Home » Trần Thúy Lành
Trần Thúy Lành (Hải Dương)
Tiếng lợn kêu eng éc vì bị chọc tiết xuyên qua màn đêm, xuyên qua bức vách, len lỏi vào những giấc mơ êm đềm của hai chị em tôi. Cu Thạo choàng tỉnh, giật mình, xoay người từ cuối giường lộn lại ôm ghì lấy tôi. Một tay tôi luồn xuống dưới gáy Thạo cho nó gối đầu, tay kia tôi xoa lưng nó. Giấc ngủ chập chờn trở lại nhưng không hiểu sao những giấc mơ bình yên biến mất, thay vào đó là những cơn ác mộng kinh hoàng. Tôi nhìn thấy những con lợn bị chọc dao nhọn vào giữa cuống họng, máu túa ra, như cầu vồng, bắn tung tóe lên chiếc áo đồng phục trắng tinh của tôi. Tôi giặt mãi không sạch. Những vết máu đỏ loang lổ. Tôi đi tìm lọ thuốc tẩy Javen nhưng không thấy. Ai lấy cái lọ thuốc tẩy Javen mất rồi. Thạo ơi! Tìm cho chị lọ thuốc tẩy. Thạo ơi… Cu Thạo sì sục, mắt nhắm mắt mở: “Em đây mà! Chị lại mơ rồi”. Đúng là tôi mơ… Tôi nhìn thấy một đàn lợn con rúc vào bẹ sữa của lợn mẹ. Người đàn ông làm nghề lái lợn, râu ria xồm xoàm, xắn tay áo đến tận nách, bắt từng chú lợn con quăng sang một bên. Lợn mẹ bị trói lại. Cu Thạo cũng bị trói lại. Tôi hét lên, giãy giụa để thoát khỏi bàn tay cứng như gọng kìm của một người đàn ông lái lợn. Ối… ối… Trống ngực tôi đập thình thịch. Tỉnh giấc. Mồ hôi đầm đìa. Ở bên ngoài, trời mới tờ mờ. Tiếng mẹ lanh lảnh:
- Chỗ thịt này mang đi bán buôn ở chợ huyện. Chỗ này bán lẻ ở chợ làng.
Tiếng bố ồm ồm:
- Nhồi lòng đi. Nhanh lên!
- Anh có thích ăn tiết canh không?
- Có! Hôm nay mồng một. Làm một bát cho đỏ.
Ngày nào cũng thế, bố mẹ tôi bắt đầu làm việc từ 2, 3 giờ đêm. Khi các nhà vẫn say giấc thì bố mẹ tôi đã vùng dậy, vào chuồng lợn, chọn vài con để làm thịt. Tiếng lợn kêu vang động cả xóm. Mọi người phàn nàn vì mất giấc ngủ nhưng lâu dần họ cũng đành “sống chung với lũ”. Tôi và Thạo thì vẫn tỉnh giấc vào giờ đó.
Một tháng mổ lợn bán còn hơn cấy ruộng cả năm. Mẹ cộng trừ nhân chia, nhẩm tính rất nhanh. Tiền bán ruộng được bao nhiêu, mẹ đem mua vàng, chỉ giữ lại một chút làm vốn buôn lợn. Lúc đầu, mẹ nhìn thấy lợn bị chọc tiết đã hoa cả mắt, tưởng như có thể xỉu đi. Bàn tay mẹ trói lợn lóng nga lóng ngóng. Thế mà chỉ vài tháng sau, mẹ làm thuần thục, nhoay nhoáy. Phải dậy từ nửa đêm, mẹ cứ ngáp ngắn ngáp dài nhưng chỉ cần có tiền là mẹ tỉnh như sáo. Có tiền thì những khoản đóng học cho chị em tôi, điện, nước, chợ búa, cỗ bàn, quần áo… mẹ không phải chi li, đắn đo. Có tiền rủng rỉnh, mẹ mua vàng cất vào tủ. Thế là chấm dứt những ngày túng thiếu, cắn dứt nhau vì tiền. Mỗi chiều, mẹ ngủ bù đến gần tối nhưng quầng thâm dưới hai mắt mẹ không hề mất đi. Tôi và cu Thạo làm gì cũng phải nhẹ nhàng, chỉ sợ gây tiếng động làm mẹ tỉnh giấc. Mẹ sẽ gắt gỏng. Mẹ sẽ mắng mỏ. Nhà cửa ầm ĩ cả lên. Mẹ khó tính từ ngày ấy. Mẹ đáo để cũng từ ngày ấy. Bà ngoại nhận ra mẹ thay đổi nhiều quá nên thủng thẳng:
- Vừa vừa thôi con ơi! Đàn bà ghê gớm thì ai người ta dám lấy con gái mình. U thương con Thuần.
