Home » TẢN VĂN
Viết nhân sinh nhật người ta.
Ngày em ra đời, đất trời vần vũ y như những ngày hôm nay. Những ngày hôm nay, mưa lụt hoành hành, dâng lên khắp miền Trung, tôi đọc báo, xem truyền hình thấy buồn lòng trước cảnh bà con cô bác gặp nạn. Vui vẻ gì mà sinh với nhật, nhưng tôi chợt nghĩ cuộc sống phải tiếp diễn chứ. Tử làm nên sinh, cho đi làm ra nhận vào như quy luật muôn đời của cuộc sống.
Xưa Tế Hanh có những ngày nghỉ học hay tới sân ga xem người ta tiễn biệt, thấy lòng buồn đau xót nỗi chia xa một cách vu vơ. Còn tôi vu vơ thấy cuộc đời dương gian theo lý thuyết thì rất ngắn ngủi nhưng vẫn dài với tôi. Gắn với tình yêu - điều thiêng liêng, chỉ để chiêm nghiệm hơn là kể ra. Không có hoặc giấu đi những điều mơ mộng này thì kể như cắt bỏ một phần tâm hồn tôi.
Hoài niệm những cơn mưa Đà Nẵng, những đêm không trăng, không những vì sao lấp lánh trên bầu trời. Khung cảnh không yên bình, không tĩnh lặng làm cho lòng cả hai tê tái. Giờ đây một mình giữa màn mưa tầm tã, bước chân lặng lẽ, trên vai trĩu nặng nỗi sầu. Tôi lạc bước giữa làn gió lạnh trên con đường xưa rất ngắn nhưng tôi bước hoài vẫn không thấu chạm. Vào dòng thời gian thầm lặng xưa tôi đã chọn. Ở đó có tôi có em trọn vẹn bên nhau. Còn bây giờ chỉ là hoa đốm phù du, hụt hẫng như thể mình vừa mất đi báu vật riêng mang.
Giờ đây tôi không còn ở tuổi hồ hỡi yêu thương nhưng rung động về tình yêu mãi có trong tôi. Thỉnh thoảng tôi vẫn giật mình nhớ về những người con gái đã đi qua đời tôi nhẹ tênh, để lại trong tôi những vết hằn năm tháng.
*
Trong mơ, tôi ước một lần được gặp lại nụ cười hồn nhiên của em như ngày xưa xa lắc. Tôi sẽ chạy đến bên em, lau những giọt nước mắt dỗi hờn và ôm chặt em vào lòng. Để thỏa trong tôi ấn tượng ban đầu - xao lòng bởi ánh mắt, khuôn mặt xinh xắn đáng yêu. Có vẻ khó gần nhưng mãi gần rồi mới thấy, chỉ là cảm giác sai lạc, em thật dễ thương dễ mến.
Tuổi hai mươi nhiều lần yêu đơn phương và dường như bây giờ cũng còn nếu tôi không dối lòng. Là lặng lẽ nhìn người ta vô tình, vui với ai đó. Là thẫn thờ nhìn xa xăm khi nghe một bản tình ca cũ. Là khi đi qua những con đường ấy, nhớ lại những kỉ niêm ấy, những cảnh cũ người xưa. Lòng se lại, chỉ muốn chạy tới bên người và nói ta nhớ người biết bao.
*
Vậy đó, đơn giản chỉ là vu vơ chẳng có lý do nào cả. Khi mà trái tim tôi luôn hướng về, đập loạn xạ không điều khiển được. Tưởng người luôn ở bên tôi, luôn là bờ vai cho tôi mỗi khi tôi kêu buồn.
Em dù cao niên nhưng dưới mắt tôi vẫn như ngày nào trẻ trung, sôi nổi, hồn nhiên như ngày nhỏ dại. Chỉ có điều ở ngoài tầm với, do đổ vỡ không cưỡng cầu, không níu kéo, như đã an bài từ xa lắc xa lơ. Chỉ còn đó ám ảnh đôi mắt buồn- đôi mắt mà một thời tôi như bơi trong dòng nước mùa thu ngập ngụa.
N.P
Vũ Đình Huy
Ông mặt trời ló ra khỏi rặng tre đầu làng, xua đi ngọn gió đông còn sót lại. Nắng xuân ấm áp đang hong những vạt sương rải đầy lối đi. Tôi có dịp công tác ghé qua nhà. Gặp mẹ nơi cây đa đầu làng. Mẹ đi làm đồng sớm. Mẹ nhìn tôi từ đầu đến chân, mắng yêu: “Đã lâu không về, tưởng quên bà mẹ này ở quê rồi! Hay lại nhớ bún riêu cua chứ gì?”.
