ĐƯỜNG ĐẾN VĂN CHƯƠNG - Bài của Bảo Ninh


Những người bạn cùng phố cùng trường với tôi thời học phổ thông, sau nhiều năm gặp lại, đều lấy làm lạ với cái sự giờ đây tôi làm nghề viết văn.  Sở dĩ thế là vì các bạn của tôi nhớ rằng hồi đang đi học ở tôi chẳng có một cái vẻ gì là tiềm năng đời văn chương như người ta vẫn thường nghiệm thấy trong thời niên thiếu của các nhà văn. Bản thân tôi tự ngẫm cũng thấy như vậy.

Tôi sinh năm 1952 ở vùng tự do Khu Tư, tới hòa bình 1954 theo cha mẹ ra Hà Nội. Ăn học tới hết phổ thông thì nhập ngũ. Cho nên tuổi học trò của tôi gần như là lọt gọn vào trong thời hòa bình mười năm giữa hai cuộc chiến.

Cái thời mười năm lưng chừng đó, ở miền Bắc, có thể xem là thời kì vàng son của công cuộc tập thể hóa, thời ai cũng như ai nấy, bình dị, đồng đều, chung hòa mức sống, thống nhất nghĩ ngợi. Một thời buổi ấm no vừa đủ và rất giàu niềm tin. Là như vậy, chí ít đối với lớp trẻ mới lớn, hoặc nói cho chính xác, đối với lớp trẻ thành phần “con nhà cán bộ hộ khẩu Hà Nội” mà tôi là một trong đó.

Nhờ sinh ra lớn lên trong một môi trường sống đại khái là thuận chiều như thế mà tôi có một tuổi thơ và một thời thanh thiếu niên có thể coi là êm ái so với bao người. Tuy nhiên, cũng bởi vì dễ chịu hơn người mà quãng đời ấy của tôi nó đơn giản và nhòa mờ, hầu như chẳng lưu lại được gì sắc nét trong kí ức.

Đời sống vật chất được đảm bảo bằng sự phân phối theo tiêu chuẩn, chỉ có học và chơi, không phải lo nghĩ gì, cho nên vô tư mà cũng là vị kỉ và vô tâm, chẳng thấy gì, chẳng biết gì, chẳng hiểu gì về cuộc sống có thật ở đời, hoặc là chỉ biết, chỉ hiểu một cách chung chung và ước lệ qua sự định hướng của sách vở. Chẳng hạn, nông thôn miền Bắc, với tôi đấy là những gì được trang trí trong các tác phẩm văn học thời đó viết về đề tài nông nghiệp mà chúng tôi được học ở trường. Chẳng biết con trâu nó thế nào nhưng thuộc nằm lòng rằng ai bảo chăn trâu là khổ. Phải tới khi chiến tranh bùng nổ, sơ tán về làng quê, nhất là khi vào bộ đội, từng trải hầu khắp mọi miền đất nước và sống chết bên nhau với anh em đồng đội hầu hết là nông dân mặc áo lính, tôi mới thấm thía ra rằng chăn trâu là khổ thật, rằng nông thôn và hợp tác xã không chỉ là như trong sách.

Cái sự học văn học trong nhà trường ở thời tôi, tôi nghĩ, nó xa cách với sự đời gần như là một trời một vực. Những năm cấp một cấp hai thì chẳng nhớ nữa, còn những năm cấp ba tôi nhớ điểm số môn văn của mình chẳng ra gì, thường chỉ là tàm tạm điểm 3 với lại 3 trừ (theo thang điểm 5).

Tuy nhiên, mặc dù không hứng khởi với môn văn, song nhờ môn học này mà tôi dần dà có được cái ham thú đọc sách văn học. Có lẽ ban đầu là do bắt buộc. Chẳng hạn khi học đến tác phẩmTắt đèn của nhà văn Ngô Tất Tố, vì trong sách giáo khoa (gọi là sách trích giảng văn học) chỉ có đôi ba trích đoạn nên thầy giáo khuyên học trò gắng tìm đọc trọn vẹn cuốn đó. Đọc hết Tắt đèn rồi, do thấy hay, tôi đọc sang Việc làng  Lều chõng. Với các nhà văn Nam Cao, Nguyễn Công Hoan, Bùi Hiển, Nguyễn Khải, Nguyên Ngọc, Nguyễn Đình Thi, Hồ Phương, v.v… cũng vậy, ban đầu là từ các trích đoạn phải học rồi do sự hướng dẫn của thầy giáo mà tôi đọc thêm khá nhiều tác phẩm của các tác giả ấy.
Dần dà đạt được tới niềm ham thích sách văn học, tôi đọc ra cả những tác phẩm tác giả không có trong chương trình học. Mà hồi đó để có thể đọc “vượt tầm” như vậy chẳng phải chuyện dễ. Số đầu sách và lượng sách văn học được in ra chỉ như nửa giọt nước so với biển cả sách báo văn chương thời nay. Tôi có điều kiện đọc được tương đối nhiều hơn các bạn cùng lớp là nhờ vào tủ sách của cha tôi.

Cha tôi, giáo sư Hoàng Tuệ, là nhà ngôn ngữ học và là giảng viên đại học, ông trữ rất nhiều sách, tủ sách của ông khá là đồ sộ. Đa phần là sách chuyên môn bằng chữ ngoại hoặc chữ Nôm, song cũng không ít sách văn học tiếng Việt, nửa là sách dịch, nửa là của các nhà văn Việt Nam đương thời. Cha tôi cho phép tôi đọc lần lượt hầu hết các tác phẩm văn học có trong tủ sách gia đình (ngoại trừ Tự Lực văn đoàn, Tiểu thuyết thứ bảy và các ông Nhân Văn, phải mãi về sau, khi từ mặt trận trở về tôi mới được cha tôi cho đụng đến).     

Giải ngũ, trở về sau chiến tranh, tôi gần được với cha tôi hơn hẳn hồi còn đi học. Cha con hay trò chuyện, thường là chỉ hai cha con với nhau. Những câu chuyện, những suy nghĩ và những nỗi niềm khó lòng nói ra kể ra với ai, tôi thổ lộ với cha, đặc biệt là “đề tài” chiến tranh và quân ngũ. 

Bởi vì cha tôi hồi kháng chiến chín năm là bộ đội Vệ quốc đoàn nên ông thấu hiểu những tâm sự về đời lính của tôi. Ông lắng nghe, trao đổi và bàn luận với tôi, con trai của ông, một cách nghiêm túc, chân tình và bình đẳng, đàn ông người lớn với nhau.

Tuy chưa khi nào nói ra lời khuyên tôi cầm bút viết văn, nhưng qua những lần cha con tâm tình như vậy, cha tôi đã hướng tôi vào con đường văn học, trước nhất là khiến tôi đủ tự tin và mạnh dạn để dám viết dòng đầu tiên của truyện ngắn đầu tiên.
 



Những năm hậu chiến bao cấp, khó khăn mọi bề, sách văn học cũng khan hiếm chẳng khác chi cơm áo, nhưng nhờ cha tôi mà tôi đọc được khá đầy đủ những tác phẩm tác giả có lẽ là không thể không đọc trong đời. Đa phần là văn học Việt Nam thời trước 1945 và văn học nước ngoài. Nhưng không chỉ những tác phẩm dịch và xuất bản ở miền Bắc, cả những tác phẩm hồi đó mới chỉ được dịch ở Sài Gòn từ trước 1975, cũng là nhờ cha tôi kiếm cho mà tôi có được để đọc. Ngay như Dostoevsky tôi cũng lần đầu được đọc là nhờ vào những ấn phẩm “chế độ cũ” của cha tôi.

Đặc biệt đáng nhớ với tôi là tiểu thuyết Cuộc đời và số phận, bản tiếng Pháp, của một nhà văn Xôviết tên là Grossman. Năm 1986 cha tôi qua Paris dự hội thảo, mua về. Vì cái năng lực ngoại ngữ suốt bao năm trời hoài công học mà chỉ zêro của tôi, cha tôi đã dành rất nhiều thời giờ và công sức dịch cho tôi nghe cái tuyệt tác rất dày ấy. Chọn nơi vắng người, hai cha con đi xe đạp ra vườn hoa Canh Nông, ngồi ghế đá, cha tôi đọc và dịch miệng ngay sang tiếng Việt cho tôi nghe từng trang. Cứ như thế, không biết là bao nhiêu buổi chiều của những tháng ngày ấy, hai cha con với nhau ngoài vườn hoa vắng lặng, tới trang cuối cùng.

Với tôi, cuốn Cuộc đời và số phận, dù nó không nổi tiếng và dù chỉ nghe cha dịch chứ không tự đọc được, thật sự là tác phẩm lay động tâm can, đến tận bây giờ.