Mẹ dài giọng, cự lự:
- U buồn cười nhỉ! Thời buổi này chỉ có đứa nào đần thì mới hiền thôi. Con ghê gớm chứ có buôn gian bán lận hay ăn quỵt của ai bao giờ đâu.
Ngoại thở dài, đưa cái cối giã trầu cho tôi nghiền hộ một miếng. Ngoại nghiện cái thứ này giống như mẹ tôi nghiện vàng. Trên người mẹ đeo đầy vàng. Trong ngăn tủ của mẹ cũng đựng toàn vàng.
***
Những buổi chiều rong ruổi đi mua lợn khắp nơi, thi thoảng bố lại về muộn. Nhiều hôm bố không ăn tối ở nhà. Tiền hàng cứ vơi dần. Linh cảm của người vợ mách bảo mẹ rằng bố có người đàn bà khác. Mẹ lẳng lặng đi theo bố. Mẹ tìm hiểu về người đàn bà kia. Một người phụ nữ góa chồng. Mẹ đã có bằng chứng trong tay, chỉ chờ bố thú nhận. Nhưng bố chối bay chối biến:
- Tôi đi làm đi ăn mà cô cứ ghen bóng ghen gió là sao?
Mẹ bĩu môi:
- Đồ hèn! Dám làm mà không dám nhận.
- Cô bảo ai là đồ hèn?
- Thà anh nghiện rượu, nghiện cờ bạc thì tôi còn đỡ khinh. Nhưng anh cặp với con đàn bà ấy thì tôi coi thường.
Nhà như địa ngục. Lúc nào cũng ngột ngạt, bức bối. Bố càng đi vắng nhiều hơn nhưng đến giờ mổ lợn thì bố có mặt ở nhà. Những con lợn tiếp tục được hóa kiếp sau tiếng éc… éc. Hai người làm như hai cái máy. Chẳng ai nới với ai câu nào. Cu Thạo ôm ghì lấy tôi, thì thào:
- Em sợ tiếng lợn kêu! Em sợ lắm, chị Thuần ơi!
Tôi vỗ về, trấn an:
- Ngủ đi! Nó chỉ là con lợn thôi. Hóa kiếp này nó thành kiếp khác.
Thạo nghi ngờ:
- Thật không hả chị?
- Thật.
Hai chị em lại ôm nhau ngủ tiếp. Nhưng giấc ngủ không còn êm đềm nữa…
Tôi theo mẹ đến tận nhà người đàn bà góa kia để đánh ghen. Tôi giúp mẹ túm tóc mụ ta, để cho mẹ xé toạc quần áo của mụ thành trăm mảnh. Tiếng mẹ the thé: “Đồ lăng loàn! Đồ cướp chồng! Cho mày chết này!…” - Mẹ nghiến răng kèn kẹt. Những móng tay sắc nhọn của mẹ cào cấu cơ thể trắng nõn của mụ ta. Máu túa ra, đỏ như tiết lợn. Mụ ta hét lên. Tiếng hét lẫn với tiếng lợn kêu eng éc…
Choàng tỉnh, tôi thấy bố ngồi bên bàn ăn với cốc rượu trắng và bát tiết canh màu đỏ. Bố uống một cốc, hai cốc, rồi ba cốc mà vẫn còn thèm thuồng… Hơi rượu tỏa ra từ người bố nồng nặc khiến cu Thạo không dám đến gần. Chai rượu hết sạch. Bố gầm gừ, hất hàm sai tôi:
- Con gái rượu của bố! Đi mua cho bố chai nữa.
Tôi răm rắp làm theo. Tôi sợ. Sợ cơn thịnh nộ của bố. Nồi niêu, chén bát sẽ bay vèo ra sân, cái nào không vỡ tan tành thì cũng méo mó. Nhà tôi như một bãi chiến trường. Tôi lại phải dọn. Mẹ sẽ chì chiết. Tôi sợ tiếng chì chiết của mẹ.
***
Người đàn bà góa bỏ bố đi lấy chồng. Mẹ chưa kịp mừng ra mặt thì phát hiện những người đàn bà khác vẫn ngày ngày đào mỏ, cố moi được cái hầu bao của bố. Mẹ gọi đám đàn bà ấy là “lũ cave”. Mẹ coi thường bố ra mặt. Mẹ quản lý chặt tài chính của gia đình. Ừ, thử xem, đàn ông không một xu dính túi thì có con đàn bà nào dám lăn xả vào nữa không. Quả nhiên, chiến thuật của mẹ có tác dụng.
Nhiều hôm, bố không có nổi mấy nghìn tiền lẻ để mua rượu. Bố quắc mắt:
- Thuần! Mua cho bố chai rượu.