Quê tôi cũng như bao vùng quê khác, con cua là món ăn dễ kiếm từ đồng ruộng, không phải mất tiền mua. Chỉ cần loáng một cái, men theo các bờ ruộng, cặm cụi chốc lát là có bữa canh riêu. Cua đồng có thể chế biến thành nhiều món ngon, bổ dưỡng, dễ ăn. Riêng tôi, thích nhất là món bún riêu mẹ nấu.
Tôi về trước, ngồi nhà đợi mẹ. Mẹ về, áo quần lấm lem bùn đất, mồ hôi nhễ nhại, tay xách một bao to cua đồng. Tôi phụ mẹ nhặt những con cua kềnh, lưng vàng ngậy để riêng. Những con bé mẹ băm nhỏ cho gà, vịt. Mẹ hì hụi làm bếp. Mùi hành thơm lừng bốc lên làm cho cái bụng háu đói của tôi sôi gào. Thằng em út lăng xăng quanh vườn kiếm mớ rau sống. Khi cả nhà ngồi vào mâm, nhìn nồi riêu thơm lừng bốc hơi, mùi tía tô, húng, chanh nồng nồng làm cho tôi bồi hồi nhớ về cái thời còn niên thiếu.
Cứ vào độ lúa làm đòng, rồi ngậm sữa, sau buổi đi học về tôi dắt trâu ra đồng và không quên xách theo cái giỏ để bắt cua. Lội dọc theo bờ ruộng, cứ tìm thấy hang nào có đất mới đùn ra cửa thì chắc chắn trong đó có cua. Hang to rộng thường là nơi trú ngụ của những con cua đực càng to tướng, thân màu vàng sẫm. Cẩn thận, nếu không cái càng ấy mà bập vào ngón tay thì cứ là giãy nảy, nước mắt ứa ra. Ngày đó cua đồng chẳng xa lạ gì với lũ trẻ chúng tôi. Cái con vật có thân màu nâu sẫm, có hai càng thường cứ giương lên, tám cẳng và chỉ bò ngang. Thế nên, trẻ con mới có câu ca thường hay đố nhau: “Con gì tám cẳng hai càng/ Chẳng đi mà lại bò ngang cả ngày”.
Những ngày hè nắng nóng, cua thường rúc vào hang hoặc bò lên bờ để tránh nắng. Khi ông mặt trời bớt đổ lửa, dòng nước mát mẻ, những chú cua rời hang để tìm nhau, rong ruổi quanh ruộng lúa. Những lúc ấy trông thấy chúng sao mà hiền lành đến ngô nghê. Tôi khẽ bước tới, thò tay nhẹ nhàng tóm gọn cho vào giỏ. Thực ra mùa nào đồng ruộng cũng có cua sinh sản và phát triển. Nhưng cua mùa xuân ăn ngon hơn, có lẽ do thời tiết mát mẻ, thức ăn đầy đủ.
Tôi đổ cua ra thùng gánh nước vì sợ cua bò đi mất. Đàn cua lúc nhúc, hoảng sợ, xô đẩy lẫn nhau nghe lao xao. Tôi chọn những con cua mới lột xác để rang, những con cua già to nhặt ra để nấu canh, còn lại cho vào vại để muối. Với món riêu, trước khi chế biến, mẹ ngâm cua vào nước vo gạo cho bớt mùi tanh của bùn. Mẹ múc gầu nước đổ vào thùng rửa cua cho sạch. Rồi mẹ ngồi nhặt bỏ mai, yếm, khều lấy phần gạch. Phần thịt, càng cho vào cối giã thật nhuyễn. Cua giã xong được lọc vài lần qua lớp vải màn, lấy nước rồi bắc lên bếp củi đun nhỏ lửa, khi bắt đầu chín, thịt cua kết lại thành miếng. Khi thấy tảng thịt ấy nổi lên, mẹ đưa đũa khuấy nhẹ để thịt cua không đọng lại dưới đáy. Mẹ nhẹ nhàng đổ gạch cua vào khiến nồi nước sóng sánh, vàng nghệ, mới nhìn cũng đã thấy muốn ăn. Cuối cùng mẹ cho rau muống, rau đay hoặc mồng tơi đã thái nhỏ cùng mấy lát mướp thơm vào nồi. Đun sôi kĩ, được nồi canh cua đồng ngon tuyệt. Có bữa mẹ nấu canh cua với khế chua hay cà tím cho thêm lá hẹ, húng quế vào. Mùi hẹ, mùi húng quế quyện với riêu cua làm cho nồi canh thơm dịu. Cua đồng có thể chế biến được nhiều món như rang muối, kho rim ớt tỏi, canh riêu, nấu cháo với rau má… Nhưng thích nhất với tôi vẫn là món bún riêu cua.
