưng mãi cho đến chiều ngày 25 tháng 2 năm 2014, tôi mới nhìn thấy “Tượng đài cá Basa” sừng sững, uy nghiêm, thân thiết nơi công viên 30/4 bên ngã ba  sông Châu Đốc, giữa lòng thành phố (đây là biểu tượng cho Thành phố Châu Đốc sông nước hữu tình, trù phú); nhờ người bạn văn ở Sài Gòn đã hết lòng tạo điều kiện thuận tiện cho chuyến đi …

Từ trái sang: Hải Âu, Nguyễn Hữu Duyên, Mang Viên Long, Lê Phương Châu, Võ Chân Cửu, Huỳnh Hữu Hạnh

             Chiếc xe 7 chỗ ngồi khởi hành từ nhà của nhà thơ Lê Phương Châu    (đường Kinh Dương Vương, quận 6) lúc 13 giờ như đã hẹn trước, chở 6 anh em đến thành phố Châu Đốc khoảng hơn 6 giờ chiều (Lê Phương Châu, Hải Âu, Nguyễn Hữu Duyên, vợ chồng nhà thơ, nhà báo Võ Chân Cửu, và tôi). Dù đã chuẩn bị ghi nhớ địa chỉ, liên lạc bằng điện thoại báo tin qua mỗi chặng đường, nhưng vào đến thành phố Châu Đốc, phải dừng xe hỏi thăm đến ba lần, mới gặp được cố nhân! (Điều thú vị, là mỗi lần dừng xe hỏi thăm người dân bên đường, ai cũng biết “nhà thơ Trịnh Bửu Hoài”, đã vui vẻ hướng dẫn đường đi cẩn  thận).
             Trịnh Bửu Hoài đang đứng ở lề đường trước nhà chờ. Gặp nhau, ôi! những cái bắt tay sao mà nồng ấm đến vậy! Gần 45 năm, qua bao lần hứa hẹn, lại tình cờ được “sum họp” nơi quê nhà của anh! Với tôi, đây là một “nhân duyên” không bao giờ quên! Cuộc đời đâu có gì dài, được bên nhau vui vẻ, đầm ấm là phút giây hạnh phúc lắm rồi. Viết văn, làm thơ – làm văn nghệ nói chung, là chỉ để có phút giây sum họp vui vẻ nầy thôi! Đó là niềm an ủi rất lớn với chúng tôi…
            Tất cả đều được mời lên phòng khách, phòng làm việc của anh trên tầng 2 để “giải lao” sau hơn 6 giờ ngồi xe. Tuy vậy, không ai trong chúng tôi chịu ngồi yên mà “giải lao”, bởi bên cạnh, dọc theo vách, là những tủ sách đồ sộ, quý giá. Bên cạnh những đầu sách giá trị về văn học, nghiên cứu, dịch thuật trong và ngoài nước; anh đã lưu giữ được nhiều sách báo của thân hữu, của những năm tháng chiến tranh. Các “phóng viên” thi nhau ghi hình kỷ niệm.
            Trịnh Bửu Hoài đã cẩn thận đăng ký giúp chúng tôi 2 phòng ngủ rộng (mỗi phòng 4 giường nằm) đầy đủ tiện nghi, thoáng mát, giá rất… mềm ở khách sạn Kim Phượng. Chúng tôi theo hướng dẫn của Trịnh Bửu Hoài đến quán Bảy Bồng ăn tối gần đó. Bữa cơm đặc sản cá mắm miền Tây khiến cho chúng tôi cảm thấy không còn mệt nhọc, rất hứng khởi được ghé lại thăm vùng đất “tiền tam giang/ hậu thất lĩnh” vô cùng trù phú và nhiều di tích ghi dấu son một thời…
            Hẹn gặp lại nhau vào lúc 7 giờ sáng hôm sau, để cùng nhau nâng tách café, nhâm nhi trà sớm. Quán mà Trịnh Bửu Hoài đưa chúng tôi đến có cái tên rất thơ là “Hương Phù Sa”, được trang trí, bày biện rất tự nhiên, kín đáo, thoáng mát, với nhiều cây cảnh nên thơ.  Sáng nay, có thêm nhà văn Đỗ Phu (chủ tịch Hội Văn học nghệ thuật thành phố Châu Đốc), và nhà nghiên cứu – biên khảo Đỗ Văn Ngôn nên cuộc sum họp thêm ấm cúng, vui vẻ! Lúc vào, tôi thoáng đọc được 2 câu thơ được chạm nổi trên vách quán rất ấn tượng: “Hương sắc Miền Tây tình đất Lĩnh/ Phù Sa đất mẹ nghĩa sâu dày” – đúng là cuộc đất của thơ ca và tình người!