Tôi nhỏ nhẹ:
- Bố cai rượu đi, mệt lắm!
- Lại cái giọng của con mẹ mày. Đừng có dạy đời!
Con ma men ngày càng hành hạ bố. Cơ thể người đàn ông gần tứ tuần, khỏe mạnh, cường tráng giờ trông ọp ẹp, thảm hại. Bố không còn sức để vật ngửa con lợn ra mà chọc tiết giữa đêm khuya nữa. Mình mẹ, mẹ cũng không làm nổi. Mà chả tội gì mẹ phải làm đồ tể. Mẹ ăn diện. Mẹ phấn son. Mẹ tung tẩy váy áo. Nhìn bố như cái xác không hồn, chỉ toàn da bọc xương, mẹ chán ngắt. Mẹ quyết định đi lao động ở Đài Loan. Tôi biết mẹ hận bố nên mẹ mới bỏ mặc bố trong lúc bố ốm đau như thế này. Bố không dám ngăn cản mẹ. Bà ngoại cũng không gàn được mẹ. Trước khi lên máy bay, mẹ dặn tôi:
- Con lớn rồi, phải biết lo việc học, việc nhà thay mẹ. Mẹ đi cũng là vì tương lai của các con.
Tôi nuốt nước mắt, để mẹ yên lòng khi đi xa. Tiền với mẹ cũng không phải là thiếu nhưng chưa bao giờ là đủ. Tôi biết mẹ đã tích được rất nhiều vàng, thi thoảng mẹ lại đổ ra giường đếm rồi lại cất đi vì trên người mẹ chẳng còn chỗ nào để đeo được nữa. Bố nhìn thấy vàng thì dửng dưng. Hai con người ấy trước kia yêu nhau, bị cấm cản vì “không môn đăng hộ đối”, vì ông bà ngoại tôi chỉ bằng tuổi anh trai của bố, họ đã dọa dắt nhau bỏ đi khỏi nhà hoặc cùng nhau tự tử để được ở bên nhau mãi mãi. Thế mà sau mười lăm năm, mỗi người một nơi. Có lần mẹ tâm sự với bạn, tôi vô tình nghe được: “Tình yêu chết rồi, chả lẽ lại ly dị”.
Mẹ đi, tôi kiêm mọi việc trong gia đình. Tôi đưa bố đi viện khám, bác sĩ bảo: “Muốn sống thì cai rượu”. Bố gật gật, như một đứa trẻ biết nghe lời. Tôi dặn dò cu Thạo: “Bệnh thể xác của bố không nghiêm trọng bằng bệnh tinh thần. Em đừng xa lánh bố, nghe chưa?”
Nó không nói gì nhưng thường xuyên ở bên bố, kể chuyện trường lớp cứ ríu ra ríu rít. Nó kê ghế tựa ra giữa cửa nhà, bảo bố ngồi đó để nó cạo râu cho, nhổ tóc trắng cho. Tuyệt nhiên, nó không bao giờ nhắc đến mẹ trước mặt bố. Nhưng thi thoảng nó lại hỏi tôi:
- Bao giờ thì mẹ về hả chị Thuần ơi!
- Bao giờ mẹ kiếm đủ tiền thì mẹ về chứ sao.
- Tiền bao nhiêu cho đủ hả chị? - Giọng thằng bé lên 10 mà như ông cụ non.
Cuộc đối thoại của hai chị em bị ngắt quãng vì bố xuất hiện. Tôi để hai ngón tay lên môi, ra hiệu cho cu Thạo im lặng. Sau thời gian điều trị, nhìn bố đã có da có thịt. Bố đòi nuôi lợn để có thêm thu nhập, để khỏi nhàn cư vi bất thiện. Còn tiền mẹ gửi về, bố không động vào. Mẹ dặn tôi qua điện thoại:
- Tiêu không hết thì mua vàng cất đi. Bao giờ lấy chồng, mẹ cho.
- Tôi ấm ức, trách mẹ: “Mẹ lúc nào cũng nghĩ đến vàng, có ăn được đâu”.
- Con ranh! Chị em mày có bị đói rã họng bữa nào đâu mà chả khinh vàng.
- À, dạo này bố con khỏe rồi. Bố nuôi ba chục con lợn, cho ăn thẳng nên cũng nhàn, chỉ mất công rửa chuồng, tắm cho lợn thôi.
- Tu chí vậy thì tốt, chứ ăn không ngồi rồi lại đái tật.
- Thế bao giờ mẹ về?
- Tết! – Mẹ buông một tiếng cụt lủn rồi tắt máy.
Nhưng hết cái Tết này lại đến cái Tết khác mà mẹ vẫn chưa về. Bao nhiêu sự kiện trọng đại diễn ra với hai chị em tôi, mẹ đều không tham dự.
Tôi đỗ đại học, ngày nhập trường, thui thủi một mình với lỉnh kỉnh ba lô, túi xách. Chỉ có cu Thạo tiễn ra bến xe, dặn dò: “Chị giữ gìn sức khỏe! Nhớ về chơi với em nhé!”. Tôi gật đầu, vội quay đi, giấu những giọt nước mắt lăn dài trên má.
Ngày nhận bằng tốt nghiệp đại học, mình tôi trơ trọi giữa đám đông. Bố bận chăm đàn lợn đang bị ốm. Cu Thạo đòi lên thành phố nhưng tôi không cho đi.
Ngày tôi đi lấy chồng, mẹ không về. Mẹ cho tôi bao nhiêu là của hồi môn, toàn vàng là vàng. Tôi đeo nặng trĩu cả cổ, cả tay, cả tai, chỉ muốn tháo ra luôn cho nhẹ người. Bố tiễn con gái về nhà chồng ngay làng bên mà cứ sụt sà sụt sịt.
Tôi sinh con đầu lòng cũng không có mẹ ở bên. Mẹ chồng thì mắt mờ chân yếu, thành ra hai vợ chồng phải tự xoay xở. Biết tin, mẹ bảo tặng cháu một chỉ vàng. Hình như trong đầu mẹ chỉ có vàng thôi thì phải.
Dạo này bà ngoại tôi ốm nặng, nằm liệt một chỗ. Đưa bà đi viện thì bác sĩ kết luận: “Bệnh già”. Các cậu đành đưa ngoại về nhà chăm sóc. Ngoại bị lẫn, không còn tự chủ được trong chuyện vệ sinh. Nhiều khi bị con cháu đóng bỉm, ngoại tự tay dứt ra, vứt đi. Nước tiểu lênh láng cả giường, khai mù. Cậu cả bèn khoét một cái lỗ giữa giường, dưới gầm giường đặt cái chậu to tướng để ngoại tiện vệ sinh. Chỉ dì út và tôi là chịu khó tắm rửa, giặt giũ cho ngoại. Có hôm mợ cả cho ngoại ăn rồi, ngoại vẫn lầm rầm chửi bảo là “đồ ăn tham, chưa cho tao ăn”. Bác sĩ bảo ngoại phải cai ăn trầu. Mợ cả không cho ngoại ăn, ngoại chửi um cả lên. Mợ hai ở xa thi thoảng đảo qua, hỏi thăm ngoại vài câu là biến mất. Vì lần nào vào bên ngoại, mợ hai cũng đeo khẩu trang nên ngoại tức, ngoại đuổi. Nếu không đeo khẩu trang thì mợ hai nôn mửa ầm ầm. Mợ cả tị nạnh ra mồm: “Đúng là xa thơm, còn ở gần thì bao nhiêu cái thối hưởng hết mà vẫn bị chửi”. Tôi nghe vậy, chạnh lòng nghĩ đến mẹ. Gọi điện thông báo cho mẹ biết thì mẹ lặng đi, mãi mới đáp lại: “Mẹ sẽ sắp xếp rồi về hẳn. Chắc là nhanh thôi”.
Cậu cả tổ chức họp gia đình vì ngoại nằm thế nửa năm rồi. Ai cũng dưa nhau, viện lý do này lý do nọ thì phải phân công, chia đều. Mẹ tôi là con gái lớn của ngoại, sau nữa là hai cậu và dì út. Bốn người, mỗi người một tuần, thay phiên nhau túc trực bên ngoại, phải lo từ A đến Z. Mọi người vui vẻ thống nhất như thế. Mợ hai không làm được nên mợ thuê người.
Đến phiên mẹ tôi, tôi làm ban ngày, bố tôi làm ban đêm. Tôi bón từng thìa nước cháo cho ngoại. Ngoại lẫn lắm rồi. Ngoại cứ tưởng tôi chính là mẹ tôi. Ban đêm, bố tôi kê giường gấp ngủ bên cạnh ngoại, lắng nghe từng hơi thở phập phồng để biết rằng ngoại vẫn còn đó. Ngoại yếu đi từng ngày. Như cái cây bị vắt kiệt sự sống, cứ héo dần, héo dần. Ngoại cấm khẩu, không nhận ra ai nữa. Tôi gọi điện cho mẹ, hốt hoảng: “Mẹ về nhanh lên! Nhanh lên! Ngoại yếu lắm rồi”.
- Ừ! Mẹ … về ngay! – Giọng mẹ nghẹn lại.
Nhưng mẹ đã không về kịp.