Cua bắt ở hang sạch sẽ, thường béo nhiều gạch, nhiều thịt, ăn ngon hơn. Sau khi được mẹ chế biến xong món riêu, cho bún, hành vào bát, chan nước riêu cua và nước màu lên trên ăn kèm với đĩa rau sống tươi thì thật là quá ngon miệng trong những ngày hè nóng bức. Nước riêu thanh ngọt vị của cua, thơm vị hành phi, ngậy của tóp mỡ, màu nước vàng óng, đẹp mắt, rau sống tươi ngon. Tuy vậy, để nấu được món bún riêu cua chẳng hề đơn giản. Khó nhất là nấu được nồi nước, ngọt vị cua chứ không bị tanh, bánh cua to, gạch cua vàng ươm trông đẹp mắt. Mẹ thường cho thêm chút mắm tôm để hương vị bát bún riêu thêm đậm đà.
Lớn lên, tôi khoác ba lô lên đường nhập ngũ vào quân đội. Cứ mỗi lần nghỉ phép về thăm nhà, mẹ lại ra đồng bắt cua về làm món bún riêu mà tôi thích. Mẹ nói: “Bây giờ cua cũng hiếm dần do thuốc hóa học. Nhưng món ăn đơn giản này mà con thích thì mẹ cũng cố làm được”. Nghe mẹ nói mà lòng tôi nghẹn ngào xúc động.
Nhiều năm rồi, giờ về quê, mẹ đã đi xa, bún riêu mẹ nấu chỉ còn là hoài niệm. Nhớ bún riêu cua thì ra hàng quán để cảm nhận một chút kí ức mà thôi. Bún riêu cua nhà hàng không ngon như bún riêu cua của mẹ. Đã rất nhiều lần tôi thử hỏi vì sao riêu cua mẹ nấu lại ngon tuyệt vời như thế. Có lẽ những con cua sinh ra từ đồng đất làng quê yêu dấu, được nấu bằng bàn tay khéo léo và cả tấm lòng yêu thương của mẹ? Giữa mùa hè nóng nực, sau buổi làm về mồ hôi lấm tấm, ngồi vào bàn ăn chan bát riêu vào bún trong ánh mắt chan chứa yêu thương của mẹ càng thấm đượm vị ngon của tình cảm gia đình, món bún riêu càng thêm ý vị. Riêu cua nhà hàng, họ dùng máy, xay nhỏ cua nên đôi khi có lẫn cả vỏ ăn nham nhám. Còn món bún riêu của mẹ, đặc biệt trên mỗi bát bún mẹ còn cắt thêm vài lát thân chuối non thật mỏng, vị chuối ngọt chát giúp xua đi vị tanh của cua nên hương vị của bát bún riêu cứ thơm lừng.
Ruộng đồng quê tôi giờ đây kênh mương đã bê tông hóa, chẳng còn mấy bờ đất cho cua có nơi trú ngụ. Thuốc trừ cỏ, trừ sâu khiến cua đồng dần như tuyệt chủng. Bát canh cua vốn là thức ăn bình dân của nhà nông nay trở thành đặc sản. Có nhà hàng lại còn mua thứ “bột cua” cho vào tủ lạnh, khi khách gọi thì múc một thìa cho vào nồi nấu “tốc hành” để cho ra một thứ riêu lễnh loãng, nổi váng lềnh bềnh, vị tanh lờ lợ. Không ngon, đương nhiên rồi!
Thời gian trôi qua, những kỉ niệm tuổi thơ ngọt ngào ngỡ đã đi vào kí ức quên lãng, vậy mà vẫn mãi còn đọng lại một góc nhỏ nơi tâm hồn của những người xa quê, để rồi thỉnh thoảng có dịp dậy lên lao xao trong niềm nhung nhớ tưởng như vừa mới xảy ra ngày hôm qua.