Có vẻ như trái khoáy, song nếu không trải qua chiến tranh, không từng cầm súng, tôi sẽ không nghĩ tới chuyện một ngày nào đấy cầm bút viết văn. Nhưng chắc chẳng riêng tôi, tôi nghĩ nhiều nhà văn nhà thơ cùng lứa với tôi và cùng từng là bộ đội như Hoàng Nhuận Cầm, Trần Anh Thái, Nguyễn Việt Chiến, Phạm Ngọc Tiến... cũng vậy, là nhà văn bởi đã trải qua chiến tranh.

Chiến tranh không chỉ theo nghĩa là đời lính và trận mạc mà là thời đại chiến tranh, mấy chục năm trời cảnh ngộ chung của cả nước, số phận của muôn người.

Bởi vì đất nước lâm cảnh chiến tranh nên đám trẻ thị thành như tôi mới đi sơ tán về làng quê. Không biết nông thôn chẳng thể thành nhà văn, đến nay tôi vẫn tin như vậy. Và vì thế tôi ngạc nhiên khi thấy có những nhà văn nhà thơ cả đời chỉ quẩn quanh đời sống phố phường mà vẫn có thể viết được, thậm chí viết hay.

Bản thân tôi thì thực sự là nhờ một thời chạy giặc sơ tán về nông thôn và sau đó là nhờ đời bộ đội mà cụ thể là nhờ Mặt trận Tây Nguyên, nhờ Sư đoàn 10, nhờ trung đoàn, tiểu đoàn, nhờ đại đội của mình, mà viết được truyện, mà thành nhà văn.

Cuộc chiến trường thiên ba chục năm, 1945 - 1975, là cuộc chiến toàn dân toàn diện và toàn bộ đời người, nên hồi đó là anh lính đối trận hay là ông thầy giáo dạy học ở hậu phương, ngay cả là anh sinh viên du học ở Đông Âu thì cũng đều có thể coi là đã tham chiến, và đều có thể viết về thời đại chiến tranh với góc nhìn cách nghĩ của riêng mình. Bởi vậy, các nhà văn Việt Nam sinh ra lớn lên trong nửa sau thế kỉ XX, tùy vào kinh nghiệm, sự hiểu biết, sự thấu cảm có được do hoàn cảnh và số phận của bản thân mình trong thời kì chiến tranh, đã tạo dựng nên mảng đề tài chiến tranh với vô vàn tác phẩm, phong phú, đa dạng đa chiều và cố nhiên là riêng biệt, mỗi nhà văn mỗi khác. Ngay cả nếu như vốn cùng là lính, có thể là cả cùng đơn vị, thì mỗi nhà văn cũng vẫn có suy nghĩ riêng, tâm trạng riêng, cách nhìn riêng về chiến tranh và rồi sẽ viết về chiến tranh không giống nhau, thậm chí trái ngược nhau. Bởi vì, thế mới là văn chương. Mới là nhà văn. Mới là con người.

Trong chiến tranh, trừ phi là nhà văn nhà báo được cử vào chiến trường để viết văn viết báo, còn lính thường bộ đội chiến đấu chẳng ai nghĩ tới, có nghĩ tới cũng khó lòng mà viết lách văn chương chữ nghĩa gì nổi.  Chiến tranh chẳng phải trò đùa, chẳng phải ngày hội, thật sự là vậy.

Song, sau chiến tranh, còn sống, mà không hề nghĩ tới cái sự rằng rồi đây mình sẽ viết một cái gì đó về đồng đội, về trận mạc, về những thử thách đã qua thì lại là sự lạ.

Tại một trại viết văn do Quân đội mở hồi năm 1990, tướng quân Đặng Vũ Hiệp, nguyên Chính ủy Mặt trận Tây Nguyên nói thế này, tôi nhớ đại ý: Ai đã từng là bộ đội trong chiến tranh thì đều có sẵn sàng ở trong con người mình một nhà văn, chỉ có điều, do những hoàn cảnh khác nhau của đời sống mỗi người trong thời bình, nên rốt cuộc người thì đã viết người thì không viết, hoặc chưa viết.

Tôi cùng đồng đội hành quân dọc Trường Sơn vào đến Mặt trận B3 đầu mùa mưa năm 1970. Đấy là thời kì “sau Mậu Thân”, những năm thoái trào nghiêm trọng của Quân Giải phóng. Chí ít là tại địa bàn Tây Nguyên. Hi sinh tổn thất khôn xiết kể và những người sống sót thì phải chịu đựng gian khổ đến cùng cực. Nhưng cũng chính do trải qua những năm nguy kịch đó mà tôi thấm thía hiểu được cái điều “không thể nào hiểu nổi” về sức mạnh tinh thần của bộ đội ta. Từ đáy cùng, tưởng chẳng còn nổi chút hơi tàn mà thở chứ đừng nói gượng lên chiến đấu, bộ đội Tây Nguyên đã dốc toàn lực bình sinh rũ bùn đen trỗi dậy làm nên Tổng công kích 1972, rồi Mùa xuân 1975, giáng đòn Buôn Ma Thuột, hành tiến đuổi địch dọc miền Trung, và làm mũi chủ công tốc chiến giải phóng Sài Gòn.

Sau ngày hòa bình, tôi rời Sài Gòn về lại Tây Nguyên, gần một năm làm công tác quy tập hài cốt anh em đồng đội. Chín tháng trời thực hiện cái nhiệm vụ bi thương ấy, tuy mới góp phần tìm kiếm và quy tập được một phần chưa đáng kể phần mộ của nhiều thế hệ bộ đội đã ngã xuống trên các ngả đường chiến tranh, vẫn đã khiến tôi trước ngày giải ngũ có “cơ hội hơn người” được nhìn vào tận lòng sâu đất thẳm của cuộc chiến, khơi lại và thấy lại một lần nữa hình hài và hình bóng của lớp lớp đồng đội đồng chí đã bỏ mình từ tận những ngày xa xưa đầu kháng chiến 1945 đến những giờ phút cuối cùng ngày 30 tháng Tư. Và không chỉ đồng đội, mà cả quân lính đối phương, không chỉ binh sĩ mà cả dân thường, cả phụ nữ, cả trẻ em, chúng tôi đã nhìn thấy họ nằm đó, hồn ẩn trong đất đá, trong lá cây, trong rừng, trong núi, bên bờ sông bờ suối, ven những lối mòn dọc ngang khắp thời loạn lạc.

Sáu năm quân ngũ không là mấy đối với tuổi tôi bây giờ 64, nhưng tôi viết văn chỉ bởi vì và chỉ bằng vào quãng đời sáu năm ấy.

Mặc dù không phải là một kẻ sống lạc thời trong cuộc sống thời bình bốn chục năm qua, cũng am tường thực trạng sự đời có lẽ chẳng kém ai, vậy nhưng ngoại trừ dăm ba bài báo, tôi chưa từng viết nổi một cái gì có tính văn chương mà lại chỉ thuần “cập nhật” sự đời hôm nay.

Tuy nhiên, mặc dù thường hay nói một cách thuận miệng là mình chỉ viết về “đề tài chiến tranh”, tôi thực sự quan niệm rằng chẳng có nhà văn nào đích thực là nhà văn lại “viết về chiến tranh”.

Hòa bình hay chiến tranh, đấy là thời gian và không gian sống rồi chết của những đời người. Nhà văn viết, suy ngẫm về đời người, số phận con người, mà chiến tranh hay hòa bình chỉ là ngoại cảnh. Ngay như tiểu thuyết Chiến tranh và hòa bình mặc dù tên như thế và mặc dù dày đặc những trang triết luận rất siêu hình về lịch sử, về chiến tranh, về hòa bình, nhưng về cơ bản và rốt cuộc thì đời người, số phận con người muôn vẻ mới là xác thịt và linh hồn của tác phẩm vĩ đại ấy. 

Theo tôi, những tác phẩm đúng nghĩa là tiểu thuyết chỉ có duy nhất một đề tài, ấy là “số phận con người”, và bất kể cách viết như thế nào, câu chuyện và nội dung của những tiểu thuyết ấy cũng chỉ là để thể hiện nội tâm và nỗi lòng của con người.

Song le, ngày nay, khi viết những tác phẩm mà trong đó có sự tái hiện khung cảnh chiến tranh, nhân vật bị đẩy lại vào không gian chiến hào, thì ngoài vấn đề viết như thế nào, nhà văn luôn phải tự đối diện với câu hỏi: Viết để làm gì? Tại sao? Viết, kể, khơi lại, dựng dậy những câu chuyện vừa cũ xưa lại vừa bi thảm như thế, để làm gì?

Khi còn đang học trường Viết văn Nguyễn Du, một lần trò chuyện với nhà văn Kim Lân, tôi được ông khuyên thế này, còn nhớ mãi: Anh là cựu chiến binh từng trực tiếp đánh trận vậy hãy dồn tâm sức viết về quãng đời đó, nhưng phải viết sao cho hay, và cần phải nhớ, viết về chiến tranh tức là viết về hòa bình, về tình yêu thương, lòng nhân ái, đức khoan dung...

Hòa bình, tình yêu, lòng nhân ái, sự khoan dung... Đấy là những phẩm chất có tính biểu tượng của người phụ nữ Việt Nam, và được thể hiện rõ nhất trong những năm chiến tranh gian khổ.

Có một cuộc tranh luận văn học cuối những năm 30 thế kỉ trước khiến tôi vẫn thường nghĩ tới, mặc dù thật ra cũng không hiểu được kĩ lưỡng ngọn ngành. Đấy là cuộc bút chiến giữa Hoài Thanh - Hải Triều, giữa “nghệ thuật vị nghệ thuật” với “nghệ thuật vị nhân sinh”.

Tất nhiên cũng hiểu rằng nổ ra cuộc bút chiến ấy trước nhất là do những xung đối chính trị của thời kì đó, song tôi vẫn cứ ngạc nhiên, bởi về mặt văn chương thì tôi thấy tranh luận vậy có vẻ quá khiên cưỡng. Hơn thế, sự khiên cưỡng ấy tôi cho là còn tiếp tục đến tận ngày hôm nay trong suy nghĩ của không ít nhà văn và độc giả.

Một tác phẩm văn học không thể nào vị nghệ thuật nếu không vị nhân sinh, và ngược lại. Quan niệm đó của tôi, đến với tôi từ một lần kinh nghiệm trong quân ngũ.

Kể từ cuối năm 1973, khi tuyến vận tải Trường Sơn trở nên thông thoáng dễ dàng hơn thì ngoài đạn gạo dồi dào, bộ đội B3 còn được tiếp tế sách, cả sách văn học. Khi đó tôi được chính trị viên giao nhiệm vụ làm “thủ thư đại đội”, nghĩa là ngoài ba lô và khẩu súng tôi còn phải nhận thêm một ba lô sách. Rất khổ, vì nặng không thua gì cái bàn đế súng cối. Mà lẽ ra thì không nặng thế, vì lẽ ra là anh em trong đơn vị sẽ mượn đọc và sẽ làm vơi đi cái tủ sách di động trên lưng tôi. Nhưng chỉ mấy tờ tạp chí Văn nghệ Quân đội là lính tráng chịu đọc, còn hơn chục cuốn tiểu thuyết dày ự nặng trịch thì vẫn nguyên đấy chẳng ai đụng. Bấy giờ đang trú quân ở hậu cứ nên không phải là không có thì giờ đọc, và hầu hết anh em trong đơn vị trình độ văn hóa cấp ba, thậm chí có cả sinh viên, lại cả sinh viên văn khoa nữa. Mà các tiểu thuyết ấy thì đều có nội dung tuyên truyền cổ vũ tinh thần chiến đấu của chính chúng tôi, anh bộ đội. Vậy nhưng anh bộ đội chẳng ngó ngàng. Được xem là thức ăn tinh thần của chiến sĩ, song chiến sĩ không ai đọc, thì thức ăn nỗi gì. Tôi nghĩ vậy.

Tuy nhiên, tôi nhớ, đầu năm 1975, trước chiến dịch Buôn Ma Thuột, chúng tôi nhận được loạt sách của Nhà xuất bản Văn học gửi tặng, trong đó có cuốn Bút kí người đi săn của Turgenev. Văn học nước ngoài, thế kỉ XIX, chẳng liên quan gì tới trận mạc đánh đấm, có thể nói là rất xa lạ với thực cảnh đời lính, ấy vậy mà lạ thay lính tráng đại đội tôi chuyền tay nhau đọc. Thật ra, chẳng có gì là lạ. Sách phải hay thì mới có độc giả, dù là độc giả giáo sư hay độc giả binh nhì.

Cái cách chọn sách để đọc của độc giả bộ đội ở đơn vị tôi đã tạo nên trong tôi ngay từ hồi ấy đến tận bây giờ một quan niệm rất đơn giản rằng, đã là tác phẩm văn học thì phải hay, bởi nếu không thế thì cái sự viết lách của nhà văn sẽ vừa vô nghĩa và vô ích vừa rất nực cười. 
 