Bây giờ, mẹ phủ phục bên quan tài, vật vã. Mẹ khóc như chưa bao giờ được khóc. Tôi một bên, Thạo một bên. Hai chị em xốc nách mẹ đứng dậy đáp lễ. Sau ngần ấy năm đi xa, mẹ trở về với hai bàn tay chai sần, thô ráp và những vết nhăn nhiều hơn trên gương mặt, khóe mắt. Sau ngần ấy năm ở nhà chờ đợi, bố đã trở thành một người đàn ông chỉn chu. Những chỉ vàng của mẹ vẫn nằm yên trong ngăn tủ. Nhưng ngoại thì không còn nữa…
T.T.L
Buổi chiều, trên đường đi làm về, tôi tạt vào cái chợ cóc gần nhà mua cho bố ba chục quả na chín. Mùa này người ta bày bán na khắp nơi. Cứ nhìn thấy những quả na mở mắt tròn xoe là tôi nhớ đến sở thích của bố. Bố tôi thích ăn loại trái cây ấy nhất. Nhưng từ khi cô Son mất, không bao giờ bố ăn na ngay mà bố luôn bày ra cái đĩa cô tiên rồi để lên bàn thờ thắp hương. Bố lầm rầm khấn vái và đinh ninh rằng cô Son thiêng lắm. Thế nào cô cũng về “ăn chung” với bố như hồi cô còn sống.
*****
Cô Son là chị gái của bố nhưng ở quê tôi có tục lệ chị của bố thì cũng gọi là cô nên tôi quen gọi “cô Son” từ bé rồi. Mà thực ra quê hương bản quán của bố tôi không phải ở xứ Đông này, nghe đâu ở tít tận miền Trung xa xôi. Cái năm đói Ất Dậu khủng khiếp chỉ còn đọng lại lờ mờ trong ký ức của cô Son, đứa trẻ bảy tuổi phải theo cha mẹ từ bỏ quê nhà, dắt díu, lang bạt ra ngoài Bắc để kiếm tìm sự sống. Khi ấy bà nội đang mang thai bố tôi. Bố bị đói từ trong trứng nên nỗi ám ảnh về miếng ăn vẫn đeo đẳng ông đến tận bây giờ. Dù sau này gia đình tôi khá giả, đồ ăn thức uống có thể dư thừa nhưng không bao giờ bố cho phép chị em tôi đổ thức ăn thừa vào sọt rác. Bố và cô Son luôn miệng nhắc chị em tôi rằng, đổ thức ăn đi là “phải tội”. Tôi và em gái luôn ngoan ngoãn nghe lời và trân trọng từng hạt cơm vãi cũng vì biết được cuộc đời đói khát, vất vả của ông bà nội; biết được tuổi thơ đói vàng mắt của cô Son và bố.
Bố tôi ra đời đúng năm đói lịch sử ấy. Để bà nội có chút hơi cầm cự, giành giật sự sống cho bố, ông nội đã nhường hết những gì có thể ăn được cho bà. Cả gia đình vật vờ, rũ rượi vì đói. Lúc còn sống, mỗi lần kể chuyện ngày xưa, cô Son thường ảm ảnh, rùng mình bởi cái năm đói chết người.
- Đói rã rượi, mụ mị cả đầu óc, đói đến nỗi có moi được đất thì cũng muốn nhét ngay vào mồm.
Rồi nước mắt cô chảy dài khi nhắc đến ông nội. Ông tôi mất vì đói khi cả nhà hành hương đến Quán Năm Gian. Cô bảo:
- Chả hiểu sao cứ đi đến Quán Năm Gian là mọi người nghỉ chân, không đi nổi nữa nhưng sáng sau tỉnh dậy đã thấy mấy người nằm còng qoeo, cứng đờ ra rồi – Kể đến đấy, mắt cô ầng ậc nước.
Người ta khiêng ông lên xe bò, đem chôn tập thể. Bà nội lả đi, chả còn sức mà khóc chồng, hờ chồng. Bà đẻ non, bố tôi thiếu tháng, nhỏ như cây đèn dầu. Nhưng trời cho làm người nên bố vẫn thành người. Giữa những năm đói khát, bố như cái cây xương rồng còi cọc mọc trên sa mạc. Ba mẹ con đùm rúm nhau sống qua ngày nơi đất khách quê người.