Chiều chiều, ánh mắt cứ nhìn về xa xăm nơi miền quê yêu dấu. Chẳng còn phảng phất khói bếp lam chiều thoảng mùi rơm rạ nữa; mà sao tôi thấy cứ lao xao bao nỗi nhớ quê với những kí ức, những món ăn dân dã đậm nét hương đồng mà nhất là món bún riêu cua. Mỗi lần ngồi trong nhà hàng máy lạnh, trước món “bún riêu cua đặc sản”, tôi chỉ biết lẳng lặng, ngậm ngùi thèm nhớ bát bún riêu cua mẹ nấu.
N.Đ.D (Quảng Bình)
Con người thật lạ, cái gì qua đi mới tiếc nhớ, trân quý. Ngay cả một món tài sản rất đáng quý là thời gian. Có những lúc chúng ta tiêu xài thời gian một cách lãng phí, để nó trôi đi trong vô nghĩa. Ai cũng có tuổi xuân. Tuổi xuân mỗi người cứ lặng im trôi qua và chúng ta cũng lặng lẽ già. Bài học ấy, phải đến một độ tuổi nào đó mới hiểu rõ ngọn nguồn.
Ngay như cuộc sống mỗi người cứ chinh phục các đỉnh cao, đôn đáo mưu sinh, kiếm tiền để giàu có, hơn người. Chúng ta bị cuốn sâu vào cuộc sống vội vã, tấp nập, gấp gáp. Thậm chí nhanh đến không thể kìm giữ. Từ kỷ nguyên nào, không biết nữa, loài người đã có câu “thời gian là vàng bạc”. Con người chạy đua với thời gian. Thời gian chạy đua với con người. Máy móc và trí tuệ nhân tạo cũng đua với con người. Khi lâm vào căng thẳng, con người bắt đầu sợ thời gian, sợ tốc độ, sợ cả những món ăn nhanh. Người ta muốn sống chậm lại, kìm giữ bản thân lại, cả những công việc bộn bề. Chúng ta muốn trốn thành phố ồn ào tấp nập, tìm về những miền quê yên tĩnh, vắng tiếng ồn của máy móc xe cộ, nhưng hào phóng tiếng gió, tiếng chim chóc và sắc diệp lục. Nhiều người tìm về các resort để nghỉ ngơi, xả bớt căng thẳng, ngột ngạt, tiếp thêm năng lượng, dũng khí vượt qua áp lực sắp tới.
Đến ngay cả Tết, người ta cũng lo Tết. Mà thật, những ngày Tết giờ đây cũng trôi qua quá nhanh. Mỗi người lo toan cả tháng trời, vèo trôi mấy ngày rồi… hết. Để chuẩn bị cho Tết bây giờ người ta cũng phải vắt chân lên cổ chạy lo sắm đồ. Công nghệ và các dịch vụ có thể phục vụ ta tất cả, nhưng không thể nghĩ thay, mà chúng ta phải chi tiền cho tất cả các dịch vụ, kể cả mua sắm đồ dùng trong những ngày Tết Nguyên đán. Vậy nên, càng ở những đô thị “chạy nhanh” như Hà Nội, TP Hồ Chí Minh, người ta càng ngại Tết, bởi phải lỉnh kỉnh mua sắm, lo biếu xén, quà cáp. Và bởi người ta bận bịu đến nỗi không thể chậm lại được. Lại nữa, Tết đến và qua nhanh có nghĩa là một năm cũng vèo trôi, con người cũng mau già, người ta mới cảm thấy hoang mang trong đời người ngắn ngủi.
Cái gì quá tải cũng không tốt. Frederick Oliver thật có lý khi nói rằng: “Nếu có việc gì đáng làm, nó đáng được làm chậm rãi”. Cuộc sống hiện đại đã khiến con người cứ phải dấn bước, nhanh chóng. Mà nhanh cũng sẽ có lúc trở thành… quá tải. Cho nên con người ngày nay mới phải tập ngồi thiền, tập yoga nhiều hơn, tập cười và có những câu lạc bộ tập cười ra đời.
