TỔ QUỐC BÊN BỜ SÓNG (KỲ 12) - Ký sự của Khánh Vinh & Kiến Giang

 

Có một đội quân tóc dài ven biển


Chúng tôi về với đội nữ pháo binh Ngư Thủy trong một chiều nắng vàng rực vùng quê lúa. Những hạt lúa vàng ươm trĩu nặng trong nắng gió… Quê hương ta ôi bình dị và đẹp quá! Cũng tại vùng đất đầy đau thương lẫn hào hùng này, Đại đội nữ pháo binh Ngư Thủy anh hùng (Quảng Bình) đã sống và chiến đấu một thời máu lửa…

    Đại đội nữ pháo binh Ngư Thủy hôm nay tóc ai cũng vẫn dài nhưng đã lốm đốm muối tiêu

    Những ngày hào hùng 
    Đại đội trưởng Đại đội nữ pháo binh Ngư Thủy anh hùng - bà Ngô Thị Kim The cho biết, đại đội được thành lập ngày 20-11-1967 với 37 thành viên, toàn là nữ. Suốt quá trình hoạt động, số lượng của đơn vị lên đến 91 thành viên. Đại đội lúc mới thành lập có 37 đồng chí, được phiên thành 3 trung đội: 1 trung đội chỉ huy (một đài chính và một đài giao hội) và 2 trung đội trận địa, 1 tiểu đội trinh sát, 1 tiểu đội thông tin, 1 đài chỉ huy, 1 đài giao hội và một tiểu đội hậu cần. Trong suốt 10 năm chiến đấu (21-11-1967 đến 16-12-1976), đơn vị đã nhiều lần được bổ sung, vì thế quân số của toàn đại đội lên tới 91 người. 
    Trong quá trình hoạt động, Đại đội nữ pháo binh Ngư Thủy đánh tổng cộng 8 trận (4 trận năm 1968 và 4 trận năm 1972). Đơn vị đã được công nhận 5 lần bắn cháy và chìm tàu chiến Mỹ bằng pháo mặt đất 85 ly để bảo vệ vùng biển đầu giới tuyến Quảng Bình. Bởi thế nên mới có câu thơ về đại đội: “Đêm trận địa tiếng pháo gầm bãi biển/ Đuổi giặc thù nghe rõ tiếng chân em”. Đây là một thành tích rất đáng vinh dự tự hào và ngày 25-8-1970, nhân dịp kỷ niệm lần thứ 25 Quốc khánh, Đại đội nữ pháo binh Ngư Thủy đã được Đảng, Nhà nước tuyên dương đơn vị Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân. Đây là đơn vị dân quân thứ hai của huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình vinh dự trở thành Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân. 
    Tiếp đón chúng tôi, ông Ngô Gia, Chủ tịch UBND xã Ngư Thủy, huyện Lệ Thủy, Quảng Bình xúc động: “Mặc dù phải chiến đấu, chịu mọi nguy hiểm, khó khăn vất vả nhưng các chị vẫn kiên cường bám cao điểm đánh giặc. Năm 1977, sau khi hoàn thành nhiệm vụ, các cô gái ở tuổi từ 18 đến 22, sau 10 năm, lại trở về làm chị, làm mẹ giữa thời bình. Đại đội nữ pháo binh Ngư Thủy nức tiếng xa gần trở về với thiên chức thiêng liêng…”. 
    Thầm lặng đời thường 
    Tiếp chúng tôi trong căn nhà hai tầng khang trang là đôi vợ chồng cựu pháo binh Ngư Thủy, nay đã bước sang tuổi xế chiều. Nụ cười luôn thường trực trên môi, ông bà kể cho chúng tôi nghe về những năm tháng gian khổ nhưng đẹp và ý nghĩa nhất cuộc đời mình. 
    Chính mảnh đất đầy khói lửa ấy đã se duyên cho mối tình của cô gái Ngư Thủy và chàng trai Quảng Trạch để họ có thêm niềm tin, động lực đương đầu với những tàn khốc của cuộc chiến. Thời thanh xuân, người con gái Ngư Thủy vốn xinh đẹp, hiền dịu, nết na có tiếng trong làng. Chính vì thế, nữ pháo binh Trần Thị Thanh Thản được không ít chàng trai “trồng cây si”. Thế nhưng duyên số lại đưa đẩy bà gặp và yêu ông Nguyễn Hữu Đạt từ lúc nào không hay. Bà kể, hồi đầu mới gặp ông, bà chẳng mấy ấn tượng bởi ông “lầm lì, ít nói”. Nhưng tiếp xúc nhiều mới biết ở chàng pháo binh kiệm lời ấy là cả một trái tim nồng ấm và bao la vô nhường. Những ngày cùng huấn luyện, bà được nghe kể nhiều về hoàn cảnh của ông Nguyễn Hữu Đạt. Lúc cha mẹ ông bị vùi dưới lớp bom đạn trong căn nhà bị cháy chỉ còn trơ cột sau trận càn của địch, cũng là lúc ông đang xông pha ngoài chiến trường. Nỗi đau đã biến lòng căm thù trong chàng pháo binh thành ý chí, quyết tâm không thể khuất phục. Ở đơn vị, ông nổi tiếng là một chiến sĩ gan dạ, dũng cảm, luôn hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao. 
    Có lẽ vì thương cho những mất mát quá lớn và cảm cái sự hiền lành mà gan lì, dũng cảm của chàng pháo binh Nguyễn Hữu Đạt nên bà Thản mới bắt đầu “để ý” đến. Và chính những ngày gắn bó khi cùng huấn luyện pháo đã “đẩy” hai người xích lại gần nhau, rồi tình yêu nảy nở trong cảm giác ngỡ ngàng của chính hai người. Trong mưa bom lửa đạn và những kỷ luật nghiêm khắc của quân đội, tình yêu của họ vẫn nảy nở đẹp như “hoa xương rồng” trên cát. Hòa bình trở lại, theo dấu chân từng đoàn quân chiến thắng trở về Bắc, chàng pháo binh Nguyễn Hữu Đạt hạnh ngộ vợ con trong niềm vui khôn xiết. Giờ thì đứa con nhỏ ngày nào sinh ra trong mưa bom, bão đạn đã là chàng thanh niên khôi ngô, tuấn tú. Và, đôi vợ chồng se duyên trong khói lửa vẫn ngày ngày sống giản dị giữa vùng quê trĩu lúa… Câu chuyện về nữ pháo binh Ngư Thủy Trần Thị Thanh Thản với anh Nguyễn Hữu Đạt chỉ là một trong rất nhiều câu chuyện ly kỳ về các thành viên của Đội nữ pháo binh Ngư Thủy. Hòa bình lập lại, đội quân tóc dài Ngư Thủy tiếp tục trở lại với thiên chức làm mẹ, làm vợ và tăng gia sản xuất xây dựng xã hội chủ nghĩa. 
    Chúng tôi, trong hành trình thực hiện loạt bài “Tổ quốc bên bờ sóng”, đã may mắn có dịp về thăm các chị, các mẹ bên bờ sóng xã Ngư Thủy. Nơi đây hằn in bao chiến công của họ lẫn cả xác quân thù trên biển cả. Biển mặn ghi dấu ngàn năm những chiến công lẫy lừng của Đại đội nữ pháo binh Ngư Thủy là thế…
    Ngày 20-11-1967, Ban Chấp hành Tỉnh đội Quảng Bình quyết định thành lập Đại đội pháo nữ dân quân Ngư Thủy gồm 37 chiến sĩ tuổi từ 16 - 22. Để đánh địch có hiệu quả, đại đội đã xây dựng trận địa cơ động dọc theo 22km bờ biển của xã. Trận địa Trong Chuối (nay thuộc xã Hải Thủy) là một trong những địa điểm đại đội lập được nhiều chiến công bắn cháy tàu chiến Mỹ.
    Ngày 7-2-1968, chưa đầy 3 tháng sau ngày thành lập, Đại đội pháo nữ dân quân Ngư Thủy đã dùng pháo 85 ly bắn cháy khu trục hạm số 013 của đế quốc Mỹ. Ngày 27-3-1968, đại đội lại bắn cháy tàu khu trục hạm số 719. Ngày 16-5- 1968, các nữ pháo binh tiếp tục bắn cháy khu trục hạm số 742… Chỉ trong vòng 100 ngày kể từ khi mới thành lập, đơn vị đã anh dũng bắn cháy 3 tàu khu trục hạm của hải quân Mỹ, góp phần bảo vệ vùng biển thân yêu của Tổ quốc. Với thành tích đó, ngày 25-8- 1970, đại đội được Quốc hội và Chính phủ tuyên dương đơn vị Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân. Trong 2 ngày 5-5 và 6-9-1972, đại đội đã nổ súng bắn cháy 2 tàu chiến Mỹ được Bộ Tư lệnh Pháo binh gửi điện khen ngợi…



     “Vua” cá ngừ đại dương Năm Rỵ


    Ở tuổi 64, lão ngư Trần Kim Hoa (tức Năm Rỵ) không còn trực tiếp đánh bắt cá ngừ đại dương nữa. Tuy nhiên, trong lòng nhiều người gắn bó với nghề khai thác nguồn lợi từ biển này, ông vẫn là “vua” cá ngừ, vì có công tìm ra một hướng đi mới cho hàng ngàn ngư dân bám biển…


      Ngư dân bám biển để khai thác cá ngừ đại dương đã góp phần bảo vệ chủ quyền vùng biển của Tổ quốc Ảnh: KHÁNH VINH

      Từ cá mập đến cá ngừ đại dương
      Chúng tôi tìm đến nhà ông Năm Rỵ ở phường 6, TP.Tuy Hòa (Phú Yên). Không còn cưỡi sóng, đạp gió ra khơi nhưng ngày ngày ông vẫn ở nhà theo dõi tọa độ, ngư trường qua bản đồ và chỉ huy 3 con tàu do các con làm thuyền trưởng. Năm Rỵ là một biệt danh trìu mến mà nhiều người trong nghề đặt cho ông vì cảm phục cái tính lì lợm, kiên gan bám biển của ông.
      Ông kể, lúc 15 - 16 tuổi, ông đã ra biển, nối nghiệp cha làm nghề câu cá mập. Con cá mập nặng cả trăm kg, chỉ cần một sơ sót nhỏ thôi cũng có thể bị những chiếc răng sắc nhọn của nó ngoạm đứt tay, đứt chân như chơi. Chính vì thế, nghề câu cá mập dạy cho ông tính gan lì, cẩn thận vốn rất cần thiết cho một người dân đi biển. Cũng từ sự kiên gan ấy, ông cảm thấy rất bất bình khi tàu lớn của nước khác tìm đến vùng biển của Việt Nam để đánh bắt cá. Ông cho biết: “Hồi ấy tàu của mình còn nhỏ, không ra được xa bờ nên thấy tàu của nước ngoài tìm đến tận vùng biển của mình để bắt cá, tui ức lắm, vì biết vùng biển chủ quyền của mình còn xa nữa, nhưng tàu nhỏ không làm gì được…”. Cũng chính vì vậy mà ông đã tìm ra một nghề đánh bắt thủy sản mới ở biển khơi: Câu cá ngừ đại dương.
       
      Ông Năm Rỵ đón chuyến câu cá 
      ngừ đại dương trở về. Ảnh: KHÁNH VINH
       Đó là vào năm 1992, khi thấy hai tàu lạ của nước ngoài vào tận vùng biển thuộc chủ quyền của ta đánh bắt, ông đặt dấu hỏi: Họ đến tận biển của mình để làm gì? Băn khoăn, ông bí mật tìm hiểu, nghiên cứu vài lưỡi câu và rẻo câu của tàu lạ. Lạ ở chỗ, lưỡi câu không phải loại dùng để câu cá mập. Ông mắc vào thử chung với dàn lưỡi câu của mình. Chuyến đi biển ấy, thuyền ông bội thu cá mập, đáng chú ý, từ lưỡi câu nước ngoài lại dính một con cá ngừ đại dương.
      “Tui mang con cá ngừ đại dương về, vợ tui xỉa xói quá trời. Vì lúc đó con cá ngừ đại dương không ai ăn, độ 6.000 - 8.000/kg, chỉ nấu cho heo!”, ông ngậm ngùi nhớ lại. Nhưng cũng từ chuyến đi biển này, Công ty Thủy sản Bình Định nghe tin ông Năm Rỵ săn được cá ngừ đại dương vội vàng cho người vào tận nơi thu mua. Rồi bỗng dưng, loại cá này có giá. Ông nhờ người thân đặt mua thêm lưỡi câu, dụng cụ câu từ Đài Loan rồi về hướng dẫn các tàu khác cùng đi câu cá ngừ đại dương với mình. Đó là năm 1994, nghề câu cá ngừ đại dương Việt Nam ra đời từ đó.
      Trăn trở với biển khơi
      Trong ngành thủy sản, Phú Yên là tỉnh đầu tiên có nghề câu cá ngừ đại dương. Còn người Phú Yên lại xem ông Năm Rỵ là “ông tổ” của nghề này. Hiện nay, 3 tỉnh Bình Định, Phú Yên, Khánh Hòa đã có tổng cộng hơn 1.000 tàu đánh bắt xa bờ, chủ yếu là câu cá ngừ đại dương. Bởi cá ngừ đại dương giờ có giá 70.000 - 80.000 mỗi kg nên nghề này không chỉ trở thành nghề chính để ngư dân khai thác nguồn lợi từ biển cả mà còn trở thành động lực lớn để ngư dân miền Trung vươn khơi, bám biển góp phần giữ vững chủ quyền biển đảo đất nước.
      Đưa chúng tôi ra cảng cá, ông Năm Rỵ đứng trên một mũi tàu lớn cười sảng khoái: “Ai đâu ngờ mình lại phát hiện ra một nghề khai thác mới cho hàng ngàn người. Trong 10 năm qua, con cá ngừ đại dương đem lại thu nhập hàng ngàn tỷ đồng cho ngư dân…”. Riêng với bản thân, nghề câu cá ngừ đại dương biến ông từ một lão ngư nghèo đã trở thành một tỷ phú. Hiện ông có trong tay 3 tàu cá trị giá hơn 4 tỷ đồng và một cơ ngơi đáng mơ ước.
      Tuy kiếm được bộn tiền từ nghề câu cá ngừ đại dương và chia đều các tàu cá cho các con trai tiếp tục vươn khơi làm nghề nhưng trong lòng ông “vua” cá ngừ Năm Rỵ vẫn còn nhiều trăn trở. Ông cho biết, chiếc tàu lớn nhất của ông hiện nay cũng chỉ ở mức 370 CV. Đây là một trở ngại lớn đối với những ngư dân như ông. Chính vì thế, ông chỉ ước ao sau này các con và bạn tàu có đủ vốn để đóng những chiếc tàu lớn hơn, thậm chí là tàu vỏ sắt theo chương trình hỗ trợ của Chính phủ hay tàu composite do những người bạn Nhật hỗ trợ.
      Anh Trần Kim Chẩn, con trai út của ông Năm Rỵ cho biết: “Nhiều lần trên biển cả, đương đầu với tàu lớn của nước ngoài rất bực mình vì các hành động khiêu khích, đâm va nhưng phải ngậm ngùi rút dây câu, thu lưới bỏ đi nơi khác. Nếu có tàu to hơn, chắc chắn tình thế sẽ khác…”. Trong số 30 tàu của đội tàu tình nguyện vừa đánh bắt vừa bảo vệ chủ quyền biển đảo của Phú Yên, có 2 tàu của nhà ông Năm Rỵ do các con ông làm thuyền trưởng.
      Chia tay Năm Rỵ, ông “vua” cá ngừ đại dương, chúng tôi không khỏi cảm phục trước sự sáng tạo, tinh thần vươn ra biển lớn của ngư dân Việt Nam. Ông Võ Thiên Lăng, Phó Chủ tịch Hiệp hội Nghề cá Việt Nam, cho biết: “Cá ngừ đại dương chỉ có ở vùng biển xa nên nếu được tổ chức tốt, chính ngư dân câu cá ngừ đại dương sẽ góp phần quan trọng rào việc bảo vệ chủ quyền biển đảo của Tổ quốc. Tôi đánh giá rất cao sự tìm tòi để phát triển nghề này của ông Năm Rỵ. Ông ấy đáng được vinh danh…”.