Nhưng tai họa lại tiếp tục ập xuống. Chưa đầy hai năm sau, bà nội cũng bỏ cô Son và bố mà đi. Hai chị em trở thành côi cút, không họ hàng, không người thân. May mắn, có một gia đình đã nhận cô Son và bố làm con nuôi. Danh nghĩa là con nuôi nhưng cô Son và bố bị đối xử như người ăn kẻ ở trong nhà. Nhà người ta đông con nên bữa nào cô Son và bố cũng phải ăn sau, vét nồi soàn soạt hoặc ăn củ khoai, củ sắn cho qua bữa mà cái bụng vẫn sôi ùng ục. Ăn không đủ no, mặc không đủ ấm, lại hay tủi thân vì là kẻ ăn nhờ ở đậu, cô Son thường ôm bố tôi vào lòng thủ thỉ vì đó là nguồn an ủi duy nhất của cô, người thân ruột thịt duy nhất của cô. Bố tôi lớn lên trong tình yêu thương và sự chở che của cô như lớn lên trong vòng tay của một người mẹ.
Cô Son nhanh nhẹn, tháo vát, dáng người thắt đáy lưng ong. Gương mặt cô tròn như trăng rằm. Đến tuổi thiếu nữ, nước da cô trắng hồng, môi đỏ thắm. Con trai nhà địa chủ trong làng đánh tiếng hỏi cưới, cha mẹ nuôi mừng lắm, muốn gả cô ngay nhưng cô nhất mực từ chối với lý do phải lo cho em trai. Cô đã tự hứa với lòng mình rằng khi nào bố tôi yên bề gia thất thì cô mới đi lấy chồng. Cha mẹ nuôi tức giận, đuổi cô và bố tôi ra khỏi nhà. Cô cất tạm một túp lều gần bờ sông, làm nghề chở đò và mò cua bắt ốc để nuôi nấng, đùm bọc bố tôi. Cô thất học nhưng bố tôi được cô cho học hành đến nơi đến chốn. Càng lớn, bố càng bộc lộ sự thông minh, sáng dạ, luôn đứng trong tốp đầu của lớp, của trường. Bố càng học lên cao thì cô Son càng vất vả hơn. Cái lưng suốt ngày lặn lội đầu sông cuối bãi của cô như còng hẳn đi. Cô làm việc quên cả thời gian, quên cả khát khao thầm lặng của một người con gái giữa tuổi xuân thì. Kiếm được bao nhiêu tiền, cô đều tích lại để cho bố tôi ăn học. Cô thắt lưng buộc bụng, chắt bóp, để dành hết cho em trai. Biết bao lần bố tôi thúc giục cô: “Chị xem có đám nào ưng thì lấy chồng đi, cứ ở vậy mãi sao được”.
Nhưng cô Son nhất định không chịu lấy chồng vì bố tôi vẫn chưa lấy vợ. Một phần vì sự nghiệp của bố chưa đâu vào đâu, một phần vì bố mặc cảm mình là dân ngụ cư, nhà lại nghèo rớt mùng tơi, thân cô thế cô thì ai mà dám lấy mình. Thành ra bao mùa trăng đi qua, bao đôi trai gái nên duyên vợ chồng mà cô Son vẫn cứ vò võ một mình. Những đêm trăng sáng, cô ngủ rất ít, cứ tha thẩn kéo vó tôm dọc bờ sông. Giữa tuần trăng, đêm sáng như ban ngày. Ánh trăng soi tỏa lóng lánh mặt nước, đổ xuống cái bóng của cô từ lúc dài ngoằng cho đến khi ngắn tũn. Bố tôi dọa:
- Chị không sợ ma à mà cứ sờ sịt suốt đêm thế?
Cô lắc đầu:
- Không! Người còn chả sợ nữa là ma.
Trách nhiệm trụ cột gia đình từ khi còn rất nhỏ khiến cô trở nên gan góc. Vì vậy, nhiều gã trai làng nhìn cô thèm muốn nhưng đố dám đến gần trêu ghẹo. Đầu giường của cô lúc nào cũng có viên gạch để phòng thân nên những ngày tháng bố tôi đi học xa nhà, cô ở một mình cũng chẳng sợ bị kẻ xấu bắt nạt.
Những năm Mỹ ném bom miền Bắc, túp lều nhỏ của cô Son và bố tôi nép bên rặng cau trở thành nơi trú chân của những người từ thị xã sơ tán về. Con đò của cô trở thành nơi đưa tiễn từng tốp thanh niên đi B. Trong đoàn người Nam tiến ấy, có một chàng trai mà cô đem lòng yêu. Mới hẹn hò, tìm hiểu được mươi ngày thì người ấy xung phong ra chiến trường theo lệnh tổng động viên. Sau này chính cô Son kể lại, cái đêm hai người chia tay, trăng sáng lắm, như chưa bao giờ sáng như thế. Trăng đã chứng giám cho tình yêu của hai người. Cô và người ấy ngồi trên bờ sông, thề non hẹn biển, chẳng khác nào Kim – Kiều ngày xưa. Cô bảo: “Khi ấy cả hai đã cứng tuổi rồi. Nếu không có chiến tranh thì có lẽ đã nên vợ nên chồng, con đàn cháu đống”. Rồi cô khẽ thở dài. Bởi người ấy ra đi và không bao giờ trở về nữa. Kỷ niệm tình yêu chỉ là những cái nắm tay siết chặt và chiếc khăn mùi soa mà cô giữ đến tận lúc nhắm mắt xuôi tay vẫn muốn mang theo.