             Tại đây, chúng tôi cũng được ăn món đặc sản “Bún cá Miền Tây” đậm đà, hấp dẫn. Theo dự định của anh Trịnh Bửu Hoài, chúng tôi sẽ tranh thủ đi thăm những nơi tiêu biểu của Châu Đốc, để 4 giờ chiều, còn quay lại Sài Gòn (theo đề nghị của chúng tôi). Thời gian ngắn quá, nhưng nhờ có sự thu xếp, hướng dẫn chí tình của Trịnh Bửu Hoài và quý anh Đỗ Phu và Đỗ Văn Ngôn; nên chỉ hơn 6 tiếng đồng hồ còn lại, mà chúng tôi “coi như” biết khá nhiều về vùng đất vùng cực Tây giàu tiềm năng của đất nước.
             Sau khi ghé lại thăm Hội Văn học nghệ thuật thành phố Châu Đốc, được tặng sách, được xem tranh ảnh triển lãm nơi phòng khách, được nhìn ngắm Bồ Đề đạo tràng trang nghiêm giữa lòng phố chợ, dược nghe anh Đỗ Văn Ngôn kể về sự tích cây Bồ Đề được mang về từ Ấn Độ năm 1952 - trải qua bao thăng trầm, vẫn uy nghiêm tỏa bóng; chúng tôi đến công viên thành phố để đón nắng sớm, hít thở những cơn gió mát từ ngã ba sông lồng lộng, để ghi hình tượng đài cá Ba sa - một tượng đài sinh vật đầu tiên ở An Giang, đã lưu lại trong tôi bao niềm cảm phục về một biểu tượng của sự trù phú và hòa bình; là niềm mơ ước chung của tất cả người dân miền Nam… Tượng đài cao khoảng 14 mét, chất liệu Inox, bệ đá granit – có bảng ghi nhớ: “Trên cột nước cao, cá Ba Sa vẫy mình, những con cá tra bu quanh họp thành bầy đàn 9 con; biểu trưng sức sống của vùng sông nước Cửu Long; làm nền vững chắc, tạo thế tung hoành, hòa nhập, lan tỏa, phóng khoáng – như tính cách người dân miền Sông Nước (…)”.
            Chúng tôi ghé thăm 2 khu vườn tượng trong quần thể du lịch núi Sam: Hai khu lưu giữ hơn một trăm bức tượng qua 2 lần An Giang tổ chức “Trại Sáng Tác Điêu Khắc Quốc Tế” vào năm 2003 và 2005. Riêng “Dấu Ấn An Giang 2005” đã quy tụ 35 tác giả người nước ngoài của 21 nước trên thế giới, và 25 tác giả người Việt Nam, tổng cộng là 22 nước; đã lưu lại cho An Giang một gia tài nghệ thuật điêu khắc đồ sộ, vô giá! Tôi nghĩ, đây là một thành công rất lớn của An Giang, trong nỗ lực xây dựng và phát triển văn học nghệ thuật một cách thiết thực và hữu ích, lâu dài, mà chưa có một tỉnh thành nào trong cả nước có thể làm được! Chúng tôi thi nhau ghi ảnh kỷ niệm quanh những bức tượng mỹ thuật đa dạng, hiếm có này…
             Địa chỉ chúng tôi ghé lại tiếp theo trong cuộc du hành là Miếu Bà Chúa Xứ núi Sam, và lăng mộ Thoại Ngọc Hầu trong quần thể du lịch tâm linh rất phong phú và đặc trưng của Châu Đốc. Đến đây, chúng tôi mới nhìn thấy rõ, niềm tin tâm linh trong đời sống mỗi người dân nơi đây thật đáng cảm phục! An Giang nói chung, và thành phố Châu Đốc nói riêng - đã luôn có một tầm nhìn sâu rộng về miền đất của mình đang sống, cho bây giờ và mai sau. Đã bảo tồn, xây dựng, tôn tạo các di tích tâm linh và lịch sử rất cẩn trọng; coi đó là niềm tự hào chung của dân tộc. Sự lưu giữ khu chợ Nhà Lồng Châu đốc được xây dựng từ năm 1952 với biểu tượng đầu Con Cọp trên nóc cao của một thời miền đất hoang vắng, là một ví dụ đáng được các địa phương “suy nghĩ” mỗi khi “đổi mới” trong quy hoạch và xây dựng đô thị. Chúng tôi vào Miếu Bà và lăng Thoại Ngọc Hầu đãnh lễ, hòa nhập thân thiện vào dòng người bốn phương xuôi về, với niềm hân hoan và tri ân…
            Đã gần 11 giờ trưa – Trịnh Bửu Hoài và quý anh Đỗ Phu, Đỗ Văn Ngôn, đưa chúng tôi đến thăm Đông Lai Thiền Viện (chùa Phật Nằm)- còn có tên gọi dân gian rất…hấp dẫn là “Chùa Bánh Xèo” ở thị trấn Tịnh Biên. Trịnh Bửu Hoài nói: “Đã gần giờ ăn trưa rồi, chắc anh và quý vị cũng cảm thấy… sốt ruột, mình  vào chùa thăm, và ăn bánh xèo no nê một bữa mà không phải trả tiền!”. Nhà chùa đã có “sáng kiến” phục vụ bánh xèo cho mọi người đến tham quan, thăm viếng từ nhiều năm nay, mà không tốn tiền! Phật tử của chùa phân công nhau, toán lặt rau, nhóm đổ bánh, người phục vụ - rất tươm tất, nhiệt tình, cho dầu có thời điểm người vào ăn lên đến cả trăm! Đặc biệt bánh xèo chay được đúc khuôn to, vàng đều, dĩa rau sạch nhiều loại quý hiếm, và nước chấm hấp dẫn! Chúng tôi mỗi người ăn no, từ 5, 6 cái, riêng tôi và Trịnh Bửu Hoài ăn đến 8 cái! (Ăn một bữa cho nhớ dai mà). Thầy Thích Thiện Chí (trụ trì), luôn hoan hỷ thăm hỏi, trò chuyện với chúng tôi, với lòng quý mến. Thầy còn đề nghị chúng tôi có dịp nào ghé lại lâu, sẽ có phòng nghỉ đàng hoàng cho tất cả…


           Điểm thăm tiếp theo sau bữa bánh xèo không bao giờ quên ở Chùa Phật Nằm của chúng tôi là Cửa khẩu Tịnh Biên – bên cạnh cột mốc biên giới Campuchia. Chỉ đi một đoạn vài chục mét nữa, là chúng tôi đã ở bên nước bạn. Ở đây, có cửa hàng miễn thuế, tha hồ mua sắm; tuy vậy du khách đến thăm cũng chỉ rải rác (có lẽ không phải là ngày nghỉ?). Nhìn xa ra cánh đồng mênh mông tràn ngập ánh nắng phía trước đã một thời khói lửa năm 1979, chúng tôi cảm nhận được sự hy sinh to lớn của những người dân ở đây, để giữ nguyên cuộc đất quê hương sâu đậm nghĩa tình nầy!
           Chuyến quay về thành phố, Trịnh Bửu Hoài còn cho chúng tôi đi dọc rừng thốt nốt bạt ngàn, cảnh trí an lành, tươi mát! Dù trời đang nắng to, đến đoạn có nhiều cây thốt nốt đẹp, Trịnh Bửu Hoài đều bảo dừng xe, để… mỗi người chụp hình, vì theo anh “lâu lắm quý bạn mới có dịp quay trở lại nơi đây”! Sự cẩn thận và nhiệt tình của anh đã khiến tất cả đều xuống xe (dầu đã hơi thấm mệt), đội nắng - chụp hình và nhìn ngắm, thư giãn dưới các lùm cây xanh mát… Anh Đỗ Phu và Đỗ Văn Ngôn trên “con ngựa sắt”cũng luôn theo kịp chúng tôi trên mỗi chặng đường, để cùng chia sẻ niềm vui, trò chuyện, và ghi hình!
          Chúng tôi dừng chân trạm cuối trước khi chia tay quay lại Sài Gòn là khu chợ trời Châu Long - cũng là nơi anh Trịnh Bửu Hoài đang sống, để thăm lại gia đình anh, giải lao, và nhất là mua “áo quần Sida” nhiều loại, đẹp, mới, không đụng hàng, rẻ nhất nước! Tôi đã tranh thủ lựa mua 3 chiếc áo ấm, chỉ có sáu chục ngàn đồng…
          Chúng tôi đã bắt tay anh, các anh Đỗ Phu, Đỗ Văn Ngôn – những người bạn văn Miền Tây hồn nhiên, chí tình!
          Xin được cám ơn An Giang – thành phố Châu Đốc thân yêu, hẹn ngày tái ngộ!