       Thọ Quang rộn ràng sóng vỗ


      “Muốn hiểu thêm về tinh thần vươn khơi bám biển của ngư dân miền Trung, mời bạn cứ ra âu thuyền Thọ Quang…”. Chúng tôi nghe theo lời giới thiệu của một đồng nghiệp Báo Thanh Niên tìm đến Thọ Quang, một âu thuyền thuộc loại lớn nhất miền Trung, cũng là vựa hải sản rất phong phú…


         Tàu cá đang neo đậu ở âu thuyền Thọ Quang chờ ngày ra khơi

        Nơi những con tàu vươn khơi
        Giữa trưa nắng chang chang, bán đảo Sơn Trà vạm vỡ đứng hiên ngang bên vịnh Đà Nẵng. Đi qua cầu Rồng, thêm một đoạn dài qua các dãy phố thênh thang, xanh, sạch của Sơn Trà, chúng tôi đến âu thuyền Thọ Quang (quận Thanh Khê, TP.Đà Nẵng). Âu thuyền chen chúc người trên bến, dưới thuyền khiến cho chúng tôi quên đi cảm giác oi bức của cái nắng trưa hè. Những con tàu san sát cập bờ cảng Thọ Quang đang đợi bốc dỡ hải sản sau một chuyến đi biển đầy ắp cá tôm. Thọ Quang không chỉ là âu tàu an toàn tránh bão, mà còn là một trong những chợ hải sản lớn nhất miền Trung.
        Ông Phạm Bá Hùng, Phó Trưởng ban Quản lý âu thuyền Thọ Quang cho biết: “Trong những ngày qua, lượng tàu thuyền của ngư dân miền Trung cập cảng cá Thọ Quang khá lớn, có ngày hơn 70 tàu cập bến. Phần lớn là tàu cá của ngư dân Đà Nẵng, Quảng Bình, Quảng Ngãi, Bình Định, Thừa Thiên - Huế... Theo thiết kế, âu thuyền Thọ Quang có thể tiếp nhận khoảng 1.200 tàu có công suất 30 CV trở lên cùng một thời điểm. Tuy nhiên, từ năm 2012 đến nay, âu thuyền luôn là điểm cập bến quen thuộc của tàu thuyền đánh bắt cá gần bờ, xa bờ và nhất là tàu thuyền khai thác hải sản ở ngư trường Hoàng Sa, Trường Sa trở về. Có lúc, số lượng tàu cập âu thuyền Thọ Quang lên đến 1.600 chiếc, nhộn nhịp vô cùng.
        Chúng tôi bắt gặp anh Nguyễn Quang Hiển, một chủ tàu đánh bắt cá xa bờ vừa cập cảng Thọ Quang. Anh cho biết, chuyến đi biển vừa rồi thuyền có 8 thuyền viên, đi suốt 13 ngày mới về. Sau khi trừ các chi phí, mỗi người thu được từ 5 - 10 triệu đồng. Đây là một thu nhập không nhỏ đối với người ngư dân bám biển. Chính vì thế, từ giờ đến cuối năm, tàu của anh tiếp tục ra khơi.

         Ngư dân sửa lưới trước khi rời âu thuyền Thọ Quang đánh bắt xa bờ

        Và những trái tim giữ biển
        Ngư dân trẻ Trần Văn Mười mời chúng tôi lên tận cabin tàu câu mực của mình, chỉ từng vết nứt trên mạn tàu. Anh kể, trong chuyến câu mực vừa rồi, dù bị nhiều tàu nước khác vây, gây khó dễ nhưng tàu vẫn cương quyết bám lấy ngư trường Hoàng Sa, Trường Sa, tiếp tục khai thác trên vùng biển của mình. Dẫu thế, nhiều tàu vỏ sắt của các thế lực nước ngoài vẫn hay quấy nhiễu, nhiều lần đâm vào mạn tàu của anh để cản trở việc đánh bắt hợp pháp. Vậy nhưng anh rất tự tin: “Tàu của tôi thuộc loại lớn nhất ở đây. Có bị quấy nhiều, tôi cũng phải khai thác đầy tàu rồi mới về. Rời âu thuyền Thọ Quang đi đúng 2 tháng, tàu của tôi về mang đầy ắp mực xà, thu lợi hơn 2 tỷ đồng…”.
        Âu tàu Thọ Quang nằm thoai thoải bên giữa biển và những vách núi sừng sững của bán đảo Sơn Trà. Cũng từ đây, hàng ngàn lượt tàu ra, về. Họ về Thọ Quang lấy “tổn” rồi hiên ngang đạp sóng, cưỡi gió, vươn ra biển lớn bất chấp những khó khăn, thậm chí là nguy hiểm rình rập ở khơi xa. Chúng tôi lặng người bên tàu QNg 97093 TS khi bắt gặp cảnh 4 - 5 ngư dân đang ngồi vá lại những mảnh lưới bị rách bươm sau lần đi biển đầy bất trắc. Ngư dân trẻ Trần Văn Bạn cho biết: “Có lần bọn tôi thả lưới vây xong, đang chuẩn bị kéo thì tàu nước ngoài cố tình đi băng qua làm đứt lưới. Bất bình nhưng chúng tôi vẫn kiên gan gia cố tạm rồi kéo lưới. Giữa biển cả mênh mông, mình là tàu gỗ công suất nhỏ nên vừa bám biển bằng sự gan góc, vừa phải tỉnh táo để làm việc của mình…”.
        Đứng trên mạn tàu QNg 97093, bên những tiếng nói cười rộn rã, hồn nhiên của những anh ngư dân vá lưới, chúng tôi thầm nghĩ về những vết nứt trên tàu câu mực của anh Trần Văn Mười. Giữa biển khơi, họ kiên gan bám biển, giữ vững ngư trường trước bao khó khăn, thách thức của cả thiên tai và “nhân tai”. Nếu nói vì miếng cơm manh áo thôi cũng không đúng. Đó còn là truyền thống, là sự bền bỉ, kiên định của ngư dân Việt trên ngư trường của cha ông bao đời để lại.
        Chúng tôi rời âu thuyền Thọ Quang khi hàng chục chiếc tàu công suất lớn đang khẩn trương lấy “tổn” để chuẩn bị cho chuyến ra khơi mới. Âu thuyền ngày ngày vẫn rộn ràng sóng vỗ, đưa tiễn những con tàu bám biển, ra khơi đầy khí thế để mang nhưng sản vật của đại dương trở về. Theo thống kê từ Ban quản lý âu thuyền và cảng cá Thọ Quang, năm 2013 sản lượng tàu cá cập cảng khoảng 17.800 chiếc với hơn 77.300 tấn hải sản các loại. Hiện nay, cảng cá Thọ Quang chưa trang bị được cân điện tử nên số lượng chỉ tính trên cơ sở ước lượng sản lượng mỗi tàu. Cảng cá Thọ Quang đang phấn đấu để lên cảng loại 1 và trở thành chợ đầu mối lớn nhất phục vụ ngư dân khu vực miền Trung.
        Thọ Quang một ngày biển lộng, đầy nắng. Những con thuyền đang neo đậu chỉnh tề trong âu thuyền đợi ngày vươn mình trên biển. Cờ đỏ sao vàng tung bay phấp phới trên đỉnh những cabin tàu tựa như một vũ điệu lấp lánh màu sắc dưới nắng vàng trên bán đảo Sơn Trà. Ngày ngày, biển vẫn dang tay ôm vào lòng những con tàu ra đi từ Thọ Quang, mang theo hàng ngàn trái tim giữ biển, giữ vững chủ quyền đất nước.

         Kỳ 13: Tình yêu biển lớn

         KHÁNH VINH - KIẾN GIANG
          

        Read more…

        TỔ QUỐC BÊN BỜ SÓNG (KỲ 11) - Ký sự của Khánh Vinh & Kiến Giang

         

        Nối những mùa vui



          Xã Tam Quan Bắc (Hoài Nhơn, Bình Định) trong một ngày hè rực nắng, ắp tiếng cười vui rộn rã. Những khuôn mặt rạng rỡ thấp thoáng sau những đôi tay vạm vỡ chắc tay câu, tay lưới từ ngư trường Hoàng Sa - Trường Sa trở về. Mùa vui đang nối những mùa vui đến cùng những thông tin hợp tác từ những người bạn Nhật…
          Bám biển với cá ngừ đại dương
          Chúng tôi len lỏi giữa những tuyến đường khang trang, sạch sẽ giữa các thôn xóm của xã Tam Quan Bắc với lời giới thiệu rất lạ của một nữ đồng nghiệp chuyên viết về biển đảo: “Đây là xã miền biển mà tôi thấy lạ nhất từ Bắc chí Nam. Họ sống hào sảng và xây dựng kinh tế biển rất chắc…”. Quả vậy, xã Tam Quan Bắc không chỉ có trụ sở khang trang, các ngành công nghiệp, dịch vụ, thương mại… phát triển đồng bộ mà còn có sức mạnh rất lớn về ngư nghiệp. Tam Quan Bắc một trưa hè, hai bên đường tràn ngập những chiếc xe máy hạng sang và cả xe hơi đắt tiền.  
          Ngư dân xã Tam Quan Bắc đóng tàu công suất lớn câu cá ngừ đại dương tại ngư trường Hoàng Sa, Trường Sa
          Chủ tịch UBND xã Tam Quan Bắc Phạm Ngọc Bảo cho chúng tôi biết, thu nhập bình quân đầu người của xã những năm gần đây liên tục tăng cao nhờ nghề câu cá bò gù, hay còn gọi là câu cá ngừ đại dương. Chỉ riêng trong năm 2013, toàn xã có đến 723 tàu đánh bắt hải sản, tổng công suất lên đến 161.000CV. Trong đó, cá ngừ đại dương đạt sản lượng lên đến 6.730 tấn. Chúng tôi làm phép tính nhẩm nhanh: Nếu mỗi kg cá ngừ có giá 70.000 - 80.000 đồng, số tiền thu về của ngư dân Tam Quan Bắc phải lên đến hơn 500 tỷ đồng mỗi mùa câu cá ngừ - một con số hấp dẫn từ đại dương.
          Ông Bảo cho biết thêm, trong những năm qua do liên tục trúng mùa câu cá ngừ đại dương nên xã có thêm nhiều tỷ phú. Được đưa ra tận cầu cảng để đón thuyền về, chúng tôi may mắn được gặp nhiều chủ tàu câu cá ngừ đại dương cập bến. Nhờ liên tục nâng cấp và hiện đại hóa đội tàu, nên ngư trường của ngư dân Tam Quan Bắc liên tục được mở rộng. Từ chỗ chỉ dùng tàu nhỏ câu cá ở những vùng biển Đà Nẵng - Khánh Hòa, nay thuyền của ngư dân Tam Quan Bắc đã vươn xa, hoạt động chủ yếu ở Hoàng Sa, Trường Sa.
          Anh Nguyễn Văn Dinh, một chủ tàu câu cá ngừ đại dương chia sẻ: “Từ đầu năm, chúng tôi thực hiện 3 chuyến đi câu cá ngừ. Dù gặp nhiều tàu cá của các nước gây chuyện nhưng chúng tôi vẫn liên tục câu được mỗi chuyến 30 - 40 con. Nhờ thế, anh em thuyền viên đi chuyến nào về cũng thu nhập khá…”. Quả vậy, những ngày này đi đến đâu ở Tam Quan Bắc chúng tôi cũng gặp những nụ cười sảng khoái với niềm vui được mùa, được giá cá ngừ đại dương.
          Nghĩa tình đại dương
          Bám biển và làm giàu từ biển, những ngư dân của Tam Quan Bắc càng thêm vui mừng khi có sự hỗ trợ rất lớn từ những người bạn Nhật Bản. Đại dương rộng lớn không chỉ ôm đất mẹ bao la vào lòng, mà còn mang nặng nghĩa tình, đưa những người bạn Nhật đến với ngư dân Việt Nam. Theo lời mời của Chủ tịch UBND tỉnh Bình Định Lê Hữu Lộc, hai chuyên gia Nhật Bản là ông Hirosuke Kato và ông Masakazu Shoga đã bay từ Osaka (Nhật) sang Việt Nam rồi ra Quy Nhơn để trực tiếp hướng dẫn ngư dân Tam Quan Bắc cách đánh bắt, bảo quản cá ngừ đại dương.  
          Đánh bắt cá ngừ đại dương mang lại nguồn lợi to lớn, giúp ngư dân bám biển, làm giàu từ biển
          Không chỉ hỗ trợ cho ngư dân Tam Quan Bắc dùng thử 5 bộ cần câu hiện đại của Nhật, hai chuyên gia còn hướng dẫn sử dụng bộ câu, cách câu, cách sử dụng thiết bị để giữ con cá ngừ còn sống lên boong tàu, cách lấy sạch máu cá và làm lạnh đột ngột để đạt tiêu chuẩn xuất khẩu sang Nhật. Nếu tuân thủ các quy trình này, cá ngừ đại dương của ngư dân Tam Quan Bắc câu được sẽ được nâng cao giá trị thương phẩm.
          Ông Nguyễn Văn An, chủ tàu BĐ 96776 TS, thôn Tân Thành II, cho biết: “Theo phương pháp sơ chế và ướp lạnh trong hầm tàu của các ngư dân Nhật chỉ giúp, tàu của tôi đi được 3 chuyến biển, bình quân đạt 4,5 tấn/ chuyến. Sản phẩm cá ngừ đưa về bờ được Công ty Cổ phần Thủy sản Bình Định mua lại với giá cao hơn 20% giá thị trường cùng thời điểm. Vừa rồi, giá cá ngừ các tàu khác được thu mua 80.000 đồng/kg, theo phương pháp mới, chúng tôi bán được 96.000 đồng, hiệu quả kinh tế cao hơn, ngư dân rất phấn khởi…”.
          Theo ông Lê Hữu Lộc, Chủ tịch UBND tỉnh Bình Định, việc thu mua thông qua Công ty Cổ phần Thủy sản Bình Định chỉ là giải pháp trước mắt. Cá sau khi thu mua sẽ được vận chuyển bằng đường hàng không vào TP.HCM rồi xuất sang Nhật để bảo đảm không quá 10 ngày. Cá ngừ đại dương do ngư dân Tam Quan Bắc khai thác được bán tại chợ đấu giá hải sản Nhật với giá khởi điểm 10 USD/kg. Bằng phương pháp mới của phía Nhật, giá trị thương phẩm con cá ngừ đại dương của ngư dân xã Tam Quan Bắc đánh bắt tăng lên nhiều lần. Cũng theo ông Lộc, trong tương lai phía Nhật Bản sẽ hỗ trợ hàng ngàn bộ câu khác và bảo đảm bao tiêu sản phẩm cá ngừ đại dương từ Việt Nam.
          Một thông tin khác không thể vui hơn, đó là việc chính phủ Nhật Bản đã quyết định hỗ trợ tàu câu cá ngừ đại dương đóng bằng vật liệu composite hiện đại với công nghệ hoàn toàn mới. Từ đây, các ngư dân Bình Định, Phú Yên, Khánh Hòa sẽ có cơ sở vững chắc để cùng các đội tàu cá vỏ sắt vươn khơi, bám biển, phấn đấu đạt mục tiêu 1,5 tỷ USD kim ngạch xuất khẩu cá ngừ đại dương. Không chỉ tàu hiện đại, công nghệ câu, bảo quản cá ngừ đại dương cũng rất hiện đại, khác hoàn toàn so với phương pháp dùng vồ đập chết cá rồi vùi trong đá lạnh như ngư dân ta lâu nay vẫn làm…
          Nghĩa tình không chỉ bên con cá ngừ đại dương, nó còn đến từ nhiều thông tin về sự hợp tác toàn diện trong mối quan hệ tốt đẹp giữa 2 nước Việt Nam - Nhật Bản. Và, những ngày này về với ngư dân Tam Quan Bắc, ngư dân miền Trung, mới thấy hết được niềm tin vững chắc vào những mùa vui nối tiếp, giúp ngư dân yên tâm bám biển, góp phần giữ vững ngư trường, giữ vững chủ quyền biển đảo thiêng liêng của Tổ quốc…