Xét đến cùng, dịp Tết là cơ hội cho nhiều người xả hơi, ít nhất trong một đến hai ngày. Nhiều người thành phố đổ về quê đoàn tụ với gia đình, sống chậm, thanh thản bên những ngôi nhà cổ, nhà vườn, dướp nếp rêu phong cổ kính của làng quê, cùng hòa vào nền nếp sinh hoạt lễ nghĩa họ mạc. Họ tham gia các chợ phiên nơi vùng quê. Cũng mặc cả, cũng ngã giá, nhưng chỉ để cho vui, nở nụ cười sảng khoái. Họ cần đón lấy cái ân cần, tử tế, chân chất, đong lấy cái tình cái nghĩa ở nơi làng quê. Thực chất là muốn đắm vào sự phóng khoáng mộc mạc của đời sống dân sinh, nhàn tản ngắm hoa, chăm hoa, đón tiếp họ hàng, nấu những món ăn giản dị.
Có người lại chọn cho mình cái Tết bằng chuyến đi phượt thật xa, để tìm cảm giác mới, hít thở khí trời ở nơi vùng biên viễn, rừng núi hoang sơ, chụp những tấm ảnh hoa cỏ trong tiết xuân ấm, chớp lấy hình những em bé mặt nhem nhuốc nơi cao nguyên đầy gió, thưởng thức những món ăn của các dân tộc ít người... Đó là nhu cầu có thật, ngày càng nhiều và thậm chí đã thành một trào lưu. Nhiều gia đình tụm hai, ba đã lên những kế hoạch từ trước đó cả tháng. Bởi với họ, đi theo nhóm gia đình tạo nên những hứng khởi cho tất cả các thành viên. Cốt lõi của vấn đề là hòa quyện với thiên nhiên. Ngay cả vơi tôi, đó cũng là một sự khao khát. Chỉ thiên nhiên mới giúp tâm hồn ta thư trái, bình tâm lại, ngẫm nghĩ về những giá trị của cuộc sống. Thiên nhiên độ lượng hơn chúng ta tưởng. Thiên nhiên đã dưỡng nuôi con người, chở che và gìn giữ. Thiên nhiên đã chịu những áp lực lớn lao do cuộc sống con người mang lại, oằn oại vì hệ quả của lối sống nhanh và gấp gáp của con người, rồi thiên nhiên vẫn nhẫn nại tiếp nhận con người trong cuộc vùng vẫy đi tìm sự thanh thản và ngọt mát.
Có nhà văn hóa đã thốt lên: Không ai có thể cưỡng lại được cỗ máy thời gian. Suối thời gian cứ tuôn chảy, khiến nhiều người lo lắng. Cuộc sống cũng có quá nhiều sự thúc bách, ngột ngạt, thậm chí bận bịu đến mức người ta không còn thời gian để xem mình bao nhiêu tuổi, khuôn mặt mình đã già đi mấy phần. Nên có những người mải mê làm lụng, đầu tắt mặt tối, khi ngẩng mặt lên mới biết mình… già. Ai rồi sẽ có lúc chẳng còn đam mê tốc độ nữa, mà muốn ghim mình vào sự nhàn tản. Với tôi, khi có cơ hội sống chậm lại, ăn chậm, đi chậm thì tôi cố gắng tận dụng. Tận dụng để dần được sống trong đô thị chậm, thư giãn và suy tưởng trong không gian sinh thái và ít tiếng ồn.
Quay trở về với những ngày Tết. Tôi nghiệm ra, ngày Tết cũng là những ngày để mình được thoát ra khỏi bao lo lắng. Lúc đó, chúng ta có quyền sống chậm, ít nhất là để thấy cuộc đời thật sự đáng sống và ý nghĩa.
N.V.H
Đầu hồi bên trái ngôi nhà ngoại có cây điều già rất to. Không biết “đại thụ” được trồng từ bao giờ, mà ngày bé, những dịp Tết nhất, giỗ chạp chúng tôi thường túm tụm chơi trốn tìm, chơi đồ hàng ở dưới gốc đó và đã thấy cây cao to lắm rồi.
Cây điều này, có lẽ già nhất trong vườn nhà ngoại, gốc to cả một ôm tay, sần sùi những u những bướu. Cách gốc cây chừng bốn mươi phân vẫn còn vết hằn chỗ cậu Út xích con vàng thuở nào. Con vàng chết vì già tự bao giờ mà dấu tích thì cụ điều vẫn còn lưu lại đến bây giờ. Cậu Út bảo sợi kẽm ngày nào đã lặn vào trong cây vì cậu quên không cởi bỏ ra. Thật tội nghiệp cụ điều! Rồi tháng tháng ngày ngày, một lớp vỏ mới bao bọc, một sẹo lồi vòng quanh che lấp sợi dây kẽm. Cụ điều vững chãi rả xuống mấy cành thấp vươn xoãi rộng, có cành la đà sát mặt đất. Bọn con nít chúng tôi tha hồ leo trèo lên đó rồi nhún rồi nhảy thích thú vô cùng.