Bao mùa trăng cứ đến rồi đi, mọc rồi lặn, sáng rồi tàn nhưng cô Son vẫn ở vậy. Kể cả khi bố tôi lấy vợ rồi, cô cũng không nghĩ đến hạnh phúc riêng của mình mà chỉ hết lòng chăm chút cho hạnh phúc của em trai. Mỗi khi nhắc lại chuyện bố tôi cưới vợ, cô vẫn thường đùa rằng: “Một ông đi chợ muộn, gặp một bà bán hàng ế, rồi thành vợ chồng”. Bởi khi cưới vợ, bố tôi đã gần bốn mươi, còn mẹ tôi cũng gần đến tuổi ba mươi. Bố mẹ xây được ngôi nhà khang trang trên phố nên đón cô về ở cùng. Phải rời xa con đò, bến sông bao năm gắn bó, cô lưu luyến lắm nhưng thương em dâu bụng mang dạ chửa, em trai thì công tác xa nên cô đồng ý khăn gói lên phố ở cùng gia đình tôi.
Bố tôi làm cán bộ địa chất nên nay đây mai đó. Mẹ tôi sinh chị em tôi cách nhau chưa đầy hai năm. Một mình cô chăm nom, săn sóc mẹ tôi những tháng ngày mẹ ở cữ, con mọn. Cô cơm nước, giặt giũ, bế bồng, tắm rửa cho chị em tôi từ lúc chúng tôi còn đỏ hỏn. Mẹ sống cùng cô Son mà như sống cùng chị gái ruột chứ không phải “giặc bên Ngô” như người đời vẫn hay ác cảm. Mỗi lần nghe bố kể lại “tuổi thơ dữ dội” của bố và cô, mẹ cười mà nước mắt cứ chảy ròng ròng. Mẹ muốn bù đắp phần nào những mất mát, thiệt thòi mà cô Son và bố phải gánh chịu từ thuở ấu thơ nên mẹ thường để ý quan tâm, từ những việc nhỏ nhặt nhất trong cuộc sống hàng ngày.
Biết bố và cô thích ăn na, đến đúng mùa, mẹ thường mua cả rổ về cho hai người thưởng thức. Nhìn chồng và chị chồng ăn na ngon lành như lâu ngày bị bỏ đói, mẹ lại ứa nước mắt. Sau này chị em tôi lớn lên, mẹ thường nhắc nhở: “Các con phải để ý sở thích của bố và cô, nghe con. Bố con và cô con chỉ thích nhất quả na thôi”. Vì vậy, mùa na nào chị em tôi cũng mua thật nhiều để bố và cô ăn thỏa thích. Và chẳng hiểu sao mỗi khi ăn na, cô và bố lại thi nhau kể chuyện ngày xưa. Tôi và em gái cứ ngồi chống cằm mà nghe. Những quả na chín có khả năng kỳ diệu bởi chúng đã đánh thức trong bố, trong cô những ký ức xa xưa.
Càng có tuổi, bố càng thương cô Son. Tình thương ấy thể hiện rõ trong từng lời nói, từng cử chỉ bố dành cho cô mà mẹ tôi và cả chị em tôi không bao giờ dám ghen tị. Trong bữa ăn, có miếng nào ngon bố cũng gắp cho cô đầu tiên. Mỗi khi trái gió trở trời, cái lưng còng bao năm mò cua bắt ốc của cô đau mỏi, bố lại nôn nóng xoa thuốc, đấm bóp cho cô. Mỗi khi nghe đài hay ti vi vang lên lời bài hát “Chị tôi” của nhạc sĩ Trần Tiến, thế nào bố cũng lặng lẽ lấy tay quệt nước mắt. Có lần bố bỏ lên giường nằm, quay mặt vào trong. Bố khóc…
Khi bố nghỉ hưu, chị em tôi đã có công ăn việc làm ổn định, cô Son giục chúng tôi lấy chồng. Cô bảo: “Bây giờ cô còn khỏe, cô bế con cho, chứ ít nữa cái lưng cô còng rạp xuống, muốn bế cũng không bế được”. Thế là hai đứa con của tôi, hai đứa con của em gái tôi đều được bàn tay khéo léo của cô bế ẵm, ru hời. Cô thuộc rất nhiều bài hát ru nên nằm trong vòng tay của cô, bọn trẻ dễ dàng thiếp vào giấc ngủ. Cô yêu trẻ con và rất mát tay chăm trẻ nên bọn trẻ đứa nào cũng quấn bà Son. Mẹ tôi hiểu cô, hiểu cả khát khao tận đáy lòng cô nên không bao giờ mẹ tranh giành bế cháu với cô.