B.N

Read more…

THẦY NGUYÊN NGỌC CỦA TÔI – Bài của Bảo Ninh


Nhà văn Nguyên Ngọc
Sau ngày tốt nghiệp khoá 3 Nguyễn Du tôi dần ít có dịp được gặp nhà văn Nguyên Ngọc, người thầy đã dạy và dìu dắt văn chương chữ nghĩa cho tôi những năm học trường viết văn và mãi về sau, đến bây giờ. Bấy nhiêu năm, ngoài mấy chuyến thầy trò đi chơi miền quê Vĩnh Yên, Quảng Ninh, rồi xuyên Việt, trở lại các chiến trường xưa dọc miền Trung, trên Tây Nguyên, tôi chỉ tới thăm được thầy những ngày Tết ta và Ba Mươi tháng Tư. Cũng có năm, bởi cái thói tôi tình cảm rời rạc, thiếu mật thiết, ân tình phó mặc đã thành cố tật khó sửa trong quan hệ với những người mình yêu quý, mà bẵng đi không tới thăm thầy. Song nhiều hơn cả là tới nhưng không gặp được ông. Thầy Ngọc đi suốt, quanh năm, họa hoằn mới đảo về qua Hà Nội dăm hôm.
Về sức đi sức viết, trong các bằng hữu cựu binh thân thiết  tôi phục nhất nhà văn Trung Trung Đỉnh, nhưng ngay cả anh ấy cũng không thể sánh bước được với những cuộc hành quân thời bình không ngừng nghỉ của thầy Nguyên Ngọc. Dường như càng năm càng tuổi, thầy Ngọc của tôi càng muốn sống nhiều hơn trong không gian đường trường. Sài Gòn - Gia Định, mũi Cà Mau, miền Tây, miền Đông, Quảng Trị, Thừa Thiên, miền Nam Trung Bộ, các tỉnh huyện đồng bằng miền Bắc, vùng núi non biên giới, hải đảo... từ năm 1975 tới nay có còn ngả đường nào, có còn miền quê nào của đất nước mà ông chưa dọc ngang trải qua. Tôi đồ rằng ông đi nhiều như thế chắc là để mong bù lại thời tuổi trẻ bị cầm chân trong các chiến hào và các thiên kiến chính trị băm xẻ chia cắt đất nước và đời người ra làm muôn mảnh. Ông đi nhiều nhưng không chỉ để ngao du sơn thủy, không đi chỉ để thưởng thức phong cảnh, không lang bang phiêu bạt chỉ để nhìn ngó nghe ngóng lớt phớt, mà đi như vậy là cách ông nhập thân, hoặc còn hơn thế nữa, xả thân vào với thực trạng đất nước và dân tình để có thể không ngừng suy nghĩ và viết, thực thi nghĩa vụ nhà văn theo đúng với tín niệm nhân sinh và văn chương của ông. Đồng thời, không tự cho phép mình chấp nhận sự yên thân an nhàn, không ngừng buộc mình dấn thân vào đời sống đương thời, cũng còn là cách để ông giữ mình, tránh cho mình sa vào lối viết và nhất là lối sống của "một bộ phận không nhỏ" giới văn bút ngày nay, những lối viết lối sống tuy khôn ngoan và giàu lợi quyền mà cực kỳ xa lạ với thế hệ nhà văn thời của ông và các bạn chiến đấu của ông như Nguyễn Thi, Nguyễn Trọng Oánh, Nguyễn Minh Châu... Xưa kia, nhờ quả quyết và quên mình dấn thân vào cuộc kháng chiến 9 năm mà ông có được Đất nước đứng lên, tác phẩm đầu tay của một nhà văn chưa tên tuổi song đã lập tức là một trong những tác phẩm hàng đầu của văn học kháng chiến, và càng theo thời gian càng tỏ rõ là một tác phẩm lớn của văn xuôi Việt Nam thế kỷ XX. Những năm 1950 tới đầu 1960, ông không hề viết gì về Cải cách, về Tập thể hóa, mà lặn lội đường trường gian khổ để viết Rẻo cao. Với cảm nhận của riêng mình tôi cho rằng Rẻo cao là một trong những tác phẩm hay nhất của văn học miền Bắc XHCN những năm  hòa  bình giữa hai cuộc chiến. Rẻo cao, tập truyện ngắn trong sáng, tinh tế, vô cùng hồn hậu, chan chứa tình yêu và ước mơ hạnh phúc được sống trong hòa bình ấy thực chất là bức tâm thư của người chiến sĩ miền Nam gửi độc giả miền Bắc trước khi lên đường trường chinh trở lại quê hương đang lụt chìm trong lửa đạn chiến tranh tàn khốc.
Thầy viết trò khen hay, bạn có thể cho rằng vậy, thế nhưng Đất nước đứng lên Rẻo cao, tôi đã đọc, đã yêu thích từ lâu lắm rồi, khi còn là học sinh phổ thông, còn Trên quê hương những anh hùng Điện Ngọc, được đọc lần đầu lúc đang là một anh lính ở Mặt trận B3, khi đó đâu đã màng gì tới sự viết văn. Song quả thực, Đất nước đứng lên, Rẻo cao, Rừng xà nu, Đất Quảng, đấy là những tác phẩm đã thôi thúc và dẫn đường cho tôi hướng tới nghiệp văn chương sau khi đã buông rời vũ khí trở lại với đời thường.
Vào học trường Nguyễn Du, tôi được thầy Hoàng Ngọc Hiến phân bổ vào nhóm học trò văn xuôi do nhà văn Nguyên Ngọc trực tiếp phụ trách. Có thể chỉ là sự tình cờ, nhưng cũng có thể đấy chính là số mệnh văn học của tôi. Không nói ra, mà tôi mừng khôn tả. Được trở thành học trò của một trong những tác giả mà mình thán phục và ngưỡng mộ từ thuở còn thơ, từ thuở còn là lính, tôi nghĩ đời văn của mình ngay từ bước đầu đã có được sự may mắn không mấy ai bằng.
Và cho tới bây giờ, những dịp hiếm hoi được ngồi bên nhà văn Nguyên Ngọc, thầy trò riêng tư đàm đạo, với tôi vẫn là những khoảng thời gian hết sức quý báu. Vốn dĩ xưa giờ chẳng biết trò chuyện văn chương với ai ngoài những bạn nhà văn rất đỗi thân tình: Trung Trung Đỉnh, Phạm Xuân Nguyên, Phạm Ngọc Tiến, Trần Anh Thái, Nguyễn Quang Lập, Nguyễn Bình Phương, mà cũng thỉnh thoảng thôi, câu được câu chăng vầy vậy với nhau một chút, nên thực sự là chỉ với thầy Hiến và nhất là thầy Ngọc là tôi có thể dốc lòng bày tỏ nỗi niềm văn chương viết lách của mình. Và lại được các thầy bày dạy, khuyên nhủ từng ly từng tí, như ngày xưa khi còn học ở Trường Nguyễn Du.
Chưa từng nghe nhà văn Nguyên Ngọc nói trước đông người, song tôi đoan chắc tác giả Đường chúng ta đi không phải người hùng biện. Dường như ông chỉ có thể trò chuyện riêng với một người, hoặc cùng lắm vài ba người mà thôi. Gặp người tâm giao (mà tôi chắc tôi là người như vậy đối với ông), ông nói thật hay, sôi nổi, nồng nhiệt, và tất nhiên là hết sức cởi mở. Ông cũng rất ân cần, rất biết lắng nghe. Tôi có thể ngồi nói chuyện với thầy Ngọc giờ này qua giờ khác, cả buổi cả ngày, chỉ chuyện văn chương, mà đầy hứng khởi, dào dạt xúc cảm và tự thấy bổ ích cho mình rất nhiều.
Tuy nhiên, thú thực, những khi gặp thầy Nguyên Ngọc, tôi luôn cảm thấy, trước nhất là nỗi mặc cảm. Trong những năm qua, thầy Ngọc đã làm được biết bao việc lớn nhỏ có ích cho văn học và văn hóa, giáo dục. Cát chảy, Lắng nghe cuộc sống, Nghĩ dọc đường và nhất là Có một đường mòn trên biển Đông. Đấy là các sáng tác văn học. Ngoài ra là các công trình dịch thuật, mà có lần ông nói nửa đùa với tôi là dịch thế nhằm mục đích để Bảo Ninh đọc mà nâng cao tầm lên một chút: Nghệ thuật tiểu thuyết (M. Kundera), Độ không của lối viết (R. Barthes), tác phẩm của Jean-Paul Sartre, Jacques Dournes... Sau thời kỳ báo Văn nghệ với công cuộc Đổi mới, thầy Ngọc đã tham gia rất tích cực và nhiệt thành trong những lĩnh vực văn hóa, giáo dục, gìn giữ bản sắc văn hóa dân tộc và chấn hưng giáo dục. Thầy thì thế mà trò thì thế này, lận đận, lẹt đẹt, viết lách chẳng ra sao, chẳng ích lợi gì cho ai kể cả cho mình, nên mỗi lần gặp thầy là mỗi lần tôi âm thầm xấu hổ, càng năm càng không biết ăn nói ra sao với thầy.
Thứ nữa, là tôi càng năm càng thấy lo cho thầy. Sức khỏe chỉ là một phần thôi. Thực ra, ông già nhỏ vóc và đã tám mươi này rất rắn rỏi, quắc thước. Chí ít là ông hơn hẳn tôi. Thầy trò cùng leo dốc núi lên đỉnh Tam Đảo, ông phăm phăm vượt trước tôi. Chốc chốc thầy lại phải dừng chân đợi trò lệt bệt bước tụt hậu đằng sau xa. Tôi lo là lo thầy tuổi già mà lại bị rơi vào vực thẳm của thất vọng. Thất vọng đến cùng cực. Trời đất đen sầm, sự thế vô phương. 
Là một cựu binh Quân Giải phóng Tây Nguyên, nên ngoài tình thầy trò với nhà văn Nguyên Ngọc, tôi còn nặng tình đồng đội với ông. Từ thuở học Trường Nguyễn Du tới bây giờ, tôi luôn thầm coi ông như người anh trong cuộc chiến ngày xưa, như một người chỉ huy. Bởi vậy nên thời gian gần đây tôi cảm thấy mình có tâm trạng gì đó, có lẽ giống như tâm trạng của một cựu binh nghĩa quân Lam Sơn thuở xưa, sau nhiều năm giải ngũ chợt nghe tiếng loa trong làng xã lớn tiếng mạt sát Trần Nguyên Hãn, mạt sát Nguyễn Trãi.
Tôi nhớ lại những cuộc biểu tình đòi hiệp thương tổng tuyển cử, biểu tình phản đối thảm sát Phú Lợi, biểu tình nhân Sự kiện vịnh Bắc Bộ... rung chuyển cả Hà Nội năm xưa. Khi ấy còn nhỏ mà tôi đã biết nhập vào biểu tình, nghe theo tiếng gọi của trái tim mình.
Tôi nhớ đêm đầu mùa khô 1972, trung đoàn sắp vượt đèo A1, qua Đắc Tô đánh trận mở màn Tổng công kích, nửa đêm, bãi khách, chính trị viên nằm ở võng bên suối mở đài nghe đọc truyện đêm khuya. Cả trung đội lặng lẽ rời võng xúm lại bên võng của anh, nghe Đường chúng ta đi...
23.08.2012
B.N
(Nguồn: Văn hóa Nghệ An)


Read more…

CÁCH NHẬP COMMENT TRÊN HƯƠNG QUÊ NHÀ

Đầu tiên, nhấp chuột vào ô Nhập nhận xét của bạn rồi viết comment. Viết xong, nhấp chuột vào ô Tài khoản Google. Sau đó nhấp chuột vào Tên/URL thì sẽ hiện ra 2 ô. Ô phía trên, ghi Họ và tên của bạn. Ô phía dưới, ghi dòng chữ:huongquenha.com

Cuối cùng, nhấp chuột vào ô Tiếp tục và nhấp chuột tiếp vào ô Xuất bản là xong. (Nếu bạn đã có sẵn Tài khoản Google, thì sau khi viết comment, chỉ cần nhấp chuột vào ô Xuất bản là thành công)