Quê nhà, ngày 6 tháng 3 năm 2014
MANG VIÊN LONG
          
            
            
              

                
          
            
           


Read more…

CÁCH NHẬP COMMENT TRÊN HƯƠNG QUÊ NHÀ

Đầu tiên, nhấp chuột vào ô Nhập nhận xét của bạn rồi viết comment. Viết xong, nhấp chuột vào ô Tài khoản Google. Sau đó nhấp chuột vào Tên/URL thì sẽ hiện ra 2 ô. Ô phía trên, ghi Họ và tên của bạn. Ô phía dưới, ghi dòng chữ:huongquenha.com

Cuối cùng, nhấp chuột vào ô Tiếp tục và nhấp chuột tiếp vào ô Xuất bản là xong. (Nếu bạn đã có sẵn Tài khoản Google, thì sau khi viết comment, chỉ cần nhấp chuột vào ô Xuất bản là thành công)

Số lượt xem tháng trước


-------------------------------------------------------------------------


TÁC GIẢ & TÁC PHẨM
* TÁC GIẢ & TÁC PHẨM * TÁC GIẢ & TÁC PHẨM * TÁC GIẢ & TÁC PHẨM * TÁC GIẢ & TÁC PHẨM---------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------
Ái Nhân (21) Ambrose Bierce (1) ẢNH (58) Anh Ngọc (1) Anh Nguyên (1) Anh Phong (4) Anh Phương (9) âm nhạc (2) âm thanh (1) Ân Thiên (1) Bạch Diệp (5) Bạch Lan (1) Bách Mỵ (2) BÀN TRÒN VĂN NGHỆ (87) Bảo Hồ (1) Bảo Lâm (1) Bảo Ninh (2) Bé Hải Dân (1) Bích Ái (3) Bích Lê (4) Bích Ngọc (1) Bích Vân (2) Bình Địa Mộc (3) Bình Nguyên (1) Bình Nguyên Trang (2) binh pháp (1) Bình Tâm (1) Bobby Nam Giang (3) Bùi Anh Sắc (1) Bùi Công Thuấn (1) Bùi Danh Hải Phong (1) Bùi Đức Ánh (66) Bùi Hoài Vân (5) Bùi Huyền Tương (2) Bùi Hữu Phước (1) Bùi Nguyên Bằng (25) Bùi Nhựa (4) Bùi Văn Bồng (5) Bùi Việt Thắng (2) BÚT KÝ (17) Ca Dao (2) Cao Duy Thảo (1) Cao Kim Quy (1) Cao Thị Thu Hà (3) Cao Thọ Thêm (2) Cao Thoại Châu (1) Cao Thu Hà (1) Cao Trọng Quế (2) Cao Văn Tam (5) Cát Du (7) Catherine Mansfield (1) Cẩm Lệ (4) Cẩm Tú Cầu (1) Chàng Cát (1) Chánh Đức (1) CHÀO XUÂN 2014 (1) CHÂN DUNG VĂN NGHỆ SĨ (2) Châu Đoàn (1) Châu Quang Phước (1) Châu Thạch (9) Châu Thường Vinh (1) Chí Anh (1) Chính Đức (1) chủ (1) CHỦ BIÊN (152) Chu Giang Phong (1) Chu Lai (2) Chu Ngạn Thư (10) Chu Trầm Nguyên Minh (16) Chu Vương Miện (1) Chúa Sơn Lâm (1) Cỏ Dại (7) covid 19 (1) Công Nguyễn (1) Cơ Xương (1) Cúc Dương (1) Cuộc thi văn chương (1) CỬA SỔ VĂN HÓA (6) Cửu Hùng (3) Dạ Ngân (1) Dã Phong Bình (2) Dã Phương (1) Dạ Thảo (2) Dạ Thy (1) Diệp Linh (18) Diệp Uy (1) Dino Buzzati (3) DỌC ĐƯỜNG (29) Dòng sông đêm (1) DÒNG SÔNG YÊU THƯƠNG (1) Du Tử Lê (1) Dung Thị Vân (28) Duy Anh (1) Duy Bằng (1) Duy Phạm (10) Dương Diệu Minh (1) Dương Đăng Huệ (1) Dương Hải Yến (2) Dương Hằng (7) Dương Kim Nhi (4) Dương Kim Thoa (1) Dương Phương Vinh (1) Dương Thành Thái (3) Dương Thị Yến Trinh (2) Dương Xuân Triều (6) Dzạ Lữ Kiều (6) Đàm Lan (17) Đan Ngọc (2) đạo đức (2) Đào Hiền (2) Đào Hữu Thức (2) Đào Khương (2) Đào Minh Hiệp (2) Đào Phạm Thuỳ Trang (82) Đào Quang Bắc (1) Đào Quý Thạnh (1) Đào Thanh Hoà (14) Đào Thị Quý Thanh (1) Đào Thị Thu Hiền (3) Đào Văn Đạt (31) Đào Viết Bửu (7) Đặng Châu Long (1) Đặng Diệu Thoa (1) Đăng Đăng (1) Đăng Huỳnh (2) Đặng Quốc Khánh (8) Đặng Quý Địch (3) Đặng Tấn Tới (2) Đặng Thị Hoa (2) Đặng Thị Xuân (1) Đặng Toán (1) Đăng Trình (1) Đặng Tường Vy (3) Đặng Văn Sử (1) Đặng Việt Trinh (1) Đặng Xuân Xuyến (9) ĐIỂM BÁO (2) Điêu Thuyền (1) Đinh Lốc (2) Đình Thậm (1) Đinh Vương Khanh (4) Đoàn Khương Duy (1) Đoàn Thị Minh Hiệp (4) Đoàn Tình (3) Đoàn Tuyết Thu (1) Đoản văn (1) ĐỌC SÁCH (30) Đỗ Chiến Thắng (6) Đỗ Duy Hoàng (15) Đỗ Hồng Ngọc (5) Đỗ KIm Dung (1) Đỗ Phu (1) Đỗ Quyên (2) Đỗ Tâm Linh (1) Đỗ Tấn Đạt (2) Đỗ Thị Kim Hải (2) Đỗ Trúc Hàn (1) Đỗ Văn Tiến (1) Đỗ Xuân Phương (1) Đức Linh (1) Đức Tiên (3) Elena Pucillo Truong (6) gan jing world (1) Ghi chép (2) Giang Đình (8) Giang Hiền Sơn (6) Giáo dục (1) Guy de Maupassant (1) Hà Đoàn (2) Hạ Ly (1) Hà Nguyên (2) Hà Nhi (1) Hà Nhữ Uyên (2) Hà Phi Phượng (1) Hạ Thi (3) Hà Thị Thu Hằng (1) Hà Tùng Sơn (1) Hải Điểu (1) Hải Miên (3) Hải Phong (2) Hải Thăng (1) Hải Thuỵ (6) Hải Yến (2) Hàm Sơn (1) Hàn Dã Thảo (2) Hàn Du Tử (17) Hàn Hữu Yên (1) Hàn Lâm (1) Hãn Nguyên Nguyễn Nhã (1) Hàn Nguyệt (1) Hàn Phong Vũ (19) Hàn Tín (1) Hạng Vũ (1) Hậu Cốc Ngang (1) Hậu Đậu (1) Hiếu Dũng (1) Hoa Hướng Dương (1) Hoa Mai (2) Hoa Tím Buồn (4) Hoa Tuyết (2) Hoà Văn (10) Hoa Xuyến Chi (1) Hoài Huyền Thanh (53) Hoan Giang (1) Hoàng Anh (6) Hoàng Anh 79 (26) Hoàng Chẩm (53) Hoàng Chẫm (1) Hoàng Đình Quang (2) Hoàng Giao (4) Hoàng Hạ Miên (6) Hoàng Hữu (1) Hoàng Khánh Duy (5) Hoàng Kim (1) Hoàng Kim Chi (1) Hoàng Kim Oanh (2) Hoàng Linh (6) Hoàng Long (2) Hoàng Lộc (8) Hoàng Mẫn (1) Hoàng Minh Tường (2) Hoàng Nghĩa Lược (1) Hoàng Ngọc Xuân (4) Hoàng Nguyên (1) Hoàng Nguyên Phương (3) Hoàng Phủ Ngọc Tường (1) Hoàng Thảo Chi (1) Hoàng Thị Bích Hà (1) Hoàng Thị Nhã (8) Hoàng Thị Thu Thủy (2) Hoàng Thông (1) Hoàng Trang (1) Hoàng Trần (1) Hoàng Trọng Quý (9) Hoàng Trọng thắng (1) Hoàng Tuấn Sơn (1) Hoàng Tuyên (2) Hoàng Vũ Thuật (1) Hoàng Xuân Hiến (1) Hoàng Xuân Niên (1) Hồ Bích Ngọc (4) Hồ Bích Vân (2) Hồ Đắc Thiếu Anh (1) Hồ Hải (2) Hồ Lê Diêm (1) Hồ Nam (1) Hồ Ngọc Diệp (1) Hồ Nhật Quang (1) Hồ Sĩ Duy (1) Hồ Thanh Ngân (10) Hồ Thế Hà (2) Hồ Thế Phất (3) Hồ Thế Sinh (1) Hồ Tĩnh Tâm (1) Hồ Tịnh Thuỷ (21) Hồ Vũ Khánh Linh (1) Hồ Xuân Thu (3) Hội Nhà văn TP. HCM (1) Hồng Hạnh (5) Hồng Liễu (1) Hồng Phúc (8) Hồng Tâm (10) Huệ Triệu (3) HUMICHI (5) Hùng Phan (1) Huy Nguyên (15) Huy Vọng (17) Huy Vũ (1) Huyết Kiệt (1) Huỳnh Dạ Thảo (1) Huỳnh Gia (18) Huỳnh Kim Bửu (1) Huỳnh Minh Lệ (2) Huỳnh Ngọc Nga (1) Huỳnh Ngọc Phước (29) Huỳnh Như Phương (1) Huỳnh Thanh Lan (1) Huỳnh Thị Quỳnh Nga (1) Huỳnh Thúy Thúy (1) Huỳnh Trang (1) Huỳnh Văn Diệu (1) Huỳnh Văn Mỹ (1) Huỳnh Văn Yên (1) Huỳnh Xuân Sơn (3) Hương Đêm (1) Hương Đình (4) Hương Quê Nhà (1) Hương Văn (6) Hửu Thỉnh (1) Irina Polianxkaia (1) James Dylan (4) James Joyce (1) Jeffrey Thai (9) Jerry Thu Trà (7) Kai Hoàng (1) Kate Chopin (1) Kha Tiệm Ly (4) Khả Xuân (1) Khán Võ (2) Khảo Mai (1) khoa học (1) Khổng Trường Chiến (3) Khổng Vĩnh Nguyên (1) Khuê Tú (1) KỊCH BẢN (1) Kiên Giang (1) Kiến Giang (12) Kiều Huệ (1) Kiều Lệ (1) Kim Chuông (4) Kim Dung (2) Kim Ngoan (15) Kim Quyên (1) Kim Sơn Giang (22) Kim Tiết (13) Kim Yến (1) Kỳ Nam (2) Ký sự (14) Lã Bố (1) La Hán (1) La Mai Thi Gia (1) Lạc Thảo (1) Lại Ngọc Thư (1) Lam Giang (3) Lan Anh (1) Lan Phương (1) Lan Thanh (1) Lãng Du (6) Lâm Bích Thuỷ (8) Lâm Cẩm Ái (3) Lâm Hạ (11) Lâm Huy Nhuận (1) Lâm Trúc (30) Lâm Xuân Vi (1) Lâu Văn Mua (1) Lê Ân (5) Lê Bá Duy (9) Lê Đình Danh (79) Lê Đức Hoàng Vân (1) Lê Đức Lang (13) Lê Giang Trần (1) Lệ Hằng (3) Lê Hoài Lương (4) Lê Hoàng (2) Lê Hợp (1) Lê Hứa Huyền Trân (39) Lê Khánh Luận (1) Lê Minh Chánh (1) Lê Minh Dung (2) Lê Minh Hải (4) Lê Minh Vũ (3) Lê Ngân (3) Lê Ngọc Phái (1) Lê Ngọc Trác (1) Lê Ngũ Nam Phong (11) Lê Nhựt Triết (8) Lê Phương Châu (30) Lê Quang Trạng (25) Lê Sa Long (2) Lê Thanh Hùng (34) Lê Thanh My (8) Lê Thấu (1) Lê Thị Cẩm Tú (6) Lê Thị Hồng Thắm (1) Lê Thị Kim (1) Lê Thị Ngọc Lệ (1) Lê Thị Ngọc Nữ (33) Lê Thị Thu Hiền (1) Lê Thị Xuyên (13) Lê Thiếu Nhơn (15) Lê Thống Nhất (6) Lê Thụy Phương (2) Lê Tiến Dũng (1) Lê Tiến Mợi (6) Lê Trọng Nghĩa (3) Lê Trung Hiếu (1) Lê Trung Tín (2) Lê Tuân (4) Lê Tuyền (1) Lê Uyên (1) Lê Văn Hiếu (12) Lê Văn Ngăn (3) Lê Vi Thuỷ (1) Lê Vinh (4) Lê Xuân Tiến (1) Lindsay Polak (1) Linh Lan (7) Linh Lan (Quảng Nam) (8) Linh Phương (3) Linh Thy (2) Lisa La (1) Long Khánh (4) Long Vương (1) luân hồi (1) Lữ Hồng (3) Lư Nhất Vũ (1) Lương Cẩm Quyên (1) Lương Duyên Thắng (3) Lương Đình Khoa (1) Lương Sơn (27) Lưu Ly (6) Lưu Quang Minh (15) Lưu Thành Tựu (1) Lưu Thị Mười (2) Lưu Xuân Cảnh (2) Lý Khánh Vinh (15) Lý Thành Long (1) Lý Thời Miễn (1) M.T.N.H (7) Mã Nhị Lan (1) Mạc Minh (2) Mạc Tố Hồng (1) Mạc Tường (2) Mai Đức Trung (6) Mai Hạnh (1) Mai Hoa (1) Mai Kiệm (1) Mai Loan (12) Mai Nhật (2) Mai Thanh (1) Mai Thị Vân (1) Mai Thìn (3) Mai Tuyết (37) Mang Viên Long (63) Marie Hải Miên (4) Mẫu Đơn (1) Mèo Con (1) Mi Thu (1) Miên Đức Thắng (2) Miên Linh (1) Minh Châu (2) Minh Đan (Lọ Lem Đất Võ) (6) Minh Nguyên (15) Minh Nguyễn (3) Minh Nguyệt (15) Minh Nguyệt (NT) (1) Minh Nhân Tông (1) Minh Phúc (2) Minh Vy (25) Mỗi tháng một tác giả và một bài thơ hay (2) Mộng Cầm (8) Mộng Nam (1) Mùa Xanh (3) Mưa (1) Mường Mán (1) MỸ THUẬT (6) My Tiên (1) Mỹ Vân (1) Nam Art (3) Nam Cao (1) Nam Thi (17) Năm Bửu (1) Nấm Độc (1) NCCGL (4) Ngàn Thương (33) Ngày Đẹp Tươi (1) nghệ thuật. (1) Nghĩa Trần (3) nghiên cứu (1) Ngọc Bút (8) Ngọc Diệp (35) Ngọc Sơn (1) Ngọc Thịnh (1) Ngọc Thủy (1) Ngô Càn Chiểu (1) Ngô Cự Chính (2) Ngô Diệp (6) Ngô Đình Hải (7) Ngô Hải (1) Ngô Hồng Nhung (1) Ngô Liêm Khoan (1) Ngô Minh Trãi (3) Ngô Nguyên Ngiễm (1) Ngô Thị Hoà (1) Ngô Thị Ngọc Diệp (10) Ngô Thuý Nga (30) Ngô Thúy Nga (16) Ngô Thy Học (7) Ngô Văn Cư (53) Ngô Văn Giảng (11) Ngô Văn Khanh (17) Ngô Viết Hòa (2) Nguyễn (1) Nguyễn An Bình (70) Nguyễn An Đình (4) Nguyễn Ánh 9 (1) Nguyễn Bá Nhân (1) Nguyễn Bích Sao Linh (1) Nguyễn Bình (1) Nguyễn Bính Hồng Cầu (2) Nguyên Cẩn (26) Nguyễn Châu (2) Nguyễn Chinh (4) Nguyễn Công Thụ (2) Nguyễn Công Tùng Chinh (1) Nguyễn Cử Tú Quỳnh (2) Nguyên Diệp (1) Nguyễn Dũng (1) Nguyễn Duy Khương (6) Nguyễn Duy Phương (1) Nguyễn Duy Thịnh (3) Nguyễn Đại Duẩn (2) Nguyễn Đặng Mừng (3) Nguyễn Đăng Thanh (20) Nguyễn Đăng Trình (4) Nguyễn Đình Bảng (1) Nguyễn Đình Trọng (1) Nguyễn Đoan Tuyết (25) Nguyễn Đồng Bội Thảo (1) Nguyễn Đức Chính (5) Nguyễn Đức Cơ (1) Nguyễn Đức Mậu (2) Nguyễn Đức Minh (6) Nguyễn Đức Minh Hùng (10) Nguyễn Đức Nhân (1) Nguyễn Đức Phú Thọ (26) Nguyễn Đức Quyền (4) Nguyễn Đức Tấn (6) Nguyễn Đức Tình (4) Nguyễn Gia Long (1) Nguyên Hạ (11) Nguyễn Hải Thảo (2) Nguyễn Hậu (2) Nguyễn Hiếu (8) Nguyễn Hiếu Học (2) Nguyễn Hòa Hiệp (2) Nguyễn Hoài Ân (1) Nguyễn Hoàng Thức (2) Nguyễn Hồng Diệu (1) Nguyễn Huệ (3) Nguyên Hùng (1) Nguyễn Huy (3) Nguyễn Huy (HD) (1) Nguyễn Huy Khôi (1) Nguyễn Huỳnh (1) Nguyễn Hữu Minh (1) Nguyễn Hữu Phú (1) Nguyễn Hữu Quý (2) Nguyễn Hữu Thuần (11) Nguyễn Hữu Trung (2) Nguyễn Khiêm (1) Nguyễn Khoa Đăng (51) Nguyễn Kiều Lam (2) Nguyễn Kiều Phương (3) Nguyễn Kim Hương (7) Nguyễn Kim Thịnh (1) Nguyễn Lam (2) Nguyễn Lương Vỵ (4) Nguyên Minh (1) Nguyễn Minh Dũng (46) Nguyễn Minh Hoà (1) Nguyễn Minh Khiêm (1) Nguyễn Minh Nguyệt (1) Nguyễn Minh Phúc (47) Nguyễn Minh Quang (5) Nguyễn Minh Thuận (9) Nguyễn Minh Toàn (1) Nguyễn Mỳ (1) Nguyễn Mỹ Nữ (3) Nguyễn Nga (14) Nguyễn Nghiêm (3) Nguyễn Ngọc Dũng (1) Nguyễn Ngọc Đặng (1) Nguyễn Ngọc Hà (4) Nguyễn Ngọc Hưng (6) Nguyễn Ngọc Minh Anh (1) Nguyễn Ngọc Thơ (31) Nguyễn Ngọc Tư (5) Nguyễn Nguy Anh (21) Nguyễn Nguyên Phượng (69) Nguyễn Nhật Hùng (4) Nguyễn Như Tuấn (14) Nguyễn Phin (30) Nguyên Phong (1) Nguyễn Phú Yên (8) Nguyễn Phượng (2) Nguyễn Phương Dung (2) Nguyễn Quang Quân (8) Nguyễn Quang Tâm (2) Nguyễn Quang Tuấn (1) Nguyễn Quân (2) Nguyễn Quốc Ái (1) Nguyễn Quốc Bảo (1) Nguyễn Quốc Đông (1) Nguyễn Quy (2) Nguyên Tâm (1) Nguyễn Tấn Thuyên (3) Nguyễn Thái An (3) Nguyễn Thái Dương (6) Nguyễn Thái Huy (35) Nguyễn Thành Công (48) Nguyễn Thành Giang (22) Nguyễn Thanh Hải (1) Nguyễn Thanh Huyền (8) Nguyễn Thanh Mừng (1) Nguyễn Thánh Ngã (1) Nguyễn Thành Nhân (18) Nguyễn Thanh Tuấn (7) Nguyễn Thanh Xuân (2) Nguyễn Thế Kiên (1) Nguyễn Thế Kỷ (1) Nguyễn Thị Ánh Huỳnh (2) Nguyễn Thị Bích Phượng (2) Nguyễn Thị Cẩm Thuỳ (3) Nguyễn Thị Chi (2) Nguyễn Thị Diệu Hiền (3) Nguyễn Thị Hải (1) Nguyễn Thị Hằng (7) Nguyễn Thị Hậu (1) Nguyễn Thị Hồng Đào (10) Nguyễn Thị Huệ (1) Nguyễn Thị Kim Huệ (2) Nguyễn Thị Mây (127) Nguyễn Thị Ngọc Hải (1) Nguyễn Thị Ngọc Sen (2) Nguyễn Thị Như Tâm (3) Nguyễn Thị Phụng (27) Nguyễn Thị Thanh Bình (6) Nguyễn Thị Thành Nhân (1) Nguyễn Thị Thanh Toàn (1) Nguyễn Thị Thanh Xuân (1) Nguyễn Thị Thu Ba (23) Nguyễn Thị Thu Hiền (1) Nguyễn Thị Thu Hoài (1) Nguyễn Thị Thu Thuý (3) Nguyễn Thị Thùy Linh (3) Nguyễn Thị Tiết (3) Nguyễn Thị Tuyết (1) Nguyễn Thị Việt Hà (39) Nguyễn Thị Xuân Hương (14) Nguyễn Thu Hằng (1) Nguyễn Thủy (4) Nguyễn Thúy Ngân (13) Nguyễn Thuý Quỳnh (2) Nguyễn Thường Kham (3) Nguyễn Thượng Trí (2) Nguyễn Tiến Đường (8) Nguyễn Trần (1) Nguyễn Trí Tài (40) Nguyễn Trọng Luân (2) Nguyễn Trung (1) Nguyễn Trung Nguyên (1) Nguyễn Tuyển (4) Nguyễn Văn Ân (68) Nguyễn Văn Bút (6) Nguyễn Văn Công (2) Nguyễn Văn Cường (CCK) (4) Nguyễn Văn Đông (1) Nguyễn Văn Hiến (5) Nguyễn Văn Hoà (5) Nguyễn Văn Hòa (3) Nguyễn Văn Học (55) Nguyễn Văn Ngọc (1) Nguyễn Văn Thanh (1) Nguyễn Văn Thành (1) Nguyễn Văn Thảo (17) Nguyễn Văn Toan (1) Nguyên Vi (1) Nguyễn Việt Hà (2) Nguyễn Vinh (1) Nguyễn Vĩnh Bình (3) Nguyễn Xuân Cảm (3) Nguyễn Xuân Dương (1) Nguyễn Xuân Khánh (1) Nguyễn Xuân Thuỷ (1) Nguyễn Xuân Thủy (1) Nguyễn Xuân Tư (3) Nguyệt Linh (5) Nguyệt Quế (1) Ngưng Thu (44) Nhã Ngọc (1) Nhã Thiên (7) nhà Thương (1) Nhân Hậu (2) NHÂN VẬT (1) Nhật Nguyệt Xuân Hương (1) Nhật Quang (17) Nhất Sinh (1) Nhật Vũ (1) Nhi Hạ (1) NHỚ THUỞ ẤU THƠ (37) Như Hoài (4) NHỮNG ÁNG VĂN HAY VỀ LÀNG QUÊ VIỆT NAM (7) NHỮNG NGƯỜI BẠN ĐÂT THỦ (6) NHỮNG NGƯỜI THỰC HIỆN HQN (5) Nông Quốc Lập (2) NP phan (1) Nửa Đời hư (1) NỬA THÁNG MỘT TÁC GIẢ VÀ MỘT BÀI THƠ HAY (37) nước (1) O. Henry (1) P.N. Thường Đoan (1) Pearl (1) Phạm Ánh (34) Phạm Anh Xuân (3) Phạm Bá Nhơn (2) Phạm Cao Hoàng (1) Phạm Đình Nghi (1) Phạm Đình Trung (1) Phạm Hổ (1) Phạm Hữu Hoàng (20) Phạm Kiều Hưng (1) Phạm Lâm (1) Phạm Lê Tường Vi (1) Phạm Minh Dũng (14) Phạm Minh Hiền (9) Phạm Minh Thuận (12) Phạm Mỹ (1) Phạm Ngân (3) Phạm Như Vân (1) Phạm Phan Hòa (1) Phạm Phương Lan (1) Phạm Quỳnh An (1) Phạm Thái Ba (4) Phạm Thị Hải Dương (9) Phạm Thị Liên (1) Phạm Thị Mỹ Liên (30) Phạm Thị Phương Thảo (3) Phạm Thuý (6) Phạm Trần Ái Linh (4) Phạm Trung Tín (2) Phạm Tuấn Vũ (29) Phạm Tử Văn (21) Phạm Văn Hải (4) Phạm Văn Phương (19) Phạm Văn Thạnh (1) Phạm Vũ (1) Phan Anh (12) Phan Cung Việt (1) Phan Đức Nam (1) Phan Hoài Thương (1) Phan Hoàng (2) Phan Huỳnh Điểu (1) Phan Hữu Lý (1) Phan Khanh (2) Phan Mai Thư Nhã (6) Phan Nam (20) Phan Quỳnh Như (1) Phan Sửu (1) Phan Tấn Lược (6) Phan Thanh Cương (2) Phan Thị Huỳnh Trang (2) Phan Tiên Phát (1) Phan Tình (1) Phan Trang Hy (25) Phan Văn Bình (1) Phan Văn Thạnh (1) Phan Văn Thuần (3) Phan Vĩnh (1) phần 1 (1) phần 2 (1) phần 3 (1) phần 4 (1) Phiêu Vân (1) Phong Dương (2) Phong Điệp (1) Phỏng vấn (8) Phú Ngọc (1) Phú Quang (3) Phú Xuân (8) Phùng Gia Lộc (1) Phùng Hiếu (10) Phùng Hiệu (1) Phùng Hoàng Chương (1) Phùng Phương Quý (7) Phụng Thiên (1) Phùng Văn Khai (1) Phước Vũ (1) Phương Phương (10) Phương Uy (5) Quan Thế Âm (1) Quảng Ngọc (1) Quảng Ngôn Lê Ngữ (1) Quang Thám (1) Quang Tuấn Dũng (9) Quốc Hùng (2) Quốc Tuyên (1) Quý Hòa (1) quy luật dịch (1) Quỳnh Lệ (1) Quỳnh Nga (16) Quỳnh Trâm (1) Rason Helmandollar (1) Raymond Carver (1) Raymond Thư (1) Rêu (Cao Hoàng Từ Đoan) (13) SÁCH BẠN VĂN (71) SARAH HALL (1) SINH NHẬT (1) Song Ninh (11) Sông Hương (11) Sông Lam (1) Sông Song (9) Sơn Thạch (1) Sơn Tịnh (2) Sơn Trần (15) Sruthi Thekkiam (1) Stephen Crane (1) T.T.Hiếu Thảo (22) Tạ Nghi Lễ (1) Tạ Thị Hoa (14) Tam quốc diễn nghĩa (4) TẢN VĂN (230) TẠP BÚT (624) Tạp chí Văn Mới (1) TẠP CHÍ VN BÌNH DƯƠNG (11) Tashi Dawa (1) Tâm Lãng (1) Tâm Nhiên (2) Tấn Hòa (1) Tần Khánh (4) Tân Vương Huy (1) TẬP SAN ÁO TRẮNG (39) Tập san Văn học nghệ thuật Hương Quê Nhà (1) Tây bá hầu Cơ Phát (1) Tây Du Ký (1) Tây Sơn bi hùng truyện (2) Thạch Anh (2) Thạch Cầu (1) Thạch Đà (7) Thạch Lam (1) Thạch Sene (5) Thái An Khánh (2) Thái Hoà (1) Thanh Bình Nguyên (27) Thành Dũng (1) Thanh Hải (1) Thanh Huyền (2) Thanh Lương (2) Thanh Minh (6) Thanh Phong (1) Thanh Sơn (1) Thanh Thảo (3) Thanh Trắc Nguyễn Văn (42) Thanh Tùng (7) Thành Văn (3) Thạnh Văn (1) Thanh Xuân (2) Thảo Nguyễn (1) Thâm Tâm (1) Thần Y (1) Thế Tuyên (3) Thi Ngọc Lan (1) Thiên Ân (1) Thiên Di (5) Thiên Sơn (1) Thiên Thần Áo Trắng (7) Thiên Tôn (10) Thiên Trần (1) Thiệp chúc mừng năm mới (4) Thiệp chúc Tết (3) Thiệp mừng (3) Thông báo (1) Thơ (3152) Thơ Lê Nhựt Triết (1) THƠ MỜI HOẠ (7) THƠ PHỔ NHẠC (155) Thời sự Văn nghệ (6) Thu Dung (3) Thu Hằng (1) Thu Hiền (1) Thu Hoài (1) Thu Nga (5) Thuận Thảo (8) Thuận Yến (1) Thục Minh (7) Thuỳ Anh (13) Thuỵ Du (1) Thụy Du (3) Thuỳ Dương (1) Thùy Dương (1) Thủy Điền (1) Thuỳ Nhân (1) Thư cảm ơn (1) Thư ngỏ (1) THƯ NGỎ CỦA HQN (2) Thư tin (285) THƯ VIỆN TÁC GIẢ (1) Tiểu luận (4) Tiểu Mục Đồng (1) Tiểu Nguyệt (5) Tiểu thuyết (107) Tiêu Tương (1) Tin buồn (2) TIN VĂN (2) Tịnh Bình (19) Tịnh Minh Tiến (2) Tô Hải (1) Tô Hồng Phương (1) Tô Kiều Ngân (1) Tố Mai (9) Tô Minh Yến (21) Tôn Nữ Hỷ Khương (2) Tôn Thất Út (2) Tôn Tư Mạc (1) Tống Ngọc Hân (1) Tống Xuân Tám (1) Trà Bình (4) TRABATHA (1) Trác Phi (1) Trang Linh (1) Trang Lộc (1) Trang Thơ Chào Xuân Mậu Tuất 2018 (1) TRANG THƠ CHỦ NHẬT (530) Trang Thơ Đón Xuân Đinh Dậu 2017 (1) TRANG THƠ ĐƯỜNG LUẬT (17) Tranh ảnh (3) Trầm Mặc (4) Trần Anh Dũng (1) Trần Bảo Định (4) Trần Băng Khuê (1) Trần Biên Thùy (1) Trần Dần (1) Trần Duy Đức (17) Trần Dzạ Lữ (4) Trần Định (1) Trần Đình Sử (2) Trần Đoàn Luận (1) Trần Đức ÁI (2) Trần Đức Hiển (1) Trần Đức Tín (1) Trần Hà Nam (4) Trần Hoàng Vy (2) Trần Hồng Vân (5) Trần Huiền Ân (2) Trần Huy Minh Phương (2) Trần Hữu Du (1) Trần Hữu Hội (17) Trần Kim Đức (5) Trần Kim Loan (2) Trần Kim Quy (1) Trần Lê Sơn Ý (2) Trần Linh Chi (1) Trần Long Thạch (1) Trần Lưu (1) Trần Mai Hường (11) Trần Mạnh Hảo (1) Trần Minh Nguyệt (16) Trần Năm (1) Trần Ngọc Hồ Trường (4) Trần Ngọc Mỹ (11) Trần