Hè năm ngoái, bố tôi dự định đưa cô Son đi du lịch xuyên Việt một chuyến cho cô biết đó biết đây. Cô háo hức, cứ nhắc đi nhắc lại:
- Ừ, thì đi dối già một chuyến.
Tôi gạt đi:
- Cô không được nói gở như thế. Đã dối già làm sao được.
Cô cười hiền từ, khoe hàm răng nhuộm đen đều tăm tắp:
- Gần tám mươi rồi con gì. Cô sống thế là mãn nguyện rồi.
Tôi ôm lưng cô, khẽ xoa hai bờ vai gầy trơ xương của cô, quả quyết:
- Cô của con phải sống đến 100 tuổi mới được.
Nghe hai cô cháu nói chuyện, bố cứ tủm tỉm cười. Nhưng bố không ngờ bố chưa kịp thực hiện kế hoạch của mình thì cô Son ốm nặng. Lúc khỏe, cô vẫn hay ao ước ra miệng: “Sau này về già, chỉ mong cảm nặng một trận rồi đi luôn, để cậu mợ và các cháu đỡ vất vả”. Không ngờ câu nói ấy của cô lại linh nghiệm đến thế. Chưa đầy hai tuần sau, cô mất. Nhẹ nhàng. Sạch sẽ. Hàng xóm láng giềng bảo cô “chết tiên”, đấy là nhờ cô ăn ở hiền lành, làm nhiều điều phúc đức nên ông trời có mắt. Bố tôi cứ ân hận, day dứt mãi vì chưa chăm sóc được nhiều cho cô. Bố mẹ tôi thực hiện đúng theo di nguyện của cô là đưa cô đến Đài Hóa Thân và đưa cô về an nghỉ ở nghĩa trang gần bến sông năm xưa. Tôi biết, nơi ấy chính là kỷ niệm, là nỗi nhớ, là nơi bình yên nhất để cô có thể ngắm mãi những mùa trăng của riêng cô.
Sau sự ra đi đột ngột của cô Son, bố tôi mất ngủ cả tháng trời. Bố gầy sọp hẳn đi. Lần nào thắp hương lên bàn thờ cô, tay bỗ cúng run rẩy vì xúc động, mắt bố đỏ hoe như cố nuốt nước mắt vào lòng vì không muốn con cháu nhìn thấy bố khóc. Mẹ và chị em tôi phải động viên bố nhiều lắm, làm chỗ dựa tinh thần cho bố thì nỗi thương nhớ trong bố mới phần nào nguôi ngoai.
*****
Buổi tối, bố hạ đĩa na trên bàn thờ xuống cho cả nhà cùng ăn. Bố thủng thẳng nhắc:
- Sắp giỗ đầu cô Son rồi đấy! Nhanh thật!
Mẹ khẽ “Vâng” rồi cả nhà như lặng đi trong những ký ức về cô. Chương trình ca nhạc trên ti vi bỗng vang lên lời bài hát “Chị tôi”. Nghe được một đoạn, bố lại lấy tay quệt nước mắt. Bỗng bố cất tiếng hát theo, tiếng hát của ông già hơn bảy mươi tuổi khàn khàn, giọng nghe xa xót như lời tự trái tim:
Nhìn hàng cau xác xơ lá trầu khô
Mộ chị tôi bé xinh đứng bên cầu thương nhớ mêng mông
Chị ơi sao vẫn chưa lấy chồng.
Chị tôi chưa lấy chồng...
Ngoài kia, trăng đang lên. Ở nơi xa xôi nào đó, cô có biết bố tôi rất thương cô. Còn tôi, tôi thương những mùa trăng…
T.T.L
CÁCH NHẬP COMMENT TRÊN HƯƠNG QUÊ NHÀ
Đầu tiên, nhấp chuột vào ô Nhập nhận xét của bạn rồi viết comment. Viết xong, nhấp chuột vào ô Tài khoản Google. Sau đó nhấp chuột vào Tên/URL thì sẽ hiện ra 2 ô. Ô phía trên, ghi Họ và tên của bạn. Ô phía dưới, ghi dòng chữ:huongquenha.com
Cuối cùng, nhấp chuột vào ô Tiếp tục và nhấp chuột tiếp vào ô Xuất bản là xong. (Nếu bạn đã có sẵn Tài khoản Google, thì sau khi viết comment, chỉ cần nhấp chuột vào ô Xuất bản là thành công)