Cậu Út bảo, ngày ngoại còn sống dạy, chỉ cần nhìn lá cây điều già này là biết được “tiết trời” năm ấy. Thời tiết ở Bình Phước “thủ phủ của trái điều vàng” rất đặc trưng cho khí hậu hai mùa mưa nắng miền Đông Nam Bộ. Hết mùa mưa, cây điều bắt đầu rụng lá. Lá rụng lá rơi rất đúng quy luật tự nhiên. Lá điều rụng xuống làm tấm thảm ngăn không để nước bốc hơi, giữ độ ẩm cho vườn rồi từ từ hoang hoải lại thành lớp mùn lẫn vào lớp Bazan đỏ thẫm vốn đã mỡ màu. Âm thầm dưới lớp mùn tự nhiên đó, con giun, con dế, con mối, con kiến thoải mái thức ăn và bộ rễ vĩ đại của cụ điều tha hồ mà đưa dưỡng chất lên làm cuộc sinh tồn. Khi những lộc non tia tía bật nhú đầu cành thì tiết trời đã se se lạnh. Kỳ diệu thay, chỉ dăm bữa nửa tháng, lớp lá non đã xanh biếc đầu cành. Và cụ điều lặng lẽ đơm bông. Đơm bông, kết trái, trái điều chín có màu đỏ cam, tỏa một hương vị rất riêng. Mà cụ điều có trái và hột không to như các giống điều ghép, điều cao sản nhưng vị ngọt đậm đà, ít chát và năm nào cũng đúng dịp chẳng chịu lỗi mùa.
Những trái chín bói đầu mùa, hay vào dịp Tết đều được ngoại hái rồi chưng cùng các loại hoa quả khác. Hương điều thơm thơm lan tỏa, quyện với hương trầm thật ấm cúng.
Anh Tần con dì Hai, nhỏ Mai, nhỏ Cúc con dì Tư và tôi đều thích về nhà ngoại. Chúng tôi tự hái những trái điều chín mọng thấp lè tè vào chấm muối ớt. Chén muối dầm ớt hiểm đỏ tươi cay xé lưỡi, quả điều chan chát ngòn ngọt mê ly.
Cả nhà ngoại và nhà tôi ai cũng thích quấn bánh tráng với trái điều chín. Lựa cây điều có trái ít chát xắt lát thêm ít rau thơm, tai heo, lưỡi heo luộc chấm mắm nêm. Chao ôi ghiền!
Thích nhất là những hôm rảnh rỗi, theo cậu út ra vườn nướng hạt điều. Cậu kéo chúng tôi ra xa, xa tận góc vườn vì mùi hạt điều nướng khiến ngoại khó chịu. Ngoại bảo hột điều đang tươi đốt nướng bốc hơi khen khét hôi hôi. Mà đúng là hột điều tươi nướng bốc mùi hôi thiệt. Nhưng bù lại, sau khi cháy hết tinh dầu lớp vỏ cứng, nhân điều bên trong đã chín thì hương vị của nó lại thơm thơm ngầy ngậy, quyến rũ vô cùng. Cời hột điều đen nhẻm, nóng hôi hổi ra khỏi lớp than hồng, tụi tôi kê “chiến lợi phẩm” lên cục đá to, lấy cục đá nhỏ hơn đập… Muốn ăn phải lăn vô bếp chẳng sai chút nào. Chúng tôi không dám nướng vì sợ phỏng, nhưng cậu Út bảo, cậu nướng cho rồi tự đập mà ăn. Nhân hột điều vừa nướng, nóng giòn, ăn vừa béo vừa bùi. Ăn một lúc mặt mày tay chân đứa nào đứa nấy lọ lem, nhìn thiệt mắc cười quá xá.
Dì Tư có tài chẻ hạt điều tươi. Dì kềm chặt cái rựa, ngửa lưỡi lên trời, đặt hạt điều lên rồi dùng chày đánh nhẹ, hạt tách làm hai, dì dùng mũi dao cạy nhân ra. Nồi chè hạt điều ngày Rằm hay mùng Một thơm lừng. Chè hạt điều vừa công phu, vừa sang vừa ngon đến mê người. Cậu Út bảo “Đệ nhất chè” quả chẳng sai.