Nguyên Hạnh (6) Trần Nhã My (2) Trần Như Luận (3) Trần Nhương (1) Trần Phù Nam (1) Trần Quang Dũng (4) Trần Quang Khanh (14) Trần Quang Lộc (1) Trần Quang Ngân (10) Trần Quốc Tiến (8) Trần Quốc Toàn (1) Trần Quốc Việt (1) Trần Tâm (7) Trần Thái Hưng (5) Trần Thanh Hải (3) Trần Thành Nghĩa (1) Trần Thế Nhân (13) Trần Thị Bích Thu (1) Trần Thi Ca (9) Trần Thị Cổ Tích (2) Trần Thị Huệ (1) Trần Thị Huyền Trang (3) Trần Thị Mai (1) Trần Thị Ngọc Hồng (1) Trần Thị Thanh (5) Trần Thị Thắng (1) Trần Thị Thương Thương (4) Trần Thị Trúc Hạ (1) Trần Thị Uyên (8) Trần Thiện (3) Trần Thiện Tuấn (1) Trần Thoại Nguyên (2) Trần Thuận (7) Trần Thúy Lành (6) Trần Thuỳ Trang (1) Trần Thư (1) Trần Thương Nhiều (1) Trần Trọng Hưng (2) Trần Trọng Tân (1) Trần Trọng Vũ (2) Trần Tuấn Anh (2) Trần Tuấn Thanh (10) Trần Vạn Giã (2) Trần Văn Bạn (16) Trần Văn Nhân (5) Trần Văn Thiên (1) Trần Việt (1) Trần Viết Dũng (11) Trần Võ Thành Văn (24) Triết học (2) Triều Âm (2) Triều Châu (1) Triều La Vỹ (2) Triệu Lam Châu (1) Triệu Từ Truyền (30) Trịnh Bửu Hoài (105) Trịnh Duy Sơn (2) Trịnh Hoài Linh (5) Trịnh Huy (4) Trịnh Thuỳ Mỹ (1) Trịnh Tuyên (1) Trịnh Viết Hiền (1) Trịnh Viết Hiệp (1) Trịnh Yến (2) Trọng Mật (3) trụ vương (1) Trúc Giang (4) Trúc Lập (1) Trúc Linh Lan (2) Trúc Thanh Tâm (12) Trúc Thuyên (3) trung quốc (1) Trung Trung Đỉnh (1) Trung Y (1) Truong Nguyen (1) Truyện dài (10) TRUYỆN DỊCH (17) Truyện ký (2) TRUYỆN NGẮN (1173) TRUYỆN VỪA (14) Trương Công Tưởng (16) Trương Diễm Phiến (1) Trương Đình Phượng (8) Trương Đình Tuấn (3) Trương Hồng Phúc (14) Trương Huỳnh Như Trân (2) Trương Lan Anh (1) Trương Nam Chi (5) Trương Thanh Cường (2) Trường Thắng (65) Trương Thị Thanh Tâm (22) Trương Thị Thúy (2) Trường Thịnh (6) Trương Tri (2) Trương Văn Dân (21) Trương Viết Hùng (1) TTM (1) Tuấn Nguyễn (7) Tuấn Quỳnh (3) Tuệ Mỹ (1) Tuti (2) Tuỳ bút (2) TÙY BÚT (120) Tuyết Nhung (2) Tuyết Vân (1) tứ đại mỹ nhân (1) Tường Vi (1) TX (1) Út Lãng Tử (1) Uyên Khuê (2) Uyên Minh (1) Uyển Phan (1) Vạn Lộc (1) Vành Khuyên (1) Văn (2483) Văn Công Mỹ (2) văn hóa truyền thống (5) Văn học nước ngoài (13) Văn Lưu (1) Văn Nguyên (1) Văn Nguyên Lương (7) Văn Nhược Ba (1) Văn Thạnh (2) Văn Thành Lê (1) Văn Thắng (23) Văn Trọng Hùng (1) Vân Đồn (3) Vân Giang (12) Vân Khanh (2) Vân Phi (32) Vân Tùng (2) Vi Ánh Ngọc (2) Vi Quốc Hiệp (1) Victor Remizov (1) VIDEO CLIP (2) Viễn Trình (25) Việt Quỳnh (1) Việt Trang (1) Việt Trương (1) Vĩnh Sơn (7) Vĩnh Thông (44) Vĩnh Tuy (21) Võ Bá Cường (1) Võ Chân Cửu (17) Võ Chí Nhất (3) Võ Công Liêm (1) Võ Diệu Thanh (18) Võ Dõng (1) Võ Đông Điền (4) Võ Hà (1) Võ Hạnh (2) Võ Mỹ Cát (1) Võ Ngọc Thọ (4) Võ Như Văn (3) Võ Thanh Mỹ (1) Võ Thị Nga (13) Võ Thị Thu Thủy (1) Võ Thuỵ Như Phương (15) Võ Văn Hoa (1) Võ Văn Luyến (1) Võ Xuân Phương (3) Vũ Bình Lục (1) vũ đạo (1) Vũ Đình Huy (9) Vũ Đình Liên (1) Vũ Đình Minh (1) Vũ Đình Nguyệt (2) Vũ Đình Thung (2) Vũ Đức Trọng (1) Vũ Hạ (1) Vũ Hạnh (3) Vũ Hùng (2) Vũ Miên Thảo (5) Vũ Thanh (1) Vũ Thành An (1) Vũ Thị Huyền Trang (115) Vũ Thụy Khuê (8) Vũ Trọng Quang (1) Vũ Trọng Tâm (2) Vũ Trọng Thanh (1) Vương Doãn (1) Vương Hạnh (1) Vương Hoài Uyên (4) Vương Tâm (3) Xanh Nguyên (4) Xuân Đài (1) Xuân Phong (6) Xuân Phương (1) Xuân Tiến (20) Ý Thu (3) Yên Kha (7) Ziken (2)
-------------------------------------------------------------------------
+ 817 TÁC GIẢ CÓ BÀI ĐĂNG TRÊN HƯƠNG QUÊ NHÀ
-------------------------------------------------------------------------