           Ngẩn ngơ sóng nước Xuân Đài


          Chúng tôi đến với vịnh Xuân Đài (Sông Cầu, Phú Yên) trong một buổi chiều tà. Hoàng hôn ánh lên những gam đỏ rực trên bầu trời, in bóng xuống mặt nước biển, tạo nên một bức tranh thiên nhiên kỳ thú. Đến với vịnh Xuân Đài để ngẩn ngơ cùng sông nước và con người ở đây.


            Vịnh Xuân Đài được xem là một trong những vịnh biển đẹp nhất Việt Nam

            Phong phú sản vật biển 
            Vịnh Xuân Đài, một trong những vịnh biển đẹp nhất châu Á với những rừng cây xanh mát và dãy núi Cô Ngựa lan ra biển dài đến 15km. Núi nhô lên giữa biển, biển bao quanh núi tạo nên vùng vịnh yên ả, khí lành như câu ca dao muôn đời của người dân nơi đây: “Vũng La, Vũng Sứ, Vũng Chào/ Vũng Dông, Vũng Mắm vũng nào cũng thương…”. Chúng tôi bước lên thuyền của ngư dân trẻ Bùi Hồng Vinh, bắt đầu chuyến thăm thú vịnh về chiều. 
            Theo nhiều cứ liệu lịch sử, Xuân Đài là một trong những nơi đặt chân đầu tiên của người Việt trên vùng đất trấn biên Phú Yên khoảng hơn 400 năm trước. Đây cũng là nơi ghi đậm chiến công đầu tiên của người anh hùng áo vải Nguyễn Huệ, khi ông vừa tròn 18 tuổi đã xung trận đánh tan đội thủy quân chủ lực của Nguyễn Ánh, mở đầu cho cuộc đời binh nghiệp lẫy lừng. Đây cũng là nơi diễn ra hoạt động ngoại giao đầu tiên giữa Việt Nam và Hoa Kỳ dưới thời vua Minh Mạng. Tại vịnh biển này, nhiều di vật lịch sử như súng thần công, tàu đắm... cũng đã được tìm thấy. Xuân Đài cũng là nơi ghi dấu tập kết của những đoàn thủy quân, tàu cá ngư dân để tiến ra bể Đông, xuôi về phương Nam trong cuộc mở mang, tạo lập cõi bờ của cha ông. 
            Miên man trong sóng nước Sông Cầu, chúng tôi không khỏi tự hào trước tinh thần khai hoang, mở mang bờ cõi của các bậc tiền nhân thuở trước. Nơi đây còn lưu dấu nhiều chứng tích của người Việt trên biển cả bao la. Những đau thương, mất mát trong chiến tranh không làm quê hương, biển cả bớt phần giàu đẹp và thơ mộng. 
            Vịnh Xuân Đài hôm nay, trên hơn 130 ngàn km2 mặt nước là cuộc sống ngư nghiệp rất phong phú của ngư dân địa phương. Tính đến nay, có đến hơn 18 ngàn lồng, bè nuôi tôm hùm của bà con địa phương. Con tôm hùm không chỉ là sản vật từ biển cả mà còn là công cụ làm giàu từ biển lớn của ngư dân. 
            Lão ngư Đồng Xuân Nghĩa, năm nay đã 75 tuổi gắn bó với vịnh Xuân Đài hơn 40 năm, chứng kiến hầu hết những đổi thay của quê hương. Ông vớt con tôm hùm đang sống dưới lồng bè gia đình cười tươi rói: “Chú thấy đó, thời tui đi biển, lặn cả ngày kiếm được vài con tôm hùm mang về đã là kỳ tích huống chi bây giờ bà con ra biển cả bắt tôm hùm giống về nuôi xuất khẩu kiếm ngoại tệ. Vịnh Xuân Đài là nơi rất thích hợp để nuôi loại tôm này. Nhờ đó, đời sống của bà con cũng không ngừng được cải thiện”. 
            Cuộc hạnh ngộ bất ngờ 
            Lang thang trên biển rộng, chiều đã tắt nắng khiến con thuyền chở chúng tôi phải nhanh chóng vào bờ. Bên bờ biển TX.Sông Cầu, nhiều du khách đang tập trung ăn uống, trò chuyện. Được biết, thời gian gần đây, UBND tỉnh Phú Yên đã tổ chức Festival thủy sản Việt Nam tại Phú Yên. Và một trong những điểm nhấn chính của Festival lại nằm ở TX.Sông Cầu, một đô thị bên bờ vịnh Xuân Đài và là niềm tự hào của chính quyền, nhân dân tỉnh Phú Yên. Đó là một trong những nỗ lực lớn, dài hơi của tỉnh này trong nhiều năm qua nhằm quảng bá tiềm năng, vẻ đẹp của vịnh Xuân Đài đến với bạn bè trong nước và thế giới. 
            Dừng chân ở nhà hàng, khách sạn Astop, một cái tên nghe rất ấn tượng và gợi nhớ, chúng tôi có cuộc hạnh ngộ bất ngờ với một người con gắn bó với đất Bình Dương - anh Phan Viết Tường, người đã từng có hơn 10 năm sống và làm việc ở Bình Dương. Chúng tôi quen biết Phan Viết Tường qua những lần tiếp xúc, làm việc với anh ở cương vị là CEO của Công ty Cổ phần Cửa Sổ Mùa Xuân (TX.Bến Cát). Còn nhớ có lần anh tâm sự, Bình Dương là quê hương thứ hai, nơi đã cho anh nhiều thứ từ gia đình đến sự nghiệp. Tưởng như đó chỉ là chuyện phiếm với nhau bên ly cà phê. Vậy mà cũng có dịp chúng tôi và Phan Viết Tường gặp nhau bên bờ sóng vỗ của vịnh Xuân Đài. Giờ anh đã là CEO của Nhà hàng khách sạn Astop, thuộc dự án Khu du lịch Long Hải của Công ty TNHH Liên doanh Hoya - Đại Thuận. 
            Được biết, chủ đầu tư của dự án Khu du lịch Long Hải là anh Phạm Xuân Nam, cũng là một doanh nhân nhiều năm liền lập nghiệp và thành danh từ đất Bình Dương. Anh Nam cho biết, tôi dù đi xa nhưng vẫn ấp ủ trở về quê hương để mở khu du lịch, góp phần quảng bá vẻ đẹp của vịnh Xuân Đài. Chính vì thế, khi gặp Phan Viết Tường, chúng tôi quyết định về đây để thực hiện giấc mơ của mình. Cũng theo anh Nam, nếu trong thời gian tới có cơ hội thuận lợi, anh sẽ nỗ lực gắn kết Bình Dương với vịnh Xuân Đài bằng nhiều hoạt động thiết thực, hấp dẫn. 
            Lang thang ở vịnh Xuân Đài, ngẩn ngơ bên sóng nước của một trong những danh thắng còn hoang sơ, chưa được nhiều người biết đến để thêm yêu đất nước, thiên nhiên và con người Việt Nam. Sức sống biển, tinh thần giữ biển và yêu biển của những con người như Phạm Xuân Nam, Phan Viết Tường cũng là vẻ đẹp của tinh thần Việt muôn đời nay vẫn thế…
             

             Quê anh vùng chiêm trũng


            Chiều trên đất xứ Thanh, cơn mưa trái mùa đổ xuống làm vơi đi cái nắng chói chang của mùa hè oi ả. Chúng tôi được đồng nghiệp báo Thanh Hóa đưa về thăm quê hương anh hùng, liệt sĩ Vũ Phi Trừ, xã Quảng Khê, huyện Quảng Xương, cách TP.Thanh Hóa gần 30km…

              Anh Vũ Xuân Thế (thứ 2 từ trái sang) tự hào kể chuyện anh mình

              Xã Quảng Khê có lẽ là một trong những miền quê thuộc diện nghèo của tỉnh Thanh Hóa. Giao thông cách trở; những cánh đồng chiêm trũng ngập nước quanh năm nên việc canh tác nông nghiệp nơi đây rất khó khăn. Những năm gần đây, người dân bỏ cây lúa chuyển sang trồng cói-loại cây dùng để sản xuất hàng thủ công mỹ nghệ. Nhưng dù đã chuyển đổi cơ cấu cây trồng như vậy cũng chưa thật sự mang lại hiệu quả kinh tế cao hơn. Trên đường vào nhà anh Trừ, chúng tôi nhìn thấy những cánh đồng cói ngập trong nước mặn, phèn chua. Cái nghèo có vẻ như vẫn còn đeo bám người dân nơi đây. Vùng đất tuy khó khăn là vậy, nhưng Quảng Khê lại là một xã có truyền thống cách mạng. Trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, đất Quảng Khê đã có nhiều người con lên đường đánh giặc, ra đi lập nên những chiến tích làm rạng rỡ quê hương. Nổi bật nhất là tấm gương của anh hùng, liệt sĩ Vũ Phi Trừ. Tên anh hôm nay đã trở thành niềm tự hào của người dân, đặc biệt là tuổi trẻ xã Quảng Khê.