Số lượt xem tháng trước


-------------------------------------------------------------------------


TÁC GIẢ & TÁC PHẨM
* TÁC GIẢ & TÁC PHẨM * TÁC GIẢ & TÁC PHẨM * TÁC GIẢ & TÁC PHẨM * TÁC GIẢ & TÁC PHẨM---------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------
Ái Nhân (21) Ambrose Bierce (1) ẢNH (58) Anh Ngọc (1) Anh Nguyên (1) Anh Phong (4) Anh Phương (9) âm nhạc (2) âm thanh (1) Ân Thiên (1) Bạch Diệp (5) Bách Mỵ (2) BÀN TRÒN VĂN NGHỆ (87) Bảo Hồ (1) Bảo Lâm (1) Bảo Ninh (2) Bé Hải Dân (1) Bích Ái (3) Bích Lê (4) Bích Ngọc (1) Bích Vân (2) Bình Địa Mộc (3) Bình Nguyên (1) Bình Nguyên Trang (2) binh pháp (1) Bình Tâm (1) Bobby Nam Giang (3) Bùi Anh Sắc (1) Bùi Công Thuấn (1) Bùi Danh Hải Phong (1) Bùi Đức Ánh (66) Bùi Hoài Vân (5) Bùi Huyền Tương (2) Bùi Hữu Phước (1) Bùi Nguyên Bằng (25) Bùi Nhựa (4) Bùi Văn Bồng (5) Bùi Việt Thắng (2) BÚT KÝ (17) Ca Dao (2) Cao Duy Thảo (1) Cao Kim Quy (1) Cao Thị Thu Hà (3) Cao Thọ Thêm (2) Cao Thoại Châu (1) Cao Thu Hà (1) Cao Trọng Quế (1) Cao Văn Tam (5) Cát Du (7) Catherine Mansfield (1) Cẩm Lệ (4) Cẩm Tú Cầu (1) Chàng Cát (1) Chánh Đức (1) CHÀO XUÂN 2014 (1) CHÂN DUNG VĂN NGHỆ SĨ (2) Châu Đoàn (1) Châu Quang Phước (1) Châu Thạch (9) Châu Thường Vinh (1) Chí Anh (1) Chính Đức (1) chủ (1) CHỦ BIÊN (141) Chu Giang Phong (1) Chu Lai (2) Chu Ngạn Thư (10) Chu Trầm Nguyên Minh (16) Chu Vương Miện (1) Chúa Sơn Lâm (1) Cỏ Dại (7) covid 19 (1) Công Nguyễn (1) Cơ Xương (1) Cúc Dương (1) Cuộc thi văn chương (1) CỬA SỔ VĂN HÓA (6) Dạ Ngân (1) Dã Phong Bình (2) Dã Phương (1) Dạ Thảo (2) Dạ Thy (1) Diệp Linh (18) Diệp Uy (1) Dino Buzzati (3) DỌC ĐƯỜNG (29) Du Tử Lê (1) Dung Thị Vân (28) Duy Bằng (1) Duy Phạm (6) Dương Diệu Minh (1) Dương Đăng Huệ (1) Dương Hải Yến (2) Dương Hằng (7) Dương Kim Nhi (4) Dương Kim Thoa (1) Dương Phương Vinh (1) Dương Thành Thái (3) Dương Thị Yến Trinh (2) Dương Xuân Triều (6) Dzạ Lữ Kiều (6) Đàm Lan (17) Đan Ngọc (2) đạo đức (2) Đào Hiền (2) Đào Hữu Thức (2) Đào Khương (2) Đào Minh Hiệp (2) Đào Phạm Thuỳ Trang (82) Đào Quang Bắc (1) Đào Quý Thạnh (1) Đào Thanh Hoà (14) Đào Thị Quý Thanh (1) Đào Thị Thu Hiền (3) Đào Văn Đạt (31) Đào Viết Bửu (7) Đặng Châu Long (1) Đặng Diệu Thoa (1) Đăng Đăng (1) Đăng Huỳnh (1) Đặng Quốc Khánh (8) Đặng Quý Địch (3) Đặng Tấn Tới (2) Đặng Thị Hoa (2) Đặng Thị Xuân (1) Đặng Toán (1) Đăng Trình (1) Đặng Tường Vy (3) Đặng Văn Sử (1) Đặng Việt Trinh (1) Đặng Xuân Xuyến (9) ĐIỂM BÁO (2) Điêu Thuyền (1) Đinh Lốc (2) Đình Thậm (1) Đinh Vương Khanh (4) Đoàn Khương Duy (1) Đoàn Thị Minh Hiệp (4) Đoàn Tình (1) Đoàn Tuyết Thu (1) Đoản văn (1) ĐỌC SÁCH (30) Đỗ Chiến Thắng (6) Đỗ Duy Hoàng (15) Đỗ Hồng Ngọc (5) Đỗ KIm Dung (1) Đỗ Phu (1) Đỗ Quyên (2) Đỗ Tâm Linh (1) Đỗ Tấn Đạt (2) Đỗ Thị Kim Hải (2) Đỗ Trúc Hàn (1) Đỗ Văn Tiến (1) Đỗ Xuân Phương (1) Đức Linh (1) Đức Tiên (3) Elena Pucillo Truong (6) gan jing world (1) Ghi chép (2) Giang Đình (8) Giang Hiền Sơn (6) Giáo dục (1) Guy de Maupassant (1) Hà Đoàn (2) Hạ Ly (1) Hà Nguyên (2) Hà Nhi (1) Hà Nhữ Uyên (2) Hà Phi Phượng (1) Hạ Thi (3) Hà Thị Thu Hằng (1) Hà Tùng Sơn (1) Hải Điểu (1) Hải Miên (3) Hải Phong (2) Hải Thăng (1) Hải Thuỵ (6) Hải Yến (2) Hàm Sơn (1) Hàn Dã Thảo (2) Hàn Du Tử (17) Hàn Hữu Yên (1) Hàn Lâm (1) Hãn Nguyên Nguyễn Nhã (1) Hàn Nguyệt (1) Hàn Phong Vũ (19) Hàn Tín (1) Hạng Vũ (1) Hậu Cốc Ngang (1) Hậu Đậu (1) Hiếu Dũng (1) Hoa Hướng Dương (1) Hoa Mai (2) Hoa Tím Buồn (4) Hoa Tuyết (2) Hoà Văn (10) Hoa Xuyến Chi (1) Hoài Huyền Thanh (53) Hoan Giang (1) Hoàng Anh (6) Hoàng Anh 79 (26) Hoàng Chẩm (53) Hoàng Chẫm (1) Hoàng Đình Quang (2) Hoàng Giao (4) Hoàng Hạ Miên (6) Hoàng Hữu (1) Hoàng Khánh Duy (5) Hoàng Kim (1) Hoàng Kim Chi (1) Hoàng Kim Oanh (2) Hoàng Linh (6) Hoàng Long (2) Hoàng Lộc (8) Hoàng Mẫn (1) Hoàng Minh Tường (2) Hoàng Nghĩa Lược (1) Hoàng Ngọc Xuân (4) Hoàng Nguyên (1) Hoàng Phủ Ngọc Tường (1) Hoàng Thảo Chi (1) Hoàng Thị Bích Hà (1) Hoàng Thị Nhã (8) Hoàng Thị Thu Thủy (2) Hoàng Trang (1) Hoàng Trần (1) Hoàng Trọng Quý (9) Hoàng Trọng thắng (1) Hoàng Tuấn Sơn (1) Hoàng Tuyên (2) Hoàng Vũ Thuật (1) Hoàng Xuân Hiến (1) Hoàng Xuân Niên (1) Hồ Bích Ngọc (4) Hồ Bích Vân (2) Hồ Đắc Thiếu Anh (1) Hồ Hải (2) Hồ Lê Diêm (1) Hồ Nam (1) Hồ Ngọc Diệp (1) Hồ Nhật Quang (1) Hồ Sĩ Duy (1) Hồ Thanh Ngân (10) Hồ Thế Hà (2) Hồ Thế Phất (3) Hồ Thế Sinh (1) Hồ Tĩnh Tâm (1) Hồ Tịnh Thuỷ (21) Hồ Vũ Khánh Linh (1) Hồ Xuân Thu (3) Hội Nhà văn TP. HCM (1) Hồng Hạnh (3) Hồng Liễu (1) Hồng Phúc (8) Hồng Tâm (10) Huệ Triệu (3) HUMICHI (5) Huy Nguyên (15) Huy Vọng (17) Huy Vũ (1) Huyết Kiệt (1) Huỳnh Dạ Thảo (1) Huỳnh Gia (18) Huỳnh Kim Bửu (1) Huỳnh Minh Lệ (2) Huỳnh Ngọc Nga (1) Huỳnh Ngọc Phước (29) Huỳnh Như Phương (1) Huỳnh Thanh Lan (1) Huỳnh Thị Quỳnh Nga (1) Huỳnh Thúy Thúy (1) Huỳnh Văn Diệu (1) Huỳnh Văn Mỹ (1) Huỳnh Văn Yên (1) Huỳnh Xuân Sơn (3) Hương Đêm (1) Hương Đình (4) Hương Quê Nhà (1) Hương Văn (6) Hửu Thỉnh (1) Irina Polianxkaia (1) James Dylan (4) James Joyce (1) Jeffrey Thai (9) Jerry Thu Trà (7) Kai Hoàng (1) Kate Chopin (1) Kha Tiệm Ly (4) Khả Xuân (1) Khán Võ (2) Khảo Mai (1) khoa học (1) Khổng Trường Chiến (3) Khổng Vĩnh Nguyên (1) KỊCH BẢN (1) Kiên Giang (1) Kiến Giang (12) Kiều Huệ (1) Kim Chuông (4) Kim Dung (2) Kim Ngoan (15) Kim Quyên (1) Kim Sơn Giang (22) Kim Tiết (10) Kim Yến (1) Kỳ Nam (2) Ký sự (14) Lã Bố (1) La Hán (1) La Mai Thi Gia (1) Lạc Thảo (1) Lại Ngọc Thư (1) Lam Giang (3) Lan Anh (1) Lan Phương (1) Lan Thanh (1) Lãng Du (6) Lâm Bích Thuỷ (8) Lâm Cẩm Ái (3) Lâm Hạ (11) Lâm Huy Nhuận (1) Lâm Trúc (30) Lâm Xuân Vi (1) Lâu Văn Mua (1) Lê Ân (5) Lê Bá Duy (9) Lê Đình Danh (79) Lê Đức Hoàng Vân (1) Lê Đức Lang (13) Lê Giang Trần (1) Lệ Hằng (3) Lê Hoài Lương (4) Lê Hoàng (2) Lê Hứa Huyền Trân (39) Lê Khánh Luận (1) Lê Minh Chánh (1) Lê Minh Dung (2) Lê Minh Hải (3) Lê Minh Vũ (3) Lê Ngân (3) Lê Ngọc Phái (1) Lê Ngọc Trác (1) Lê Ngũ Nam Phong (11) Lê Nhựt Triết (8) Lê Phương Châu (30) Lê Quang Trạng (23) Lê Sa Long (2) Lê Thanh Hùng (34) Lê Thanh My (8) Lê Thấu (1) Lê Thị Cẩm Tú (6) Lê Thị Hồng Thắm (1) Lê Thị Kim (1) Lê Thị Ngọc Lệ (1) Lê Thị Ngọc Nữ (33) Lê Thị Thu Hiền (1) Lê Thị Xuyên (13) Lê Thiếu Nhơn (15) Lê Thống Nhất (6) Lê Thụy Phương (2) Lê Tiến Dũng (1) Lê Tiến Mợi (6) Lê Trọng Nghĩa (3) Lê Trung Hiếu (1) Lê Tuân (4) Lê Uyên (1) Lê Văn Hiếu (12) Lê Văn Ngăn (3) Lê Vi Thuỷ (1) Lê Vinh (4) Lê Xuân Tiến (1) Lindsay Polak (1) Linh Lan (7) Linh Lan (Quảng Nam) (8) Linh Phương (3) Linh Thy (2) Long Khánh (4) Long Vương (1) luân hồi (1) Lữ Hồng (3) Lư Nhất Vũ (1) Lương Cẩm Quyên (1) Lương Duyên Thắng (3) Lương Đình Khoa (1) Lương Sơn (27) Lưu Ly (6) Lưu Quang Minh (15) Lưu Thành Tựu (1) Lưu Thị Mười (2) Lưu Xuân Cảnh (2) Lý Khánh Vinh (15) Lý Thành Long (1) Lý Thời Miễn (1) M.T.N.H (7) Mã Nhị Lan (1) Mạc Minh (2) Mạc Tố Hồng (1) Mạc Tường (2) Mai Đức Trung (6) Mai Hạnh (1) Mai Kiệm (1) Mai Loan (12) Mai Nhật (2) Mai Thanh (1) Mai Thị Vân (1) Mai Thìn (3) Mai Tuyết (37) Mang Viên Long (63) Marie Hải Miên (4) Mẫu Đơn (1) Mèo Con (1) Mi Thu (1) Miên Đức Thắng (2) Miên Linh (1) Minh Châu (2) Minh Đan (Lọ Lem Đất Võ) (6) Minh Nguyên (15) Minh Nguyễn (3) Minh Nguyệt (15) Minh Nguyệt (NT) (1) Minh Nhân Tông (1) Minh Vy (25) Mỗi tháng một tác giả và một bài thơ hay (2) Mộng Cầm (8) Mộng Nam (1) Mùa Xanh (3) Mưa (1) Mường Mán (1) MỸ THUẬT (6) My Tiên (1) Mỹ Vân (1) Nam Art (2) Nam Cao (1) Nam Thi (17) Năm Bửu (1) Nấm Độc (1) NCCGL (4) Ngàn Thương (33) Ngày Đẹp Tươi (1) nghệ thuật. (1) nghiên cứu (1) Ngọc Bút (8) Ngọc Diệp (35) Ngọc Thịnh (1) Ngô Càn Chiểu (1) Ngô Cự Chính (2) Ngô Diệp (6) Ngô Đình Hải (7) Ngô Hồng Nhung (1) Ngô Liêm Khoan (1) Ngô Minh Trãi (3) Ngô Nguyên Ngiễm (1) Ngô Thị Hoà (1) Ngô Thị Ngọc Diệp (10) Ngô Thuý Nga (30) Ngô Thúy Nga (16) Ngô Thy Học (7) Ngô Văn Cư (52) Ngô Văn Giảng (11) Ngô Văn Khanh (17) Ngô Viết Hòa (2) Nguyễn (1) Nguyễn An Bình (70) Nguyễn An Đình (4) Nguyễn Ánh 9 (1) Nguyễn Bá Nhân (1) Nguyễn Bích Sao Linh (1) Nguyễn Bình (1) Nguyễn Bính Hồng Cầu (2) Nguyên Cẩn (26) Nguyễn Châu (2) Nguyễn Chinh (4) Nguyễn Công Thụ (2) Nguyễn Công Tùng Chinh (1) Nguyễn Cử Tú Quỳnh (2) Nguyên Diệp (1) Nguyễn Dũng (1) Nguyễn Duy Khương (6) Nguyễn Duy Phương (1) Nguyễn Duy Thịnh (3) Nguyễn Đại Duẩn (2) Nguyễn Đặng Mừng (3) Nguyễn Đăng Thanh (20) Nguyễn Đăng Trình (4) Nguyễn Đình Bảng (1) Nguyễn Đình Trọng (1) Nguyễn Đoan Tuyết (25) Nguyễn Đồng Bội Thảo (1) Nguyễn Đức Chính (5) Nguyễn Đức Cơ (1) Nguyễn Đức Mậu (2) Nguyễn Đức Minh (6) Nguyễn Đức Minh Hùng (10) Nguyễn Đức Nhân (1) Nguyễn Đức Phú Thọ (26) Nguyễn Đức Quyền (4) Nguyễn Đức Tấn (6) Nguyễn Đức Tình (4) Nguyễn Gia Long (1) Nguyên Hạ (11) Nguyễn Hải Thảo (2) Nguyễn Hậu (2) Nguyễn Hiếu (8) Nguyễn Hiếu Học (2) Nguyễn Hòa Hiệp (2) Nguyễn Hoài Ân (1) Nguyễn Hoàng Thức (2) Nguyễn Hồng Diệu (1) Nguyễn Huệ (3) Nguyên Hùng (1) Nguyễn Huy (3) Nguyễn Huy (HD) (1) Nguyễn Huy Khôi (1) Nguyễn Huỳnh (1) Nguyễn Hữu Minh (1) Nguyễn Hữu Phú (1) Nguyễn Hữu Quý (2) Nguyễn Hữu Thuần (4) Nguyễn Hữu Trung (2) Nguyễn Khiêm (1) Nguyễn Khoa Đăng (51) Nguyễn Kiều Lam (2) Nguyễn Kiều Phương (3) Nguyễn Kim Hương (7) Nguyễn Kim Thịnh (1) Nguyễn Lam (2) Nguyễn Lương Vỵ (4) Nguyên Minh (1) Nguyễn Minh Dũng (46) Nguyễn Minh Hoà (1) Nguyễn Minh Khiêm (1) Nguyễn Minh Nguyệt (1) Nguyễn Minh Phúc (47) Nguyễn Minh Quang (5) Nguyễn Minh Thuận (9) Nguyễn Minh Toàn (1) Nguyễn Mỳ (1) Nguyễn Mỹ Nữ (3) Nguyễn Nga (14) Nguyễn Nghiêm (3) Nguyễn Ngọc Dũng (1) Nguyễn Ngọc Đặng (1) Nguyễn Ngọc Hà (4) Nguyễn Ngọc Hưng (6) Nguyễn Ngọc Minh Anh (1) Nguyễn Ngọc Thơ (31) Nguyễn Ngọc Tư (5) Nguyễn Nguy Anh (21) Nguyễn Nguyên Phượng (69) Nguyễn Nhật Hùng (4) Nguyễn Như Tuấn (14) Nguyễn Phin (30) Nguyên Phong (1) Nguyễn Phú Yên (8) Nguyễn Phượng (2) Nguyễn Phương Dung (2) Nguyễn Quang Quân (8) Nguyễn Quang Tâm (2) Nguyễn Quang Tuấn (1) Nguyễn Quân (2) Nguyễn Quốc Ái (1) Nguyễn Quốc Bảo (1) Nguyễn