Cả vườn điều nhà ngoại đã được cậu Út thay bằng giống điều ghép mới năng suất cao, lá, trái và hột đều to. Nhờ điều mà không những nhà ngoại mà những gia đình khác trong xã đều khấm khá, cho con cái học hành tới nơi tới chốn. Nhà cửa khang trang sáng sủa… nhưng ông ngoại vẫn thích giữ lại cây điều già ngay đầu hồi nhà. Hoài niệm đâu dễ buông quên vì lúc về Tân Khai mua đất cất nhà, ông ngoại đã trồng cây điều này chống nắng hướng Tây, nhờ đó mà căn nhà luôn mát mẻ. Mùa điều chín thì hương thơm, thơm đến độ thân quen. Dưới gốc điều là cái võng đung đưa, là nơi các cháu chơi ô ăn quan, chơi bán đồ hàng. Trên tán lá, nơi chạc cành thỉnh thoảng lại có mớ dây tơ hồng bám, những sợi tơ vàng ươm buông thõng lay phay theo gió trông mới thơ mộng làm sao. Ngoại ngước nhìn lên cây điều già, bất giác thở dài. Cây điều đã cỗi, mình cũng già lắm rồi! Trải qua thăng trầm thời gian bền bỉ trụ vững với đời cây điều già luôn rì rào đón gió, xòe tán mời gọi chim chóc đến làm tổ, nghiêng che cái nắng gắt của mùa khô Nam bộ.
Và khi những cơn gió lành lạnh ùa về vào sáng sớm, báo hiệu xuân đến nhìn cụ điều vững chãi vươn rộng tán cành che chở căn nhà yên ấm yêu thương thật trân quý vô cùng. Cụ điều già thay áo đầu tiên, trên cành xương trơ trụi xuất hiện những lộc non đỏ tía. Cùng với lộc là những chồi bông. Bông điều từng chùm nhỏ màu trắng, điểm những chấm tím li ti. Điều trổ bông, tỏa mùi thơm dịu. Mùi thơm bông điều phảng phất trong gió rất khó định hình mà khắc đậm trong tâm. Cành la cành bổng, cành gần cành xa từng chùm từng chùm bông điều đơm dày ken. Điều non mới đậu, chẳng thấy trái đâu, chỉ thấy hột hình thận thon thon như những dấu hỏi ai treo hờ hững đầu cành.
Cây điều già lặng lẽ đứng, nghiêng che bảo bọc cho ngôi nhà. Ngoại không còn nữa nhưng năm nào cây điều cũng sai quả và cậu Út lựa hái những trái đầu mùa thắp hương. Chúng tôi, dù đã lớn vẫn mè nheo cậu ra vườn nướng hạt điều, kể chuyện ngày xưa.
Ngày nay về Hớn Quản, ta dễ dàng được thưởng thức những món ngon từ hạt điều. Chè hạt điều, hạt điều nấu la - gu, nấu cà - ri, nấu xôi, làm nhân bánh, làm kẹo hạt điều, hạt điều sấy, hạt điều rang muối, hạt điều rang bơ… Món nào cũng ngon và hấp dẫn... Nhưng sao tôi thấy không thể sánh được với hạt điều nướng với kiểu nướng than củi điều ngoài vườn, những hạt điều cháy xèo xèo, mùi hăng hắc khó chịu. Trong khi nướng thỉnh thoảng xịt khói kêu cái phụt, khiến những đứa đứng hóng phải giật mình. Những hạt điều nóng giòn thơm lừng, ngầy ngậy ngày xưa ấy vẫn luôn in đậm trong tâm trí chúng tôi.
N.T.N.D
Tôi sinh ra và lớn lên ở vùng sông nước, tuổi thơ tôi bồng bềnh trôi theo những dòng sông quê. Bởi vậy dòng nước sông mát lành trong vắt thân thuộc như hơi thở, như sự sống. Con sông bắt đầu từ nơi nào xa lắm, về đến quê tôi uốn lượn, ôm ấp làng bãi, cho cá tôm đầy ắp..., bồi đắp phù sa cho mùa màng tốt tươi, cuộc sống vì thế mà bình dị yên ấm.
Với mỗi người dân quê, dòng sông như lòng mẹ bao la, đầy ắp yêu thương. Tôi lớn lên biết ơn dòng sông như biết ơn người mẹ thứ hai của mình. Trưởng thành, lập nghiệp ở phố thị phồn hoa, dòng sông trở thành niềm nhớ miên man. Và trong cõi nhớ ấy, bến sông chính là nơi trú ngụ bình yên nhất của tâm hồn người. Biết bao lần, tôi thèm được trở lại bến sông xưa, ngụp lặn trầm mình trong dòng nước mát, vốc từng kỷ niệm tuổi thơ êm đềm.