              Căn nhà tình nghĩa được xây dựng cho gia đình liệt sĩ Vũ Phi Trừ

              Ngôi nhà của anh Trừ nằm khiêm nhường ở thôn 4. Do được báo trước nên các lãnh đạo xã và người thân của anh đã tề tựu đông đủ cùng trò chuyện với chúng tôi. Anh Vũ Xuân Thế, em trai của anh Trừ cho biết: “Lúc anh tôi hy sinh, con đầu của anh mới 5 tuổi và đứa thứ hai vừa tròn 1 tuổi. Chị dâu tôi ở vậy nuôi con, thờ chồng mặc dù lúc đó chị mới 26 tuổi. Hiện nay, hai con của anh Trừ đều trưởng thành và công tác trong lực lượng hải quân nên chị dâu tôi theo con vào TP.HCM sinh sống. Ngôi nhà này trở thành nơi thờ tự anh Trừ và dòng họ. Ngày thường thì vắng vẻ, chỉ có khi các đoàn công tác hoặc báo chí về thăm thì gia đình mới mở cửa tiếp đón…”. 
              Trên bàn thờ, nhiều huân, huy chương, bằng liệt sĩ, danh hiệu anh hùng LLVTND của anh Trừ được lưu giữ trang trọng. Bên cạnh là một bài thơ của đồng đội viết tặng anh trong lần về thăm quê anh: “Việt Nam hình chữ S dài/ Hai đầu đất nước, biển hải, hiền hòa/ Đảo chìm, đảo nổi, đảo xa/ Vọng về sóng nước thiết tha ân tình/ Yêu thương biển đảo, quên mình/… Bao thế hệ chiến tích còn/ Đánh giặc Ma-rốc tiếng giòn sử ghi/ Anh hùng tô thắm quốc kỳ/ Vũ Phi Trừ đã không còn/ Trường Sa ghi nhớ căm hờn…”. 
              Ngày 11-3-1988, đại úy, thuyền trưởng Vũ Phi Trừ nhận lệnh chỉ huy tàu HQ 604 hành quân chở bộ đội, lương thực, thực phẩm, vật liệu xây dựng ra chốt giữ đảo Gạc Ma của Việt Nam. Trên hành trình từ đảo Đá Lớn đến đảo Gạc Ma, quân Trung Quốc đã cho tàu chiến khiêu khích, lao tàu đến cắt ngang hướng đi của tàu Việt Nam. Đại úy Vũ Phi Trừ đã bình tĩnh xử lý mọi tình huống rất khôn khéo cùng với đồng đội quyết tâm đưa tàu đến đích và cắm cờ Tổ quốc trên đảo Gạc Ma ngày 13-3. Rạng sáng ngày 14-3, Trung Quốc tiếp tục cho tàu chiến bao vây, uy hiếp chiến sĩ ta. Trước hành động ngang ngược của hải quân Trung Quốc, đại úy Vũ Phi Trừ không hề nao núng, anh khẳng khái tuyên bố với đối phương: “Hãy ra khỏi khu vực này, đây là lãnh thổ của Việt Nam!”. Bất ngờ, quân Trung Quốc nổ súng, bộ đội ta buộc phải chiến đấu trong điều kiện không cân sức, không có vũ khí, tàu HQ 604 bị bắn chìm. Đại úy Trừ bị thương rất nặng và anh dũng hy sinh khi mới ngoài 30 tuổi. Tháng 12-1989, liệt sĩ Vũ Phi Trừ được Đảng và Nhà nước truy tặng danh hiệu Anh hùng LLVTND. 
              Nén nỗi đau thương, mất mát khi nhắc về người anh trai, anh Vũ Xuân Thế kể rằng: “Lúc nghe đài thông báo trên loa phát thanh “Đồng chí Vũ Phi Trừ đã anh dũng hy sinh”, cả nhà tôi bàng hoàng và không thể tin nổi dù đó là sự thật. Mẹ tôi nằm liệt giường mấy ngày không dậy nổi. Trước đó, khi về quê ăn tết, anh tôi nói rằng, năm nay được nghỉ phép dài ngày, anh dự định sẽ đứng ra làm đám giỗ cho ông bà… Thế rồi, ngày đám giỗ sắp đến thì anh nhận lệnh thần tốc vào đơn vị. Ai ngờ đó là lần cuối cùng anh em tôi gặp nhau…”. Anh Thế xúc động kể cho chúng tôi nghe về một kỷ niệm của hai anh em khiến mọi người đều rơi nước mắt. “Hồi anh tôi về phép lần trước có tặng tôi một cái thắt lưng và một chiếc quần hải quân rất đẹp. Tôi giữ mãi không dám mặc, chỉ khi có việc hệ trọng mới mặc vào. Lúc anh nhận lệnh khẩn cấp vào đơn vị, anh hỏi tôi rằng: Thế đưa anh mượn lại cái quần và thắt lưng vì quần anh chật quá, lần sau anh sẽ tặng em những cái khác đẹp hơn…”. Kể đến đây, những giọt nước mắt anh Thế chảy dài. Anh nói trong nghẹn ngào: “Anh Trừ ơi, em chờ anh mãi. Chờ anh mang quà về tặng em mà không thấy anh trở về…”… 
              Thay lời tạm biệt, anh Thế đã đọc cho chúng tôi nghe những vần thơ của một người thím viết tặng cho người thuyền trưởng dũng cảm Vũ Phi Trừ: “Về thăm quê anh hùng Vũ Phi Trừ/ Đánh giặc nơi biển đảo Trường Sa/ Cháu Trừ ơi, cháu đã hy sinh rồi trong trận chiến/ Giữa biển đại dương, giữa bầu trời lồng lộng/ Mang hạnh phúc cho Tổ quốc mình, cuộc sống bình yên/ Có Việt Nam đã lừng danh khắp thế giới địa cầu/ Khắc tên anh hùng Phi Trừ trong bảng vàng lịch sử”…
              Chiều Quảng Khê, cơn mưa dần nặng hạt. Tạm biệt quê anh-vùng đất chiêm trũng, chúng tôi tiếp tục cuộc hành trình với một cảm xúc tự hào, bởi đất nước này sẽ không khuất phục các thế lực thù địch vì đã có những con người như anh...
              Kỳ 12:  Có một đội quân tóc dài ven biển

              KIẾN GIANG - KHÁNH VINH


              Read more…

              TỔ QUỐC BÊN BỜ SÓNG (KỲ 10) - Ký sự của Khánh Vinh & Kiến Giang

               Cửa Lò biển sóng




                 Biển Cửa Lò một ngày hè đầy nắng. Từng đợt sóng vỗ miên man làm mê đắm du khách gần xa. Cửa Lò - thị xã trẻ bên bờ biển Nghệ An không chỉ là niềm tự hào của bao người dân xứ Nghệ mà còn là một điểm đến du lịch đầy hấp dẫn đối với du khách thập phương.

                Từ trong cổ tích
                Anh Đào Văn Thọ, giáo viên dạy văn tại huyện Anh Sơn (Nghệ An) đưa chúng tôi đi giữa những bãi cát dài thoai thoải. Đằng xa, hàng trăm du khách nô đùa bên bờ sóng. Biển dài, rộng và đẹp như một bức tranh. Theo giải thích của anh Thọ, Cửa Lò có nghĩa là bãi bồi có nhiều cát sỏi. Anh Thọ tự hào: “Các bạn thấy đó, Cửa Lò quê tôi dài thoai thoải với cát, sóng biển và những cảnh vật đẹp như tranh vẽ. Đến Cửa Lò không chỉ có biển mà còn có đảo Hòn Ngự, Nhãn Sơn, Cửa Hội, Sông Cấm… tạo thành những điểm đến du lịch khám phá đầy hấp dẫn…”.
                   Vẻ đẹp đến miên man của biển Cửa Lò
                Cầu cảng Cửa Lò đón chúng tôi vào một ngày bình yên, những chiếc thuyền vươn khơi, bám biển trở về theo con trăng đầy ắp cá tôm. Niềm vui hiển hiện trên những gương mặt đen sạm vì nắng, gió biển nhưng đầy khí phách kiên cường của ngư dân xứ Nghệ. Từ cảng Cửa Lò, chúng tôi lên một chuyến tàu du lịch khám phá Hòn Mắt, đảo có vị trí chiến lược quan trọng và được xem là “mắt thần” ngày đêm canh giữ biển trời quê hương đất nước.
                Về sự tích của Hòn Mắt cũng khá ly kỳ. Dân gian Cửa Lò đến nay vẫn còn lưu truyền một truyền thuyết về “Nàng Tố Nương mỏi mắt trông chồng” để nói về Hòn Mắt. Tố Nương quê ở An Lạc, Sơn Tây. Chồng của nàng quê ở Hàm Hoan (nay là xứ Nghệ). Cả hai vợ chồng đều là tướng lĩnh của Hai Bà Trưng. Khi cuộc khởi nghĩa bị đàn áp đẫm máu, nàng quyết định giong buồm tìm về Hàm Hoan đoàn tụ với chồng. Tuy nhiên, trên đường đi thuyền của nàng bị trôi dạt vào đảo Quỳnh Nhai. Ở đây, nàng không còn sức lực và phương tiện, đành phải ở lại trên đảo ngày đêm mong ngóng và gián mắt vào đất liền, quê chồng. Hòn Mắt - Nhãn Sơn có tên từ đó…
                Hòn Mắt, Hòn Ngư giữ biển trời
                Miên man trong lời kể của lão ngư Nguyễn Văn Quyết về Hòn Mắt, gần 2 giờ đồng hồ trên biển cùng vô số sự tích kỳ thú về vùng đất này khiến cho hơn 20 hải lý trên biển từ Cửa Lò ra Hòn Mắt của chúng tôi như ngắn lại. Từ xa, chúng tôi đã thấy Hòn Mắt bao gồm một cụm đảo lớn, nhỏ sừng sững, đứng án ngữ giữa biển xanh, gió lớn. Những người lần đầu tiên đặt chân lên đảo như chúng tôi luôn luôn có những cảm xúc dạt dào, khó tả.
                   Biển Cửa Lò luôn hấp dẫn du khách gần xa
                Trong chiến tranh chống Mỹ, Hòn Mắt cũng rất kiên cường bởi khả năng chiến đấu không mệt mỏi của các cán bộ, chiến sĩ ta với phương châm: “Vững ý chí, chắc tay súng. Bảo vệ chủ quyền biển đảo quê hương”. Năm 1963, trước diễn biến phức tạp của chiến trường miền Nam, Bộ Tư lệnh Quân khu 4 nhận được chỉ thị từ Bộ Quốc phòng thành lập 2 chiến tuyến trên biển tại Hòn Mắt và Hòn Ngư để án ngữ phía đông cho hai tỉnh Nghệ An - Hà Tĩnh. “Đảo Mắt anh hùng” được thành lập vào ngày 31-3-1963 và cùng với Hòn Ngư trở thành đơn vị chiến lược quan trọng, tiếp tế vũ khí, đạn dược và nhiều khí tài quân sự, lương thực của miền Bắc chi viện cho miền Nam trên biển.
                Chúng tôi vốc một ngụm nước ngọt của cán bộ, chiến sĩ rút ra từ khe đá. Nước mát trong và ngọt nhưng lại pha lẫn vị mặn của mồ hôi, nước mắt và cả máu đã đổ xuống nơi đây. Hòn Mắt đứng vững vàng giữa biển, trải qua bao cuộc binh biến và thời gian đã chứng kiến bao đau thương, mất mát. Khi biển Đông “dậy sóng”, vai trò của Hòn Mắt, Hòn Ngự tại Cửa Lò càng có ý nghĩa chiến lược. Đại đội 32 Hòn Mắt không chỉ giành được nhiều chiến công vang dội trong chiến tranh chống Mỹ mà trong bối cảnh hiện nay, các anh với khẩu hiệu truyền thống “Đảo là nhà, biển cả là quê hương” đang ngày đêm chắc tay súng, vững tâm trước những diễn biến ở biển Đông. Trong chuyến hành trình ngắn ngủi của mình, chúng tôi vô cùng tiếc nuối khi không có thời gian để thăm Hòn Ngư, một danh thắng mà nhiều người kháo nhau: Đi Cửa Lò không thể không đi Hòn Ngư. Tuy nhiên, qua những câu chuyện kể của nhiều người dân địa phương, chúng tôi hiểu thêm phần nào về tinh thần đấu tranh quật cường của đất và người Cửa Lò, nơi có vị trí chiến lược về quân sự, chính trị.
                Cửa Lò, đô thị trẻ vừa được thành lập năm 1994 với biểu tượng loài hoa cúc đang vươn mình trở thành một trong những điểm đến du lịch hấp dẫn bậc nhất. Nét quyến rũ của TX.Cửa Lò hôm nay không chỉ bởi có bãi tắm sạch, đẹp bậc nhất Bắc Trung bộ mà còn là một trong những không gian đô thị du lịch không ngừng được hoàn thiện, phát triển để sau mỗi mùa du lịch lại đem lại cho du khách thêm cảm giác bất ngờ thú vị và thêm gắn bó.
                Đô thị du lịch Cửa Lò hôm nay đã có những khu chung cư, biệt thự, các cơ sở sản xuất quy mô công nghiệp nhỏ nhưng hiện đại cùng trường Đại học Tư thục Vạn Xuân... điểm xuyết trong một tổng thể không gian xanh của các khu dân cư và hệ thống cơ sở lưu trú hiện đại, thân thiện. Biển xanh biếc với những dải cát dài trắng mịn màng càng góp phần tạo nên vẻ đẹp quyến rũ cho những bãi tắm Lan Châu, Xuân Hương, Cửa Hội...
                Chúng tôi chia tay Cửa Lò trong tiếc nuối vì hành trình thực hiện loạt bài “Tổ quốc bên bờ sóng” vẫn còn dài. Buổi sáng Cửa Lò, hàng trăm du khách trên những chiếc xe hơi đắt tiền thu dọn đồ đạc để trở về sau một chuyến du lịch biển đầy thú vị. Điều đặc biệt so với những điểm du lịch khác là Cửa Lò đón rất nhiều khách du lịch đến từ đất nước Lào. Tại khách sạn Quân khu 4, dưới đại sảnh cùng làm thủ tục với chúng tôi có nhiều người bạn Lào thân thiện cùng chia tay TX.Cửa Lò. Anh Phonthavong, một du khách đến từ Paksé, cho biết: “Người Lào chúng tôi muốn cũng không thể có được bãi biển xanh đẹp và lòng hiếu khách như ở Cửa Lò. Những ngày hè oi bức, chúng tôi thường tìm về đây để vui chơi, giải trí. Hẹn gặp lại Việt Nam, hẹn gặp lại biển Cửa Lò đầy hấp dẫn!”.