Quốc Đông (1) Nguyễn Quy (2) Nguyên Tâm (1) Nguyễn Tấn Thuyên (3) Nguyễn Thái An (3) Nguyễn Thái Dương (6) Nguyễn Thái Huy (35) Nguyễn Thành Công (48) Nguyễn Thành Giang (22) Nguyễn Thanh Hải (1) Nguyễn Thanh Huyền (8) Nguyễn Thanh Mừng (1) Nguyễn Thánh Ngã (1) Nguyễn Thành Nhân (18) Nguyễn Thanh Tuấn (7) Nguyễn Thanh Xuân (2) Nguyễn Thế Kiên (1) Nguyễn Thế Kỷ (1) Nguyễn Thị Ánh Huỳnh (2) Nguyễn Thị Bích Phượng (2) Nguyễn Thị Cẩm Thuỳ (3) Nguyễn Thị Chi (2) Nguyễn Thị Diệu Hiền (3) Nguyễn Thị Hải (1) Nguyễn Thị Hằng (7) Nguyễn Thị Hậu (1) Nguyễn Thị Hồng Đào (10) Nguyễn Thị Huệ (1) Nguyễn Thị Kim Huệ (2) Nguyễn Thị Mây (127) Nguyễn Thị Ngọc Hải (1) Nguyễn Thị Ngọc Sen (2) Nguyễn Thị Như Tâm (3) Nguyễn Thị Phụng (27) Nguyễn Thị Thanh Bình (6) Nguyễn Thị Thành Nhân (1) Nguyễn Thị Thanh Toàn (1) Nguyễn Thị Thanh Xuân (1) Nguyễn Thị Thu Ba (23) Nguyễn Thị Thu Hiền (1) Nguyễn Thị Thu Hoài (1) Nguyễn Thị Thu Thuý (3) Nguyễn Thị Thùy Linh (3) Nguyễn Thị Tiết (3) Nguyễn Thị Tuyết (1) Nguyễn Thị Việt Hà (39) Nguyễn Thị Xuân Hương (14) Nguyễn Thu Hằng (1) Nguyễn Thủy (4) Nguyễn Thúy Ngân (13) Nguyễn Thuý Quỳnh (2) Nguyễn Thường Kham (3) Nguyễn Thượng Trí (2) Nguyễn Tiến Đường (8) Nguyễn Trần (1) Nguyễn Trí Tài (40) Nguyễn Trọng Luân (2) Nguyễn Trung (1) Nguyễn Trung Nguyên (1) Nguyễn Tuyển (4) Nguyễn Văn Ân (68) Nguyễn Văn Bút (6) Nguyễn Văn Công (2) Nguyễn Văn Cường (CCK) (4) Nguyễn Văn Hiến (5) Nguyễn Văn Hoà (5) Nguyễn Văn Hòa (2) Nguyễn Văn Học (55) Nguyễn Văn Ngọc (1) Nguyễn Văn Thanh (1) Nguyễn Văn Thành (1) Nguyễn Văn Thảo (17) Nguyễn Văn Toan (1) Nguyên Vi (1) Nguyễn Việt Hà (2) Nguyễn Vinh (1) Nguyễn Vĩnh Bình (3) Nguyễn Xuân Cảm (3) Nguyễn Xuân Dương (1) Nguyễn Xuân Khánh (1) Nguyễn Xuân Thuỷ (1) Nguyễn Xuân Thủy (1) Nguyễn Xuân Tư (3) Nguyệt Linh (5) Nguyệt Quế (1) Ngưng Thu (44) Nhã Ngọc (1) Nhã Thiên (7) nhà Thương (1) Nhân Hậu (2) NHÂN VẬT (1) Nhật Nguyệt Xuân Hương (1) Nhật Quang (17) Nhất Sinh (1) Nhật Vũ (1) Nhi Hạ (1) NHỚ THUỞ ẤU THƠ (37) Như Hoài (4) NHỮNG ÁNG VĂN HAY VỀ LÀNG QUÊ VIỆT NAM (7) NHỮNG NGƯỜI BẠN ĐÂT THỦ (6) NHỮNG NGƯỜI THỰC HIỆN HQN (5) Nông Quốc Lập (2) NP phan (1) Nửa Đời hư (1) NỬA THÁNG MỘT TÁC GIẢ VÀ MỘT BÀI THƠ HAY (38) nước (1) O. Henry (1) P.N. Thường Đoan (1) Pearl (1) Phạm Ánh (34) Phạm Anh Xuân (3) Phạm Bá Nhơn (2) Phạm Cao Hoàng (1) Phạm Đình Nghi (1) Phạm Hổ (1) Phạm Hữu Hoàng (20) Phạm Kiều Hưng (1) Phạm Lâm (1) Phạm Lê Tường Vi (1) Phạm Minh Dũng (14) Phạm Minh Hiền (9) Phạm Minh Thuận (10) Phạm Mỹ (1) Phạm Ngân (3) Phạm Như Vân (1) Phạm Phan Hòa (1) Phạm Phương Lan (1) Phạm Quỳnh An (1) Phạm Thái Ba (4) Phạm Thị Hải Dương (9) Phạm Thị Liên (1) Phạm Thị Mỹ Liên (30) Phạm Thị Phương Thảo (3) Phạm Thuý (6) Phạm Trần Ái Linh (4) Phạm Trung Tín (2) Phạm Tuấn Vũ (29) Phạm Tử Văn (21) Phạm Văn Phương (16) Phạm Văn Thạnh (1) Phạm Vũ (1) Phan Anh (12) Phan Cung Việt (1) Phan Đức Nam (1) Phan Hoài Thương (1) Phan Hoàng (2) Phan Huỳnh Điểu (1) Phan Hữu Lý (1) Phan Khanh (2) Phan Mai Thư Nhã (6) Phan Nam (20) Phan Quỳnh Như (1) Phan Sửu (1) Phan Tấn Lược (6) Phan Thanh Cương (2) Phan Thị Huỳnh Trang (2) Phan Tiên Phát (1) Phan Tình (1) Phan Trang Hy (25) Phan Văn Bình (1) Phan Văn Thạnh (1) Phan Văn Thuần (3) Phan Vĩnh (1) phần 1 (1) phần 2 (1) phần 3 (1) phần 4 (1) Phiêu Vân (1) Phong Dương (2) Phong Điệp (1) Phỏng vấn (7) Phú Ngọc (1) Phú Quang (3) Phú Xuân (8) Phùng Gia Lộc (1) Phùng Hiếu (10) Phùng Hiệu (1) Phùng Hoàng Chương (1) Phùng Phương Quý (7) Phụng Thiên (1) Phùng Văn Khai (1) Phước Vũ (1) Phương Phương (10) Phương Uy (5) Quan Thế Âm (1) Quảng Ngọc (1) Quảng Ngôn Lê Ngữ (1) Quang Thám (1) Quang Tuấn Dũng (9) Quốc Hùng (2) Quốc Tuyên (1) quy luật dịch (1) Quỳnh Lệ (1) Quỳnh Nga (16) Quỳnh Trâm (1) Rason Helmandollar (1) Raymond Carver (1) Raymond Thư (1) Rêu (Cao Hoàng Từ Đoan) (13) SÁCH BẠN VĂN (71) SARAH HALL (1) SINH NHẬT (1) Song Ninh (11) Sông Hương (11) Sông Lam (1) Sông Song (8) Sơn Tịnh (2) Sơn Trần (15) Sruthi Thekkiam (1) Stephen Crane (1) T.T.Hiếu Thảo (22) Tạ Nghi Lễ (1) Tạ Thị Hoa (14) Tam quốc diễn nghĩa (4) TẢN VĂN (230) TẠP BÚT (624) Tạp chí Văn Mới (1) TẠP CHÍ VN BÌNH DƯƠNG (11) Tashi Dawa (1) Tâm Lãng (1) Tâm Nhiên (2) Tấn Hòa (1) Tần Khánh (4) Tân Vương Huy (1) TẬP SAN ÁO TRẮNG (39) Tập san Văn học nghệ thuật Hương Quê Nhà (1) Tây bá hầu Cơ Phát (1) Tây Du Ký (1) Tây Sơn bi hùng truyện (2) Thạch Anh (2) Thạch Cầu (1) Thạch Đà (7) Thạch Lam (1) Thạch Sene (5) Thái An Khánh (2) Thái Hoà (1) Thanh Bình Nguyên (27) Thành Dũng (1) Thanh Hải (1) Thanh Huyền (2) Thanh Lương (2) Thanh Minh (4) Thanh Phong (1) Thanh Sơn (1) Thanh Thảo (3) Thanh Trắc Nguyễn Văn (42) Thanh Tùng (7) Thành Văn (3) Thạnh Văn (1) Thanh Xuân (2) Thảo Nguyễn (1) Thâm Tâm (1) Thần Y (1) Thi Ngọc Lan (1) Thiên Ân (1) Thiên Di (5) Thiên Sơn (1) Thiên Thần Áo Trắng (7) Thiên Tôn (10) Thiên Trần (1) Thiệp chúc mừng năm mới (4) Thiệp chúc Tết (3) Thiệp mừng (3) Thông báo (1) Thơ (3149) Thơ Lê Nhựt Triết (1) THƠ MỜI HOẠ (7) THƠ PHỔ NHẠC (106) Thời sự Văn nghệ (6) Thu Dung (3) Thu Hằng (1) Thu Hiền (1) Thu Hoài (1) Thu Nga (1) Thuận Thảo (8) Thuận Yến (1) Thục Minh (7) Thuỳ Anh (13) Thuỵ Du (1) Thụy Du (3) Thuỳ Dương (1) Thùy Dương (1) Thủy Điền (1) Thuỳ Nhân (1) Thư cảm ơn (1) Thư ngỏ (1) THƯ NGỎ CỦA HQN (2) Thư tin (285) THƯ VIỆN TÁC GIẢ (1) Tiểu luận (4) Tiểu Mục Đồng (1) Tiểu Nguyệt (5) Tiểu thuyết (107) Tiêu Tương (1) Tin buồn (2) TIN VĂN (2) Tịnh Bình (19) Tịnh Minh Tiến (2) Tô Hồng Phương (1) Tô Kiều Ngân (1) Tố Mai (3) Tô Minh Yến (21) Tôn Nữ Hỷ Khương (2) Tôn Thất Út (2) Tôn Tư Mạc (1) Tống Ngọc Hân (1) Tống Xuân Tám (1) Trà Bình (4) TRABATHA (1) Trác Phi (1) Trang Linh (1) Trang Lộc (1) Trang Thơ Chào Xuân Mậu Tuất 2018 (1) TRANG THƠ CHỦ NHẬT (528) Trang Thơ Đón Xuân Đinh Dậu 2017 (1) TRANG THƠ ĐƯỜNG LUẬT (17) Tranh ảnh (3) Trầm Mặc (4) Trần Anh Dũng (1) Trần Bảo Định (4) Trần Băng Khuê (1) Trần Biên Thùy (1) Trần Dần (1) Trần Duy Đức (17) Trần Dzạ Lữ (4) Trần Định (1) Trần Đình Sử (2) Trần Đoàn Luận (1) Trần Đức ÁI (2) Trần Đức Hiển (1) Trần Đức Tín (1) Trần Hà Nam (4) Trần Hoàng Vy (2) Trần Hồng Vân (5) Trần Huiền Ân (2) Trần Huy Minh Phương (2) Trần Hữu Du (1) Trần Hữu Hội (17) Trần Kim Đức (5) Trần Kim Loan (2) Trần Kim Quy (1) Trần Lê Sơn Ý (2) Trần Linh Chi (1) Trần Long Thạch (1) Trần Lưu (1) Trần Mai Hường (11) Trần Mạnh Hảo (1) Trần Minh Nguyệt (16) Trần Năm (1) Trần Ngọc Hồ Trường (4) Trần Ngọc Mỹ (11) Trần Nguyên Hạnh (6) Trần Nhã My (2) Trần Như Luận (3) Trần Nhương (1) Trần Phù Nam (1) Trần Quang Dũng (4) Trần Quang Khanh (12) Trần Quang Lộc (1) Trần Quang Ngân (10) Trần Quốc Tiến (8) Trần Quốc Toàn (1) Trần Quốc Việt (1) Trần Tâm (7) Trần Thái Hưng (5) Trần Thanh Hải (3) Trần Thành Nghĩa (1) Trần Thế Nhân (13) Trần Thị Bích Thu (1) Trần Thi Ca (9) Trần Thị Cổ Tích (2) Trần Thị Huệ (1) Trần Thị Huyền Trang (3) Trần Thị Mai (1) Trần Thị Ngọc Hồng (1) Trần Thị Thanh (5) Trần Thị Thắng (1) Trần Thị Thương Thương (4) Trần Thị Trúc Hạ (1) Trần Thị Uyên (8) Trần Thiện (3) Trần Thiện Tuấn (1) Trần Thoại Nguyên (2) Trần Thuận (7) Trần Thúy Lành (6) Trần Thuỳ Trang (1) Trần Thư (1) Trần Thương Nhiều (1) Trần Trọng Hưng (2) Trần Trọng Tân (1) Trần Trọng Vũ (2) Trần Tuấn Anh (2) Trần Tuấn Thanh (10) Trần Vạn Giã (2) Trần Văn Bạn (16) Trần Văn Nhân (5) Trần Văn Thiên (1) Trần Việt (1) Trần Viết Dũng (11) Trần Võ Thành Văn (24) Triết học (2) Triều Âm (2) Triều Châu (1) Triều La Vỹ (2) Triệu Lam Châu (1) Triệu Từ Truyền (30) Trịnh Bửu Hoài (106) Trịnh Duy Sơn (2) Trịnh Hoài Linh (5) Trịnh Huy (4) Trịnh Thuỳ Mỹ (1) Trịnh Tuyên (1) Trịnh Viết Hiền (1) Trịnh Viết Hiệp (1) Trịnh Yến (2) Trọng Mật (2) trụ vương (1) Trúc Giang (4) Trúc Lập (1) Trúc Linh Lan (2) Trúc Thanh Tâm (12) Trúc Thuyên (3) trung quốc (1) Trung Trung Đỉnh (1) Trung Y (1) Truong Nguyen (1) Truyện dài (10) TRUYỆN DỊCH (17) Truyện ký (2) TRUYỆN NGẮN (1173) TRUYỆN VỪA (14) Trương Công Tưởng (16) Trương Diễm Phiến (1) Trương Đình Phượng (8) Trương Đình Tuấn (3) Trương Hồng Phúc (14) Trương Huỳnh Như Trân (2) Trương Lan Anh (1) Trương Nam Chi (5) Trương Thanh Cường (2) Trường Thắng (65) Trương Thị Thanh Tâm (22) Trương Thị Thúy (2) Trường Thịnh (6) Trương Tri (2) Trương Văn Dân (21) Trương Viết Hùng (1) TTM (1) Tuấn Nguyễn (7) Tuấn Quỳnh (3) Tuệ Mỹ (1) Tuti (2) Tuỳ bút (2) TÙY BÚT (120) Tuyết Nhung (2) Tuyết Vân (1) tứ đại mỹ nhân (1) Tường Vi (1) TX (1) Út Lãng Tử (1) Uyên Khuê (2) Uyên Minh (1) Uyển Phan (1) Vạn Lộc (1) Vành Khuyên (1) Văn (2483) Văn Công Mỹ (2) văn hóa truyền thống (5) Văn học nước ngoài (13) Văn Lưu (1) Văn Nguyên (1) Văn Nguyên Lương (7) Văn Nhược Ba (1) Văn Thạnh (2) Văn Thành Lê (1) Văn Thắng (23) Văn Trọng Hùng (1) Vân Đồn (3) Vân Giang (12) Vân Khanh (2) Vân Phi (32) Vân Tùng (2) Vi Ánh Ngọc (2) Vi Quốc Hiệp (1) Victor Remizov (1) VIDEO CLIP (2) Viễn Trình (25) Việt Quỳnh (1) Việt Trang (1) Việt Trương (1) Vĩnh Sơn (7) Vĩnh Thông (43) Vĩnh Tuy (21) Võ Bá Cường (1) Võ Chân Cửu (17) Võ Chí Nhất (3) Võ Công Liêm (1) Võ Diệu Thanh (18) Võ Dõng (1) Võ Đông Điền (4) Võ Hà (1) Võ Hạnh (2) Võ Mỹ Cát (1) Võ Ngọc Thọ (4) Võ Như Văn (3) Võ Thị Nga (13) Võ Thị Thu Thủy (1) Võ Thuỵ Như Phương (15) Võ Văn Hoa (1) Võ Văn Luyến (1) Võ Xuân Phương (3) Vũ Bình Lục (1) vũ đạo (1) Vũ Đình Huy (9) Vũ Đình Liên (1) Vũ Đình Minh (1) Vũ Đình Nguyệt (2) Vũ Đình Thung (2) Vũ Đức Trọng (1) Vũ Hạ (1) Vũ Hạnh (3) Vũ Hùng (2) Vũ Miên Thảo (5) Vũ Thành An (1) Vũ Thị Huyền Trang (115) Vũ Thụy Khuê (8) Vũ Trọng Quang (1) Vũ Trọng Tâm (2) Vũ Trọng Thanh (1) Vương Doãn (1) Vương Hạnh (1) Vương Hoài Uyên (4) Vương Tâm (3) Xanh Nguyên (4) Xuân Đài (1) Xuân Phong (6) Xuân Phương (1) Xuân Tiến (20) Ý Thu (3) Yên Kha (7) Ziken (2)
-------------------------------------------------------------------------
+ 817 TÁC GIẢ CÓ BÀI ĐĂNG TRÊN HƯƠNG QUÊ NHÀ
-------------------------------------------------------------------------