Còn đó từng đám lục bình trôi theo con nước, neo đậu bên những chiếc xuồng ba lá nhè nhẹ xuôi theo dòng mà lòng bình yên đến lạ. Còn đó những ngày vui đùa với lũ bạn ở quê quen thuộc, đuổi nhau té nước, ném bùn đất, tiếng cười hồn nhiên vang khắp mặt sông. Còn đó dáng mẹ tôi ngồi giặt giũ áo quần, kỳ cọ xoong chảo khi nắng chiều vừa tắt. Đôi mắt thỉnh thoảng ngước nhìn xa xăm. Cứ mỗi chiều tà hay hừng đông trời sáng, những chiếc xuồng neo trên bến sông bán hàng bông rau cải, bán rau, bán cá, tôm do chính những người nông dân ra đồng bắt được từ tối qua hay những chiếc xuồng bán bánh cam, bánh còng cho trẻ con cứ bập bềnh trên mặt nước. Tất cả như còn in đậm trong tôi đã từng sống và lớn lên nơi miền sông nước.
Dòng sông đi qua tháng ngày, bến sông còn mãi với thời gian nhưng đã thưa dần bóng những đứa trẻ, dần không còn ai ra tắm giặt hay gánh nước. Trên lối đi cỏ dại phủ đầy. Một chiếc cầu sắt hiện đại bắc qua sông, vĩnh viễn không còn thấy bóng con đò chở khách năm xưa. Bến sông nhộn nhịp thủa nào giờ quạnh vắng đìu hiu. Nhưng không phải vì thế mà ân tình với sông quê nhạt phai trong tâm trí.
Tôi và lũ bạn ngày xưa, tất cả đều được sông quê nâng đỡ chở che, lớn lên mỗi người một nẻo đường. Cuộc sống dù đủ đầy xa hoa hay còn lận đận truân chuyên nơi xứ người nhưng tất cả vẫn một lòng đau đáu với sông quê, với những điều bình dị và thiêng liêng nhất.
“Sông vẫn chảy như nỗi niềm da diết
Ai tha hương mới hiểu hết nỗi lòng...”.
Sống giữa thành phố công nghiệp ồn ào náo nhiệt, thật khó tìm cho mình một khoảng lặng để tâm hồn thư thái, chỉ có thể về với dòng sông yên bình thủa xưa. Và may mắn thay dòng sông quê tôi chưa bị ô nhiễm, dù con người không còn sử dụng nước sông để sinh hoạt nhưng nó vẫn âm thầm chở nặng phù sa bồi đắp cho cánh đồng làng quê thêm trù phú. Mái tóc tôi không còn xanh nhưng dòng sông thì vẫn trẻ, con nước hiền hòa biếc trong, đôi bờ ngô mía tốt tươi. Tiếng hát của ca sĩ Anh Thơ chợt vang lên đâu đó như nói hộ lòng tôi “Quá nửa đời phiêu dạt, con lại về úp mặt vào sông quê. Ơi con sông dạt dào như lòng mẹ, chở che con đi qua chớp bể mưa nguồn”.
Bây giờ không còn con sông để tắm mát những trưa hè biết tìm ở đâu những ngày thơ ấu? Để rồi mai đây trên đường đời tấp nập chợt vô tình ngoảnh lại - dòng sông quê sao mà thân thương quá đỗi, để thấy trong sự lớn lên của mình có vị ngọt phù sa hòa lẫn trong dòng nước mát lành…
D.L
CÁCH NHẬP COMMENT TRÊN HƯƠNG QUÊ NHÀ
Đầu tiên, nhấp chuột vào ô Nhập nhận xét của bạn rồi viết comment. Viết xong, nhấp chuột vào ô Tài khoản Google. Sau đó nhấp chuột vào Tên/URL thì sẽ hiện ra 2 ô. Ô phía trên, ghi Họ và tên của bạn. Ô phía dưới, ghi dòng chữ:huongquenha.com
Cuối cùng, nhấp chuột vào ô Tiếp tục và nhấp chuột tiếp vào ô Xuất bản là xong. (Nếu bạn đã có sẵn Tài khoản Google, thì sau khi viết comment, chỉ cần nhấp chuột vào ô Xuất bản là thành công)