                 Gã “ngông” bỏ bờ, đóng tàu ra biển khơi


                Mới 16 tuổi, Trần Văn Mười bắt đầu theo cha đi biển. Nhưng mấy cha con cứ quẩn quanh vài chiếc thuyền nan câu mực nên chán quá, anh bỏ biển lên bờ đi học đại học. Ra trường, Mười “ngông” kiếm được 16 - 20 triệu đồng mỗi tháng nhờ việc làm cho công ty nước ngoài. Ngông hơn nữa, anh bỏ bờ, bỏ nghề để đi biển trở lại…
                Chuyến đi biển của anh Mười lần này mang một tư duy rất khác và một lối làm khác. Anh bàn với cha, tàu nhỏ công suất kém, chỉ đi chiều bữa trước hôm sau phải vào bờ, nhiều lần cha con ta không đủ trả “tổn” phải trốn nợ, bán tàu. Lần này, anh tích cóp được bao nhiêu vốn đã dồn vào đóng tàu lớn, ra khơi xa.
                Anh Trần Văn Mười với khát vọng vươn khơi bám biển trở thành thế hệ ngư dân thành công của Đà Nẵng
                Quãng những năm 2000, nghề câu mực khơi xa rất thịnh hành đối với ngư dân Đà Nẵng. Nói là làm, anh Mười cùng cha hạ thủy chiếc tàu lớn đầu tiên sau nhiều tháng huy động vốn từ Quỹ đầu tư Quốc gia. Nhưng tàu cũng chỉ có công suất 100CV, làm ăn trầy trật không đủ trả nợ. Máu và nước mắt đổ xuống biển khơi, tàu bị chủ đầu tư thu hồi, tay trắng lại hoàn tay trắng. Mất tàu nhưng không bỏ nghề, năm 2006, anh Mười lại gom 190 triệu đồng mua tàu cũ của người bạn đi khơi. Đến năm 2012, anh gây “sốc” bằng việc đóng tàu DNa 90567 công suất đến 1.000CV vươn khơi, làm giàu từ biển.
                Đà Nẵng một trưa hè oi ả. Chúng tôi có dịp được tham quan tàu DNa 90567. Anh Mười cho biết, các loại máy móc chuyên dụng như ICOM 710, máy liên lạc tầm xa tích hợp định vị sóng HF… đều trang bị đầy đủ. Tàu thiết kế cho hoạt động câu mực khơi, cabin 2 tầng đủ chỗ ngủ cho 42 thuyền viên. Trên tàu có tivi màn hình lớn, radio. Để nâng cao thu nhập cho thuyền viên, anh chỉ hưởng 10% tổng doanh thu từng chuyến biển. Tuy nghề câu mực đang gặp khó khăn, song mọi người đều quyết tâm giữ nghề, bởi chỉ có câu mực mới bám biển dài ngày tại ngư trường xa bờ. Qua đó, cùng với việc đánh bắt hải sản, với lá cờ đỏ sao vàng lúc nào cũng tung bay trên nóc cabin, tàu là “cột mốc” xác lập chủ quyền thiêng liêng của Tổ quốc giữa đại dương bao la.
                Lúc dẫn chúng tôi đi tham quan tàu Dna 90567 cũng là thời gian anh Mười cho tàu về sau hơn 2 tháng bám biển câu mực ở ngư trường Hoàng Sa, Trường Sa. Anh vui vẻ cho biết: “Tàu bọn tui lấy “tổn” ở âu thuyền Thọ Quang hết 500 triệu đồng nhưng về được hơn 3 tỷ đồng, lãi rất lớn. Chính vì thế, tui cũng có phần thu nhập khá, anh em thuyền viên ai cũng vui vẻ cả”.
                Theo cha bám biển từ nhỏ nên những cơ cực, niềm vui trên biển anh Mười đều nếm trải. Anh tâm sự, khổ nhất là đi tàu trên biển công suất nhỏ. Nghe tin báo bão phải chạy, nhưng chạy hoài cũng khó tránh bão. Cùng với thiên tai, ngư dân đánh bắt xa bờ còn phải lo tránh “nhân tai”. Anh ngồi trên mũi tàu nhẩm đếm với chúng tôi: “Lúc còn đi tàu vài trăm CV, tui bị tàu nước ngoài đuổi, đâm va 8 - 9 lần. Có lần vừa thả thúng xuống cho anh em câu mực đã nghe tiếng còi hụ. Đến nơi khác, cũng bị gây hấn, có lần phải di chuyển đến đảo Phú Quý của tỉnh Bình Thuận. Tôi bực quá bán tàu lên bờ về Đà Nẵng đóng con tàu DNa 90567 này…”. Nói đoạn, anh vỗ vào mạn con tàu bôm bốp, cười hào sảng.
                Tàu DNa 90567 của anh Trần Văn Mười
                Tuy nhiên, đóng tàu vỏ gỗ công suất 1.000CV vẫn chưa thỏa tham vọng của anh Mười. Đợt đi biển sắp tới, anh sẽ không lên tàu cùng 42 thuyền viên của mình. Anh cho biết, phải ở nhà lo bản vẽ, thiết kế cho con tàu cá vỏ sắt sắp tới. “Vốn đối ứng tôi đã có. Đi đánh bắt cá trên biển, nhiều lúc tàu lớn nước ngoài ỷ thế áp sát làm cho tàu gỗ của mình tròng trành tức lắm, nuốt giận vào lòng nuôi ý định đóng tàu to bám biển để không phải lo lắng…”, anh tâm sự.
                 Mẫu tàu mới thiết kế của anh Mười có chiều dài 27m, rộng 7,6m, cao 3,2m, tổng trọng tải trên dưới 200 tấn, với công suất lên đến 1.000CV, chuyên nghề chụp mực vươn khơi. Theo anh Mười, con tàu dự toán có tổng kinh phí khoảng trên dưới 12 tỷ đồng, với trang thiết bị ngư lưới cụ hiện đại vào loại bậc nhất. Anh tự hào: “Ngư dân thừa bản lĩnh, thừa khát vọng, nhưng cái chính họ thiếu vốn. Giờ nếu vay được tiền lãi suất thấp, chắc chắn sẽ có thêm nhiều đội tàu thép trong tương lai gần…”.
                Anh Nguyễn Tú, người bạn đồng hành cùng chúng tôi ra âu thuyền Thọ Quang cho biết, nói về độ “ngông” của Trần Văn Mười, cả ngàn ngư dân Đà Nẵng phải nể. Bởi lúc chưa ai dám bỏ 4 tỷ đồng ra đóng tàu câu mực, anh Mười lại dám làm. Và giờ, nghe Chính phủ có chủ trương, anh Mười là một trong những người tiên phong đi đầu. Đó cũng là tinh thần bất khuất của dân đi biển.
                Chúng tôi chia tay âu tàu Thọ Quang, chia tay gã “ngông” Trần Văn Mười cùng bán đảo Sơn Trà kiêu hãnh vươn mình bên bờ biển. Xin chúc cho anh và những dự định tốt đẹp trên biển thành công. Sự thành công ấy không chỉ minh chứng cho tinh thần tiến về biển Đông của người Việt mà còn là lời khẳng định đanh thép về chủ quyền biển đảo bất biến của Tổ quốc.

                 Nhớ Quang Trung ngày ấy…


                Hành trình thực hiện loạt bài “Tổ quốc bên bờ song” đưa chúng tôi về với Bảo tàng Quang Trung (Tây Sơn, Bình Định) trong một buổi sáng mát trong. Tại đây, chúng tôi đã có dịp hiểu được tư tưởng đóng tàu lớn, phát triển hải quân đánh giặc, giao thương với nước ngoài của vị anh hùng dân tộc áo vải Quang Trung.
                Quang Trung - Nguyễn Huệ, người anh hùng áo vải đã viết nên một trang sử hào hùng cho dân tộc Việt Nam khi lãnh đạo phong trào nông dân Tây Sơn đập tan 29 vạn quân Thanh ở phía Bắc và hơn 2 vạn quân Xiêm ở phía Nam. Chính ông, từ lúc 18 tuổi đánh trận đầu ở Phú Yên, 29 tuổi đánh tan hạm đội gần 500 chiến thuyền của Nguyễn Ánh với nhiều tàu chiến của Pháp (1782) đến việc đánh bại đội thủy quân gồm 300 chiến thuyền nước Xiêm rồi tiến quân ra Bắc đánh quân nhà Thanh, đã liên tục hiện đại hóa tàu thuyền để nâng cao khả năng chiến đấu của lực lượng hải quân.
                  
                 Gỗ từ chiến thuyền của thủy binh thời Tây Sơn được vớt từ đầm Thị Nại
                Anh Trần Trung Thông, cán bộ của Bảo tàng Quang Trung rất vui khi biết chúng tôi tìm hiểu về lịch sử hải quân dưới thời Tây Sơn. Anh cho biết: “Hải quân Tây Sơn ngày ấy rất hùng hậu. Để giữ nước và bảo vệ chủ quyền, hải quân của ta được hình thành từ thời Lý - Trần, phát triển mạnh vào thời Trịnh - Nguyễn, đặc biệt mạnh mẽ ở thời Tây Sơn”. Như để chứng minh ý kiến của mình, anh Thông đưa chúng tôi đi khắp Bảo tàng Quang Trung và thuyết minh khá kỹ ở gian trưng bày về hải quân dưới thời Tây Sơn.
                Những bức ảnh phục dựng lại quang cảnh chiến đấu dưới thời Tây Sơn cho thấy, chiến thuyền nhiều khoang do Hoàng đế Quang Trung khuyến khích đóng đã chiếm nhiều ưu thế trước các lực lượng quân sự lớn trên biển khi ấy là Nguyễn Ánh, quân Xiêm và cả chiến thuyền của phương Bắc. Đặc biệt, trong quá khứ quân Tây Sơn đã có những chiến thuyền rất to, chở đến khoảng 700 - 800 quân. Điều này được ghi chép khá rõ trong quyển “Lịch sử nội chiến ở Việt Nam từ 1771- 1802” của Tạ Chí Đại Trường: “Tháng giêng năm Canh Thân 1800, tướng Tây Sơn là Võ Văn Dũng đưa hai chiếc Định quốc Đại hiệu thuyền, chở từ 50 - 60 khẩu đại bác chắn ngang cửa Thị Nại. Dày đặc bên trong là 40 tàu lớn, 20 tàu nhỏ với hơn 100 ghe thuyền đậu san sát đến cửa vào Đầm Nước Mặn. Trên núi, Dũng đặt đại bác yểm trợ đoàn tàu. Trên bộ, Dũng còn có hơn 50 voi trận và quân lính…”.  
                Du khách gần xa tìm về Bảo tàng Quang Trung nghe kể chuyện thời Tây Sơn đóng tàu lớn đánh giặc
                Thực ra, sau khi đánh chìm và tịch thu chiếc tàu Macao của Bồ Đào Nha tại biển Quy Nhơn, Quang Trung đã cho phát triển thủy quân. Ông liên tục kêu gọi và chiêu mộ binh phu từ các vùng khác nhau trong cả nước để đóng tàu lớn đánh giặc. Khi đó, ông đã cho đóng những tàu có thể chở nổi các con voi đánh trận, một vũ khí khiến cho giặc phương Bắc nhiều phen kinh hồn bạt vía. Một trong những chiếc tàu đó là chiến thuyền mà người Anh đi lạc vào thành Quảng Nam trong chuyến tháp tùng phái bộ Mac Cartney nhìn thấy, ước lượng đến 150 tấn trọng tải. Điều này cũng trùng khớp với nhận định của viên sĩ quan người Pháp Chaigneau, người từng theo Nguyễn Ánh trong cuộc giao tranh với nhà Tây Sơn. Chaigneau viết: “Trước khi nhìn thấy thủy quân của đối phương, tôi rất khinh thường, nhưng tôi bảo đảm với các ông rằng đó là sai lầm. Họ (quân Tây Sơn) có những chiến thuyền mang từ 50 - 60 đại bác cỡ lớn”. Chính vì điều này mà dù Pháp có ý định xâm lược vào Việt Nam từ thời Tây Sơn nhưng đã chùn bước trước lực lượng hải quân hùng mạnh của người bản địa.
                Chúng tôi sờ vào 2 khẩu thần công được nhân dân Bình Định trục vớt từ biển Thị Nại rồi đem về trưng bày ở Bảo tàng Quang Trung, như nghe trong đó tiếng luyện kim, những chiến tích hào hùng hơn 200 năm trước vọng về. Thời gian trôi đi, những lớp trầm tích văn hóa, quân sự như càng dày hơn để chúng ta thêm tự hào về một thời đại đầy hào hùng của những người nông dân áo vải theo vị anh hùng của mình đánh Nam, dẹp Bắc.
                Không chỉ hiện đại hóa hải quân để đánh nhau với nhà Nguyễn, Quang Trung còn mang tư tưởng đóng tàu lớn, tăng cường khả năng quân sự để vươn lên đứng hiên ngang bên cạnh người láng giềng bá quyền nhà Thanh ở phương Bắc. Ông Trần Viết Dũng, một nhà nghiên cứu thời Tây Sơn giải thích kỹ các mô hình tàu chiến thời Tây Sơn cho chúng tôi rồi kết luận: “Thời đó, dù gửi sứ sang nhà Thanh và gửi thư đòi 7 châu Hưng Hóa về lại cho Đại Việt nhưng Quang Trung vẫn không tin tưởng lắm. Ông liền ra chiếu thư sửa soạn, đóng thêm nhiều tàu lớn nữa để một mặt dẹp phương Nam, yên bờ cõi rồi chuẩn bị ứng phó với phương Bắc khi có biến xảy ra…”.
                Thật tiếc cho dự định của vua Quang Trung bất thành khi chỉ sau 20 ngày hạ lệnh tập trung đóng thuyền lớn đánh giặc, ông đột ngột qua đời. Khi đó, thư đòi đất của ông rất đanh thép: “Miền Tây có 7 châu: Tung Lăng, Lỗ Tuyên, Hoàng Nham, Tuy Phụ, Hợp Phì, Lai Châu, Khiêm Châu đều của bản quốc. Trấn mục Hưng Hóa bảo rằng thổ dân đã bị phương Bắc đánh thuế… Tôi đâu dám bỏ đất đai, xin cử người lên Nam Quan chờ lệnh. Đồng thời, sai quan văn, võ điều tra địa giới 7 châu đưa về đồ bạ bản quốc…”. Thư đòi đất của Quang Trung đã được vua nhà Thanh chấp thuận. Rõ ràng, đối với Quang Trung chuyện đòi đất, giữ đất do tiền nhân để lại chưa bao giờ nguôi trong lòng ông. Cũng theo ông, giặc phương Bắc luôn là mối họa lâu dài và cần phải vươn vai độc lập.
                Chúng tôi chia tay Bảo tàng Quang Trung, chia tay những kỷ vật gắn với người anh hùng dân tộc Quang Trung, một hình tượng minh chứng cho sức sống bất diệt, tinh thần chống giặc ngoại xâm kiên cường của những người nông dân áo vải đất Việt. Cửa biển Thị Nại những ngày đầy gió và nắng đang chứng kiến những đợt sóng vỗ miên man khiến chuyến xe của chúng tôi về phố biển Quy Nhơn, về với chiến trận năm xưa thêm bồi hồi xúc động. Khi biển Đông đang có “sóng dữ”, người hậu thế lại càng thêm nhớ về một vị anh hùng xuất chúng với tinh thần vươn ra biển lớn kiên cường…
                Kỳ 11: Nối những mùa vui
                KHÁNH VINH - KIẾN GIANG


                Read more…

                TỔ QUỐC BÊN BỜ SÓNG (KỲ 9) - Ký sự của Khánh Vinh & Kiến Giang


                 Ký ức một chuyến tàu không số


                Đồ Sơn - Hải Phòng một buổi sáng nắng hanh hao. Từng cơn gió biển ùa về, sóng vỗ rì rào hòa lẫn tiếng cười vui của du khách. Phía cuối con đường ven biển sừng sững những ngọn núi mọc lên giữa biển, càng làm cho thiên nhiên nơi đây đẹp như tranh thủy mặc. Xa xa là những bãi tắm, bến cảng tấp nập… Và, xa hơn chút nữa là một di tích lịch sử mang mật danh K15, “cây số 0” của đường Hồ Chí Minh trên biển. Nơi đây, trong cuộc kháng chiến chống Mỹ đã có hàng trăm con tàu không số vượt sóng, ra đi…

                Tàu 69 - bản hùng ca trên biển
                Những ngày tháng 7, lòng dân cả nước đều hướng về biển Đông. Tự hào thay dân tộc Việt Nam - khi Tổ quốc cần thì tất cả đều nhìn về một hướng. Tới đâu, chúng tôi cũng nghe mọi người nhắc tới cụm từ “Biển đảo quê hương”, “Hoàng Sa, Trường Sa là của Việt Nam…” với một tình yêu quê hương, đất nước thiêng liêng… Nắng mùa hè chói chang. Trên đường phố Hải Phòng, thỉnh thoảng bỗng thấy các cụ già lom khom gánh những hàng hoa bán dạo. Thật lạ. Chắc chỉ có thành phố này mới thấy có người gánh hoa tươi bán những trưa hè. Loanh quanh trong con hẻm, chúng tôi tìm đến nhà ông Lê Xuân Khảm, nguyên thủy thủ tàu 69 - con tàu anh hùng. 

                 Ông Khảm năm nay khoảng 70 tuổi nhưng trông còn khỏe mạnh, khuôn mặt toát lên nét can trường của người lính biển năm xưa. Biết chúng tôi đang viết về biển đảo, ông nhiệt tình tiếp đón. Ông nói: “Biển là cả cuộc đời của chúng tôi, hào hùng và vinh quang, cũng là nơi chứa đựng bao đau thương, mất mát. Chỉ có biển mới biết máu của các chiến sĩ tàu không số đổ xuống như thế nào. Có những con tàu ra đi mà không trở về, xương máu bộ đội mãi mãi hòa tan trong biển…”. Đôi mắt ông Khảm chợt sáng lên khi kể cho chúng tôi về một chuyến tàu vượt sóng vào Nam năm ấy. Sau này con tàu được mang số hiệu là tàu 69 nhưng hồi đó thì không có số hiệu.
                Một đêm tối trời ngày 15-4-1966, tàu 69 của đơn vị ông gồm 16 cán bộ, chiến sĩ được lệnh xuất phát từ K15 Đồ Sơn chở vũ khí vào Nam, dự định sẽ cập bến Vàm Lũng (Cà Mau) sau 10 ngày. Trên hành trình vượt biển, tàu của đơn vị ông đã bị địch phát hiện, máy bay Mỹ liên tục đeo bám, nhưng bằng sự thông minh, mưu trí của đoàn nên cuối cùng tàu vẫn đến đích. Và chỉ trong một đêm tại Rừng Đước (Càu Mau), toàn bộ 72 tấn vũ khí đã được du kích vận chuyển lên bờ an toàn. Mọi người vui mừng ôm siết nhau vì nhiệm vụ vô cùng khó khăn đã hoàn thành. Sau một ngày nghỉ ngơi, đơn vị ông Khảm chia tay bộ đội địa phương đưa tàu trở về miền Bắc. Tuy nhiên, đi thì trọn vẹn nhưng trở về lại là một cuộc chiến đấu ác liệt. Ông Khảm kể lại: “Đêm ngày 1-1-1967, lợi dụng địch đang đón Tết dương lịch, đoàn chúng tôi cho tàu xuất phát. Tàu đi xa bờ chừng 20 hải lý thì bị lộ và một trận hải chiến ác liệt đã diễn ra ở vùng biển phía đông nam mũi Cà Mau giữa tàu 69 và một lực lượng đông đảo tàu chiến, máy bay của hải quân Mỹ. Sau 3 giờ chiến đấu kiên cường, dũng cảm, mặc dù con tàu bị hư hại rất nặng, 9/16 cán bộ chiến sĩ hy sinh và bị thương nhưng cuối cùng cũng đưa được tàu trở lại nơi xuất phát, cất giấu an toàn trong căn cứ…”.
                Có một “La Văn Cầu trên biển”
                Đôi mắt ông Khảm ánh lên như có lửa và những giọt nước mắt chảy dài trên đôi má khi ông kể cho chúng tôi về một câu chuyện rất bi hùng: “Sau khi tàu 69 quay trở lại Vàm Lũng, địch đã điên cuồng rải chất độc hóa học trên quy mô lớn nhằm lùng sục, tìm kiếm con tàu suốt 3 năm trời. Ngày 11-9-1969, địch cho một tốp trực thăng đổ quân xuống khoảng đất trống gần khu vực ta giấu tàu. Tổ trực chiến ở đây chỉ có 3 người là Hoàng Thanh Loan, Phùng Văn Quý và Lưu Kim Nhật. Trận chiến diễn ra ác liệt và quân ta hết đạn, phải rút lui. Trên đường rút, không may chiến sĩ Hoàng Thanh Loan bị thương và bị bắt…”. Giọng ông Khảm trở nên nghẹn ngào: “Sau khi địch rút đi, anh em quay lại tìm Loan thì thấy Loan đã hy sinh…!”.
                Theo ông Khảm, khi khâm liệm thi thể anh Loan, mọi người phát hiện anh chỉ bị duy nhất một vết đạn ở khoảng giữa nách. Như vậy, có thể khẳng định rằng, anh không chết vì vết thương nhỏ đó mà do bọn địch đã tra tấn anh bằng những đòn thù tàn độc hòng khuất phục anh khai ra nơi giấu tàu 69. Trước ý chí kiên cường, bất khuất của anh, địch đã điên cuồng sát hại anh rất man rợ. Sự hy sinh của anh Loan khiến mọi người rất xúc động. Anh lấy cái chết để bảo vệ bí mật cho con tàu và con đường vận tải chiến lược trên biển. Ông Khảm cho biết thêm, hiện ông đang hoàn tất hồ sơ gửi cấp chính quyền, đề nghị phong tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang cho anh Hoàng Thanh Loan. Chúng tôi cầu mong cho nghĩa cử của ông được thành công.
                Trên chuyến tàu 69 còn có một câu chuyện rất anh hùng. Quay lại trận hải chiến trên biển, khi tàu xuất phát bị lộ, ông Khảm kể tiếp: “Ngay từ phút đầu, ta dùng súng B40, DKZ và pháo 12 li 7 bắn vào đội hình địch. Đòn phủ đầu này khiến một tàu địch bốc cháy. Chúng điên cuồng bao vây, nhả đạn vào tàu 69 khiến tàu ta cũng bị cháy. Thêm nhiều đồng chí bị thương, trong đó đồng chí báo vụ Phan Hải Hồ bị đạn xé nát bàn chân, máu chảy lênh láng. Vậy nhưng anh Hồ không hề nao núng, lê bàn chân chỉ còn lớp da dính ngoài ôm súng bắn trả địch! Có lẽ bàn chân gãy khiến anh vướng víu nên khi thuyền phó Nguyễn Hấn đi tới, anh Hồ đề nghị chặt giúp bàn chân cho khỏi vướng để chiến đấu tiếp!”. Ông Khảm nhớ lại, lúc này đạn địch vẫn bắn như mưa, ông nghe rõ tiếng đồng chí bí thư chi bộ hô to: “Hãy chiến đấu trả thù cho đồng đội. Hãy chiến đấu dũng cảm như đồng chí Phan Hải Hồ!”. Lúc này, anh Hồ tuy đau đớn nhưng vẫn lê đi, điểm từng loạt đạn rất chuẩn. Đồng chí chính trị viên thấy thế rất cảm động, nói to: “Nhân danh bí thư chi bộ, tôi tuyên bố, từ giờ phút này đồng chí đảng viên dự bị Phan Hải Hồ trở thành đảng viên chính thức của Đảng!”. Đáp lời đồng chí bí thư, từng loạt đạn quân ta nổ ran và cuối cùng đã đưa được tàu trở lại căn cứ an toàn… Quê hương anh Hồ ở Nam Định. Rất tiếc, khi chúng tôi tìm đến lại không gặp được anh. Nhắc đến chuyện anh Hồ, người dân Nam Định gọi anh là “La Văn Cầu trên biển” đầy tự hào.
                Câu chuyện với ông Khảm còn dài như ký ức khôn nguôi của ông về chuyến tàu không số năm ấy. Chia tay ông, trong lòng chúng tôi dâng tràn một tình cảm tri ân đối với những thế hệ người đi trước. Cảm ơn ông đã kể những câu chuyện về biển quá đỗi hào hùng, bi tráng và đầy cảm động này.



                 Thêm một câu chuyện về liệt sĩ Đặng Thùy Trâm 

                “... vậy là hết chiều nay các anh lên đường để lại cho mọi người một nỗi nhớ mênh mông giữa khu rừng vắng vẻ… Thôi! Các anh đi đi, hẹn một ngày gặp lại trên miền Bắc thân yêu…”. Đó là nội dung được liệt sĩ, bác sĩ Đặng Thùy Trâm ghi ở trang đầu trong quyển nhật ký khi chia tay các chiến sĩ tàu không số (tức tàu C43)...

                 
                Ông Hào đang xem lại hình ảnh chị Đặng Thùy Trâm

                Trong những ngày ở Hải Phòng lang thang tìm hiểu về đoàn tàu không số, chúng tôi được một đồng nghiệp giới thiệu: Nên gặp ông Lưu Công Hào, sẽ có nhiều cái để viết. Qua điện thoại, ông Hào vui vẻ mời chúng tôi đến nhà tại phường Thành Tô, quận Hải An, TP.Hải Phòng. Trong căn phòng nhỏ trên gác xép, câu chuyện giữa chúng tôi và người chiến sĩ tàu C43 năm xưa diễn ra nhẹ nhàng, đôi khi ông chỉ ngồi trầm ngâm như đang hồi tưởng về những năm tháng đầy cam go, ác liệt nhưng vô cùng đẹp đẻ. Tôi chợt thấy trên bàn làm việc của ông có lá thư chị Đặng Thùy Trâm gửi cho ông với những lời lẽ rất thân thương. “Chữ chị Trâm đẹp quá!”. Tôi nhìn và nói vậy. Lời nói của chúng tôi hình như đã khơi dậy ký ức nên ông bỗng vui hẳn lên. “Đúng vậy, chị Trâm viết cho tôi hồi năm 1968 đó…”, ông nói.
                 Lá thư của chị Đặng Thùy Trâm gửi ông Lưu Công Hào năm 1968 

                “Gặp em chị như thấy lại cả quê hương trong đôi mắt nhìn thắm thiết, trong giọng nói quen thân, trong tiếng cười ấm áp của em…”. Ông Hào nâng niu bức thư và đọc cho tôi nội dung đoạn đầu như thế, rồi ông bắt đầu kể về câu chuyện cách đây hơn 40 năm. Đêm 27-2-1968, từ bến K15 con tàu C43 cùng với ba tàu khác đồng loạt xuất bến chở vũ khí vào Nam. Khi tàu C43 vừa qua quần đảo Hoàng Sa lập tức bị ba tàu chiến và máy bay địch bám theo. Biết đã bị lộ, tàu C43 quyết định quay mũi tàu hướng vào vùng biển Đức Phổ (Quảng Ngãi). 12 giờ đêm, khi cách bờ khoảng 5 hải lý bất ngờ ba máy bay địch vụt qua con tàu thả pháo sáng rực cả một vùng biển. Tàu của ta rõ như ban ngày. Ngoài khơi, bốn tàu chiến địch ầm ầm kéo vào nã đạn, bao vây hòng bắt sống con tàu. Trước tình hình đó, thuyền trưởng Nguyễn Đắc Thắng hạ lệnh nổ súng bảo vệ con tàu.
                Hơn một giờ đồng hồ giao tranh với địch, quân ta tiêu diệt ba tàu chiến địch và một máy bay trúng đạn đổ nhào xuống biển, tung lên từng cột sóng nước. Bên ta có 3 chiến sĩ hy sinh, 11 người bị thương. Trong khi đang chạy vào bờ thì con tàu mắc cạn, đứng khựng lại. Thuyền trưởng ra lệnh mọi người rời tàu để kích nổ tàu. Ông Hào nhớ lại: “Một tấn thuốc nổ TNT được hẹn 30 phút, chúng tôi vừa kịp bơi vào tới bờ thì phía sau tàu đã nổ, chiếc tàu bị phá hủy”. Trận giao tranh diễn ra vô cùng quyết liệt. Ông Hào kể, lúc đầu nhân dân Đức Phổ đứng xem đông nghịt cả bờ biển. Họ tưởng là hải quân Mỹ - ngụy tập trận nên đến xem. Sau, thấy ta bắn cháy một máy bay, bà con mới té ngửa là bộ đội từ miền Bắc vào đang bị oanh tạc. Lập tức bà con tìm cách báo cho các đơn vị bộ đội ở địa phương đồng thời tìm mọi cách cứu các chiến sĩ tàu C43. Sau tiếng nổ hủy tàu, dưới làn mưa bom, bão đạn của kẻ thù, đồng bào và du kích huyện Đức Phổ vẫn xông vào cứu chữa, băng bó vết thương cho các chiến sĩ và đưa về hầm bí mật an toàn. Ông Hào xúc động nhớ lại: “Nếu không có sự thương yêu, đùm bọc của bà con nhân dân Đức Phổ chắc chúng tôi hy sinh hết cả rồi…”.
                Sau 10 ngày được nhân dân đùm bọc trong hầm bí mật, 11 cán bộ chiến sĩ tàu C43 được nhân dân đưa đến bệnh xá Đức Phổ. Tại đây, họ được chị Đặng Thùy Trâm ân cần điều trị và sau đó trở về miền Bắc bằng đường mòn Hồ Chí Minh. Dù đã trải qua hơn 40 năm nhưng kỷ niệm về những ngày ở bệnh xá Đức Phổ vẫn còn in đậm trong tâm khảm ông Hào. Sau này, khi biết chị Trâm hy sinh và để lại tập nhật ký mà trong đó có đoạn chị viết về đơn vị của ông khiến ông rất xúc động. Ông đọc cho chúng tôi nghe tiếp nội dung đoạn nhật ký này: “Các anh đi rồi nhưng tất cả nơi đây còn ghi lại hình dáng các anh. Những con đường đi, những chiếc ghế ngồi chơi xinh đẹp, những câu thơ thắm thiết yêu thương… Bỗng dưng, một nỗi nhớ thương kỳ lạ đối với miền Bắc trào lên trong mình như mặt sông những ngày mưa lũ và… mình khóc ròng đến nỗi không thể đáp lại lời chào của mọi người…”.
                Giọng ông Hào trở nên vui vẻ hẳn: “Chị Trâm rất đẹp, vẻ đẹp dịu dàng của người con gái thủ đô, với nụ cười thường trực trên môi, luôn lạc quan dù cho bom đạn xung quanh bệnh xá rền vang cả ngày lẫn đêm…”. Ông bảo, chị Trâm rất quan tâm đến ông, coi như một người em trai trong gia đình. Lá thư mà chị viết riêng cho ông cũng vào dịp chia tay của toàn đơn vị. Chị còn dặn dò ông, ra miền Bắc, có thời gian đến thăm nhà ba má chị ở Hà Nội...
                Chúng tôi đọc hết lá thư chị Trâm gửi cho ông Hào. Nội dung đã thể hiện một tình cảm thiêng liêng với quê hương đất nước, một tấm lòng mong ước hòa bình. Chị viết: “Mong ước một ngày không xa nữa chị sẽ đến Đồ Sơn nghỉ mát và… một buổi chiều nào đó trên bãi biển Đồ Sơn, chị lại được gặp em, được nắm tay em… Nhớ gửi thư nhiều cho chị nghe em”.
                Bây giờ, trong căn gác nhỏ của gia đình ông Hào, những tấm huân chương, những bức ảnh về đồng đội tàu C43 năm xưa cùng với bức thư và tấm hình chị Đặng Thùy Trâm vẫn được ông lưu giữ cẩn thận. Tạm biệt ông Lưu Công Hào - người lính biển kiên cường năm xưa, tôi biết ông đang sống với nhiều ký ức về một thời hào hùng và cả tấm lòng đang đau đáu về biển Đông đang bị ngoại bang đe dọa, xâm phạm. Chúc ông mạnh khỏe và luôn tin tưởng vào thế hệ trẻ hôm nay sẽ làm hết mình để bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ, bảo vệ từng tấc đất mà thế hệ tiền nhân, trong đó có cả những chiến sĩ quả cảm tàu không số đã phải đổ máu xương mới có được.


                 Bến cảng nghĩa tình

                Trong cuộc đấu tranh giải phóng đầy gian khổ, hy sinh của dân tộc, tỉnh Thanh Hóa vinh dự được nhiều lần đón tiếp đồng bào, cán bộ chiến sĩ, học sinh miền Nam tập kết ra Bắc… Mảnh đất kiên cường này đã đi vào ký ức của hàng vạn con người về một thời chiến tranh khói lửa…

                Xứ Thanh - vùng đất văn vật nổi tiếng này luôn thu hút chúng tôi tìm đến nhưng chưa bao giờ cảm nhận hết sự hấp dẫn của đất và người nơi đây. Kỳ lạ thay, cầu Hàm Rồng bắc qua sông Mã cho đến bây giờ vẫn là niềm tự hào pha lẫn sự ngạc nhiên có phần tâm linh của nhiều người. Trong kháng chiến chống Mỹ, cầu nối liền con đường huyết mạch Bắc - Nam nên đã trở thành túi hứng bom đạn của địch. Hàng vạn tấn bom đã trút xuống nhưng chưa bao giờ trúng cầu Hàm Rồng mà chỉ rơi vào các vách núi xung quanh. Người ta nói rằng, các dãy núi sừng sững bao quanh chiếc cầu đã tạo nên thế phong thủy rất hiểm trở nên mặc cho bom rơi, đạn lạc cầu vẫn bình yên.  
                Bia tưởng niệm những đoàn tàu nghĩa tình chở đồng bào miền Nam ra Bắc tại TX.Sầm Sơn
                Dòng sông Mã mùa này nước đục ngầu, chở nặng phù sa cho những cánh đồng miền xuôi lúa thêm trĩu hạt. Sông Mã - con sông hiền hòa và dữ dội một thời đã đi vào thơ ca và lịch sử dân tộc. Trong kháng chiến chống Pháp, hàng vạn con em Thanh Hóa đã ngược dòng sông này đi chiến dịch. Vết chân xưa của cha ông nay vẫn còn vang vọng trong tâm thức của mỗi người dân Việt Nam.
                Sầm Sơn một chiều biển lặng. Những con thuyền đánh cá đang từ Hoàng Sa trở về trong sự chào đón của người dân ven bờ. Một cảm giác rất lạ - sự đón chào những con thuyền hôm nay không phải chỉ là tình cảm của những người thân với nhau mà là cả tấm lòng của nhân dân vui mừng đón những chàng trai từ vùng biển đang dậy sóng trở về. Thuyền cập bến, cả một rừng cờ Tổ quốc tung bay trong gió biển thổi lồng lộng. Anh bạn tôi xen vào một câu mang tính triết lý: “Dân tộc ta là thế. Khi Tổ quốc vẫy gọi, nhân dân luôn đặt lợi ích của dân tộc trên hết. Sẽ là sai lầm nếu một thế lực nào đó muốn thách thức cả dân tộc bất khuất này”. Thật chí lý! Tôi bỗng nhớ, vùng biển này cách đây hơn nửa thế kỷ cũng đã diễn ra một sự chào đón lớn, đầy ắp nghĩa tình.  
                Biển Sầm Sơn hôm nay
                Từ Sầm Sơn đi về khu vực Bến Hới (nay là Cảng Hới, phường Quảng Tiến, TX.Sầm Sơn) chừng 4km. Chúng tôi đến đây khi nắng chiều đã tắt. Từng cơn gió mát dịu ùa về. Trên bến cảng, thuyền về đầy ắp. Sát bên cầu tàu Cảng Hới vẫn còn một tấm bia khắc ghi một sự kiện lịch sử. Nơi đây, gần 60 năm về trước đã diễn ra cuộc gặp gỡ có ý nghĩa chính trị, lịch sử quan trọng của đất nước ta. Đó là, Đảng bộ và nhân dân tỉnh Thanh Hóa được giao nhiệm vụ đón tiếp, chăm sóc 1.800 thương binh và hơn 50 ngàn cán bộ, nhân dân từ miền Nam tập kết ra Bắc theo Hiệp định Giơ-ne-vơ. Người dân nơi đây còn nhớ rằng: Vào những ngày sục sôi năm ấy, khi chuyến tàu đầu tiên chở chiến sĩ ta bị địch bắt trao trả vừa cập cảng, hàng ngàn đồng bào đứng chật ních hai bên đường chào đón những đứa con thân yêu của Tổ quốc trở về trong niềm vui và xúc động trào dâng. Tiếp theo những chuyến tàu chở bộ đội là những tàu chở cán bộ, đồng bào miền Nam.
                TX.Sầm Sơn những ngày năm ấy chan chứa tình người và vui như ngày hội, dù đó là một cuộc chia ly chưa hẹn ngày về. Ông Trần Chí Trác, một người dân địa phương, nhớ lại: “Năm 1954, tôi khoảng 15 tuổi, là học sinh và được trường chọn vào đội phụ trách công tác thanh thiếu niên địa phương. Hồi ấy gọi là “Thiếu niên chim hòa bình”. Nhiệm vụ của tôi là tham gia vào xưởng sản xuất bánh kẹo, phân phát cho các học sinh miền Nam. Những người lớn tuổi thì lo cơm đùm, cơm nắm đến tận nơi đón tiếp đồng bào. Bà con kẻ Nam, người Bắc như chung một nhà…”.
                Từ trong môi trường học tập, rèn luyện ban đầu trên miền Bắc XHCN, nhiều đồng chí sau này đã trở thành lãnh đạo cao cấp của Đảng và Nhà nước như Chủ tịch nước Trương Tấn Sang, nguyên Thủ tướng Phan Văn Khải, đồng chí Nguyễn Thiện Nhân… và nhiều lãnh đạo khác. Ông Lưu Hùng Sơn, Trưởng phòng Văn hóa TX.Sầm Sơn cho biết: Hàng năm, đều có các lãnh đạo nguyên là con em miền Nam tập kết trở lại thăm mảnh đất này với biết bao nghĩa tình sâu nặng. Ông Sơn còn cho biết thêm, nhằm lưu giữ tình cảm thiêng liêng này, TX.Sầm Sơn đang triển khai việc khảo sát, lập quy hoạch chi tiết xây dựng Dự án khu lưu niệm cán bộ, học sinh miền Nam trên đất Bắc. Đây cũng chính là nguyện vọng, tình cảm của nhân dân Thanh Hóa và đồng bào, cán bộ chiến sĩ, học sinh miền Nam tập kết ra Bắc nhằm ôn lại những năm tháng thắm đượm nghĩa tình.
                Trong lịch sử đấu tranh của dân tộc Việt Nam đã diễn ra nhiều cuộc chia ly của nhân dân. Nhưng chia ly mà không hề ly biệt, hay nói như lời một bài hát là “Cuộc chia ly màu đỏ”. Chia ly để cuối cùng thống nhất một nhà, non sông thu về một mối. Hôm nay, trên mảnh đất nghĩa tình này đang có hàng ngàn người miền Nam ở lại lập gia đình, an cư lạc nghiệp. Họ ra Bắc từ nhiều vùng quê nhưng bây giờ Thanh Hóa đã trở thành quê hương thứ hai của họ như gia đình bác Huỳnh Ngọc Kiều (quê ở Bến Tre), bác Châu Hồng Hải (quê ở Chợ Gạo, Tiền Giang)…
                Chúng tôi chia tay TX.Sầm Sơn. Biển chiều nay thật dịu êm. Trên bến cảng, ngư dân đang tất bật chuẩn bị những công đoạn cuối cùng để ra khơi cho kịp mùa đánh bắt. Cờ đỏ tung bay. Trong trang phục màu đỏ, ai ai cũng phấn khởi vui cười mặc cho ngoài biển xa có những “cuồng phong, bão tố” do các thế lực phi nghĩa gây nên. Tạm biệt ngư dân Thanh Hóa. Ngày mai, chúc mọi người buồm căng gió lộng ra khơi…
                Kỳ 10: Cửa Lò biển sóng
                • KIẾN GIANG - KHÁNH VINH


                Read more…

                CÁCH NHẬP COMMENT TRÊN HƯƠNG QUÊ NHÀ

                Đầu tiên, nhấp chuột vào ô Nhập nhận xét của bạn rồi viết comment. Viết xong, nhấp chuột vào ô Tài khoản Google. Sau đó nhấp chuột vào Tên/URL thì sẽ hiện ra 2 ô. Ô phía trên, ghi Họ và tên của bạn. Ô phía dưới, ghi dòng chữ:huongquenha.com

                Cuối cùng, nhấp chuột vào ô Tiếp tục và nhấp chuột tiếp vào ô Xuất bản là xong. (Nếu bạn đã có sẵn Tài khoản Google, thì sau khi viết comment, chỉ cần nhấp chuột vào ô Xuất bản là thành công)

                Số lượt xem tháng trước


                -------------------------------------------------------------------------


                TÁC GIẢ & TÁC PHẨM
                * TÁC GIẢ & TÁC PHẨM * TÁC GIẢ & TÁC PHẨM * TÁC GIẢ & TÁC PHẨM * TÁC GIẢ & TÁC PHẨM---------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------
                Ái Nhân (21) Ambrose Bierce (1) ẢNH (58) Anh Ngọc (1) Anh Nguyên (1) Anh Phong (4) Anh Phương (9) âm nhạc (2) âm thanh (1) Ân Thiên (1) Bạch Diệp (5) Bạch Lan (1) Bách Mỵ (2) BÀN TRÒN VĂN NGHỆ (87) Bảo Hồ (1) Bảo Lâm (1) Bảo Ninh (2) Bé Hải Dân (1) Bích Ái (3) Bích Lê (4) Bích Ngọc (1) Bích Vân (2) Bình Địa Mộc (3) Bình Nguyên (1) Bình Nguyên Trang (2) binh pháp (1) Bình Tâm (1) Bobby Nam Giang (3) Bùi Anh Sắc (1) Bùi Công Thuấn (1) Bùi Danh Hải Phong (1) Bùi Đức Ánh (66) Bùi Hoài Vân (5) Bùi Huyền Tương (2) Bùi Hữu Phước (1) Bùi Nguyên Bằng (25) Bùi Nhựa (4) Bùi Văn Bồng (5) Bùi Việt Thắng (2) BÚT KÝ (17) Ca Dao (2) Cao Duy Thảo (1) Cao Kim Quy (1) Cao Thị Thu Hà (3) Cao Thọ Thêm (2) Cao Thoại Châu (1) Cao Thu Hà (1) Cao Trọng Quế (2) Cao Văn Tam (5) Cát Du (7) Catherine Mansfield (1) Cẩm Lệ (4) Cẩm Tú Cầu (1) Chàng Cát (1) Chánh Đức (1) CHÀO XUÂN 2014 (1) CHÂN DUNG VĂN NGHỆ SĨ (2) Châu Đoàn (1) Châu Quang Phước (1) Châu Thạch (9) Châu Thường Vinh (1) Chí Anh (1) Chính Đức (1) chủ (1) CHỦ BIÊN (151) Chu Giang Phong (1) Chu Lai (2) Chu Ngạn Thư (10) Chu Trầm Nguyên Minh (16) Chu Vương Miện (1) Chúa Sơn Lâm (1) Cỏ Dại (7) covid 19 (1) Công Nguyễn (1) Cơ Xương (1) Cúc Dương (1) Cuộc thi văn chương (1) CỬA SỔ VĂN HÓA (6) Cửu Hùng (3) Dạ Ngân (1) Dã Phong Bình (2) Dã Phương (1) Dạ Thảo (2) Dạ Thy (1) Diệp Linh (18) Diệp Uy (1) Dino Buzzati (3) DỌC ĐƯỜNG (29) Dòng sông đêm (1) DÒNG SÔNG YÊU THƯƠNG (1) Du Tử Lê (1) Dung Thị Vân (28) Duy Anh (1) Duy Bằng (1) Duy Phạm (10) Dương Diệu Minh (1) Dương Đăng Huệ (1) Dương Hải Yến (2) Dương Hằng (7) Dương Kim Nhi (4) Dương Kim Thoa (1) Dương Phương Vinh (1) Dương Thành Thái (3) Dương Thị Yến Trinh (2) Dương Xuân Triều (6) Dzạ Lữ Kiều (6) Đàm Lan (17) Đan Ngọc (2) đạo đức (2) Đào Hiền (2) Đào Hữu Thức (2) Đào Khương (2) Đào Minh Hiệp (2) Đào Phạm Thuỳ Trang (82) Đào Quang Bắc (1) Đào Quý Thạnh (1) Đào Thanh Hoà (14) Đào Thị Quý Thanh (1) Đào Thị Thu Hiền (3) Đào Văn Đạt (31) Đào Viết Bửu (7) Đặng Châu Long (1) Đặng Diệu Thoa (1) Đăng Đăng (1) Đăng Huỳnh (2) Đặng Quốc Khánh (8) Đặng Quý Địch (3) Đặng Tấn Tới (2) Đặng Thị Hoa (2) Đặng Thị Xuân (1) Đặng Toán (1) Đăng Trình (1) Đặng Tường Vy (3) Đặng Văn Sử (1) Đặng Việt Trinh (1) Đặng Xuân Xuyến (9) ĐIỂM BÁO (2) Điêu Thuyền (1) Đinh Lốc (2) Đình Thậm (1) Đinh Vương Khanh (4) Đoàn Khương Duy (1) Đoàn Thị Minh Hiệp (4) Đoàn Tình (3) Đoàn Tuyết Thu (1) Đoản văn (1) ĐỌC SÁCH (30) Đỗ Chiến Thắng (6) Đỗ Duy Hoàng (15) Đỗ Hồng Ngọc (5) Đỗ KIm Dung (1) Đỗ Phu (1) Đỗ Quyên (2) Đỗ Tâm Linh (1) Đỗ Tấn Đạt (2) Đỗ Thị Kim Hải (2) Đỗ Trúc Hàn (1) Đỗ Văn Tiến (1) Đỗ Xuân Phương (1) Đức Linh (1) Đức Tiên (3) Elena Pucillo Truong (6) gan jing world (1) Ghi chép (2) Giang Đình (8) Giang Hiền Sơn (6) Giáo dục (1) Guy de Maupassant (1) Hà Đoàn (2) Hạ Ly (1) Hà Nguyên (2) Hà Nhi (1) Hà Nhữ Uyên (2) Hà Phi Phượng (1) Hạ Thi (3) Hà Thị Thu Hằng (1) Hà Tùng Sơn (1) Hải Điểu (1) Hải Miên (3) Hải Phong (2) Hải Thăng (1) Hải Thuỵ (6) Hải Yến (2) Hàm Sơn (1) Hàn Dã Thảo (2) Hàn Du Tử (17) Hàn Hữu Yên (1) Hàn Lâm (1) Hãn Nguyên Nguyễn Nhã (1) Hàn Nguyệt (1) Hàn Phong Vũ (19) Hàn Tín (1) Hạng Vũ (1) Hậu Cốc Ngang (1) Hậu Đậu (1) Hiếu Dũng (1) Hoa Hướng Dương (1) Hoa Mai (2) Hoa Tím Buồn (4) Hoa Tuyết (2) Hoà Văn (10) Hoa Xuyến Chi (1) Hoài Huyền Thanh (53) Hoan Giang (1) Hoàng Anh (6) Hoàng Anh 79 (26) Hoàng Chẩm (53) Hoàng Chẫm (1) Hoàng Đình Quang (2) Hoàng Giao (4) Hoàng Hạ Miên (6) Hoàng Hữu (1) Hoàng Khánh Duy (5) Hoàng Kim (1) Hoàng Kim Chi (1) Hoàng Kim Oanh (2) Hoàng Linh (6) Hoàng Long (2) Hoàng Lộc (8) Hoàng Mẫn (1) Hoàng Minh Tường (2) Hoàng Nghĩa Lược (1) Hoàng Ngọc Xuân (4) Hoàng Nguyên (1) Hoàng Nguyên Phương (3) Hoàng Phủ Ngọc Tường (1) Hoàng Thảo Chi (1) Hoàng Thị Bích Hà (1) Hoàng Thị Nhã (8) Hoàng Thị Thu Thủy (2) Hoàng Thông (1) Hoàng Trang (1) Hoàng Trần (1) Hoàng Trọng Quý (9) Hoàng Trọng thắng (1) Hoàng Tuấn Sơn (1) Hoàng Tuyên (2) Hoàng Vũ Thuật (1) Hoàng Xuân Hiến (1) Hoàng Xuân Niên (1) Hồ Bích Ngọc (4) Hồ Bích Vân (2) Hồ Đắc Thiếu Anh (1) Hồ Hải (2) Hồ Lê Diêm (1) Hồ Nam (1) Hồ Ngọc Diệp (1) Hồ Nhật Quang (1) Hồ Sĩ Duy (1) Hồ Thanh Ngân (10) Hồ Thế Hà (2) Hồ Thế Phất (3) Hồ Thế Sinh (1) Hồ Tĩnh Tâm (1) Hồ Tịnh Thuỷ (21) Hồ Vũ Khánh Linh (1) Hồ Xuân Thu (3) Hội Nhà văn TP. HCM (1) Hồng Hạnh (5) Hồng Liễu (1) Hồng Phúc (8) Hồng Tâm (10) Huệ Triệu (3) HUMICHI (5) Hùng Phan (1) Huy Nguyên (15) Huy Vọng (17) Huy Vũ (1) Huyết Kiệt (1) Huỳnh Dạ Thảo (1) Huỳnh Gia (18) Huỳnh Kim Bửu (1) Huỳnh Minh Lệ (2) Huỳnh Ngọc Nga (1) Huỳnh Ngọc Phước (29) Huỳnh Như Phương (1) Huỳnh Thanh Lan (1) Huỳnh Thị Quỳnh Nga (1) Huỳnh Thúy Thúy (1) Huỳnh Trang (1) Huỳnh Văn Diệu (1) Huỳnh Văn Mỹ (1) Huỳnh Văn Yên (1) Huỳnh Xuân Sơn (3) Hương Đêm (1) Hương Đình (4) Hương Quê Nhà (1) Hương Văn (6) Hửu Thỉnh (1) Irina Polianxkaia (1) James Dylan (4) James Joyce (1) Jeffrey Thai (9) Jerry Thu Trà (7) Kai Hoàng (1) Kate Chopin (1) Kha Tiệm Ly (4) Khả Xuân (1) Khán Võ (2) Khảo Mai (1) khoa học (1) Khổng Trường Chiến (3) Khổng Vĩnh Nguyên (1) Khuê Tú (1) KỊCH BẢN (1) Kiên Giang (1) Kiến Giang (12) Kiều Huệ (1) Kiều Lệ (1) Kim Chuông (4) Kim Dung (2) Kim Ngoan (15) Kim Quyên (1) Kim Sơn Giang (22) Kim Tiết (13) Kim Yến (1) Kỳ Nam (2) Ký sự (14) Lã Bố (1) La Hán (1) La Mai Thi Gia (1) Lạc Thảo (1) Lại Ngọc Thư (1) Lam Giang (3) Lan Anh (1) Lan Phương (1) Lan Thanh (1) Lãng Du (6) Lâm Bích Thuỷ (8) Lâm Cẩm Ái (3) Lâm Hạ (11) Lâm Huy Nhuận (1) Lâm Trúc (30) Lâm Xuân Vi (1) Lâu Văn Mua (1) Lê Ân (5) Lê Bá Duy (9) Lê Đình Danh (79) Lê Đức Hoàng Vân (1) Lê Đức Lang (13) Lê Giang Trần (1) Lệ Hằng (3) Lê Hoài Lương (4) Lê Hoàng (2) Lê Hợp (1) Lê Hứa Huyền Trân (39) Lê Khánh Luận (1) Lê Minh Chánh (1) Lê Minh Dung (2) Lê Minh Hải (4) Lê Minh Vũ (3) Lê Ngân (3) Lê Ngọc Phái (1) Lê Ngọc Trác (1) Lê Ngũ Nam Phong (11) Lê Nhựt Triết (8) Lê Phương Châu (30) Lê Quang Trạng (25) Lê Sa Long (2) Lê Thanh Hùng (34) Lê Thanh My (8) Lê Thấu (1) Lê Thị Cẩm Tú (6) Lê Thị Hồng Thắm (1) Lê Thị Kim (1) Lê Thị Ngọc Lệ (1) Lê Thị Ngọc Nữ (33) Lê Thị Thu Hiền (1) Lê Thị Xuyên (13) Lê Thiếu Nhơn (15) Lê Thống Nhất (6) Lê Thụy Phương (2) Lê Tiến Dũng (1) Lê Tiến Mợi (6) Lê Trọng Nghĩa (3) Lê Trung Hiếu (1) Lê Trung Tín (2) Lê Tuân (4) Lê Tuyền (1) Lê Uyên (1) Lê Văn Hiếu (12) Lê Văn Ngăn (3) Lê Vi Thuỷ (1) Lê Vinh (4) Lê Xuân Tiến (1) Lindsay Polak (1) Linh Lan (7) Linh Lan (Quảng Nam) (8) Linh Phương (3) Linh Thy (2) Lisa La (1) Long Khánh (4) Long Vương (1) luân hồi (1) Lữ Hồng (3) Lư Nhất Vũ (1) Lương Cẩm Quyên (1) Lương Duyên Thắng (3) Lương Đình Khoa (1) Lương Sơn (27) Lưu Ly (6) Lưu Quang Minh (15) Lưu Thành Tựu (1) Lưu Thị Mười (2) Lưu Xuân Cảnh (2) Lý Khánh Vinh (15) Lý Thành Long (1) Lý Thời Miễn (1) M.T.N.H (7) Mã Nhị Lan (1) Mạc Minh (2) Mạc Tố Hồng (1) Mạc Tường (2) Mai Đức Trung (6) Mai Hạnh (1) Mai Hoa (1) Mai Kiệm (1) Mai Loan (12) Mai Nhật (2) Mai Thanh (1) Mai Thị Vân (1) Mai Thìn (3) Mai Tuyết (37) Mang Viên Long (63) Marie Hải Miên (4) Mẫu Đơn (1) Mèo Con (1) Mi Thu (1) Miên Đức Thắng (2) Miên Linh (1) Minh Châu (2) Minh Đan (Lọ Lem Đất Võ) (6) Minh Nguyên (15) Minh Nguyễn (3) Minh Nguyệt (15) Minh Nguyệt (NT) (1) Minh Nhân Tông (1) Minh Phúc (2) Minh Vy (25) Mỗi tháng một tác giả và một bài thơ hay (2) Mộng Cầm (8) Mộng Nam (1) Mùa Xanh (3) Mưa (1) Mường Mán (1) MỸ THUẬT (6) My Tiên (1) Mỹ Vân (1) Nam Art (3) Nam Cao (1) Nam Thi (17) Năm Bửu (1) Nấm Độc (1) NCCGL (4) Ngàn Thương (33) Ngày Đẹp Tươi (1) nghệ thuật. (1) Nghĩa Trần (3) nghiên cứu (1) Ngọc Bút (8) Ngọc Diệp (35) Ngọc Sơn (1) Ngọc Thịnh (1) Ngọc Thủy (1) Ngô Càn Chiểu (1) Ngô Cự Chính (2) Ngô Diệp (6) Ngô Đình Hải (7) Ngô Hải (1) Ngô Hồng Nhung (1) Ngô Liêm Khoan (1) Ngô Minh Trãi (3) Ngô Nguyên Ngiễm (1) Ngô Thị Hoà (1) Ngô Thị Ngọc Diệp (10) Ngô Thuý Nga (30) Ngô Thúy Nga (16) Ngô Thy Học (7) Ngô Văn Cư (52) Ngô Văn Giảng (11) Ngô Văn Khanh (17) Ngô Viết Hòa (2) Nguyễn (1) Nguyễn An Bình (70) Nguyễn An Đình (4) Nguyễn Ánh 9 (1) Nguyễn Bá Nhân (1) Nguyễn Bích Sao Linh (1) Nguyễn Bình (1) Nguyễn Bính Hồng Cầu (2) Nguyên Cẩn (26) Nguyễn Châu (2) Nguyễn Chinh (4) Nguyễn Công Thụ (2) Nguyễn Công Tùng Chinh (1) Nguyễn Cử Tú Quỳnh (2) Nguyên Diệp (1) Nguyễn Dũng (1) Nguyễn Duy Khương (6) Nguyễn Duy Phương (1) Nguyễn Duy Thịnh (3) Nguyễn Đại Duẩn (2) Nguyễn Đặng Mừng (3) Nguyễn Đăng Thanh (20) Nguyễn Đăng Trình (4) Nguyễn Đình Bảng (1) Nguyễn Đình Trọng (1) Nguyễn Đoan Tuyết (25) Nguyễn Đồng Bội Thảo (1) Nguyễn Đức Chính (5) Nguyễn Đức Cơ (1) Nguyễn Đức Mậu (2) Nguyễn Đức Minh (6) Nguyễn Đức Minh Hùng (10) Nguyễn Đức Nhân (1) Nguyễn Đức Phú Thọ (26) Nguyễn Đức Quyền (4) Nguyễn Đức Tấn (6) Nguyễn Đức Tình (4) Nguyễn Gia Long (1) Nguyên Hạ (11) Nguyễn Hải Thảo (2) Nguyễn Hậu (2) Nguyễn Hiếu (8) Nguyễn Hiếu Học (2) Nguyễn Hòa Hiệp (2) Nguyễn Hoài Ân (1) Nguyễn Hoàng Thức (2) Nguyễn Hồng Diệu (1) Nguyễn Huệ (3) Nguyên Hùng (1) Nguyễn Huy (3) Nguyễn Huy (HD) (1) Nguyễn Huy Khôi (1) Nguyễn Huỳnh (1) Nguyễn Hữu Minh (1) Nguyễn Hữu Phú (1) Nguyễn Hữu Quý (2) Nguyễn Hữu Thuần (11) Nguyễn Hữu Trung (2) Nguyễn Khiêm (1) Nguyễn Khoa Đăng (51) Nguyễn Kiều Lam (2) Nguyễn Kiều Phương (3) Nguyễn Kim Hương (7) Nguyễn Kim Thịnh (1) Nguyễn Lam (2) Nguyễn Lương Vỵ (4) Nguyên Minh (1) Nguyễn Minh Dũng (46) Nguyễn Minh Hoà (1) Nguyễn Minh Khiêm (1) Nguyễn Minh Nguyệt (1) Nguyễn Minh Phúc (47) Nguyễn Minh Quang (5) Nguyễn Minh Thuận (9) Nguyễn Minh Toàn (1) Nguyễn Mỳ (1) Nguyễn Mỹ Nữ (3) Nguyễn Nga (14) Nguyễn Nghiêm (3) Nguyễn Ngọc Dũng (1) Nguyễn Ngọc Đặng (1) Nguyễn Ngọc Hà (4) Nguyễn Ngọc Hưng (6) Nguyễn Ngọc Minh Anh (1) Nguyễn Ngọc Thơ (31) Nguyễn Ngọc Tư (5) Nguyễn Nguy Anh (21) Nguyễn Nguyên Phượng (69) Nguyễn Nhật Hùng (4) Nguyễn Như Tuấn (14) Nguyễn Phin (30) Nguyên Phong (1) Nguyễn Phú Yên (8) Nguyễn Phượng (2) Nguyễn Phương Dung (2) Nguyễn Quang Quân (8) Nguyễn Quang Tâm (2) Nguyễn Quang Tuấn (1) Nguyễn Quân (2) Nguyễn Quốc Ái (1) Nguyễn Quốc Bảo (1) Nguyễn Quốc Đông (1) Nguyễn Quy (2) Nguyên Tâm (1) Nguyễn Tấn Thuyên (3) Nguyễn Thái An (3) Nguyễn Thái Dương (6) Nguyễn Thái Huy (35) Nguyễn Thành Công (48) Nguyễn Thành Giang (22) Nguyễn Thanh Hải (1) Nguyễn Thanh Huyền (8) Nguyễn Thanh Mừng (1) Nguyễn Thánh Ngã (1) Nguyễn Thành Nhân (18) Nguyễn Thanh Tuấn (7) Nguyễn Thanh Xuân (2) Nguyễn Thế Kiên (1) Nguyễn Thế Kỷ (1) Nguyễn Thị Ánh Huỳnh (2) Nguyễn Thị Bích Phượng (2) Nguyễn Thị Cẩm Thuỳ (3) Nguyễn Thị Chi (2) Nguyễn Thị Diệu Hiền (3) Nguyễn Thị Hải (1) Nguyễn Thị Hằng (7) Nguyễn Thị Hậu (1) Nguyễn Thị Hồng Đào (10) Nguyễn Thị Huệ (1) Nguyễn Thị Kim Huệ (2) Nguyễn Thị Mây (127) Nguyễn Thị Ngọc Hải (1) Nguyễn Thị Ngọc Sen (2) Nguyễn Thị Như Tâm (3) Nguyễn Thị Phụng (27) Nguyễn Thị Thanh Bình (6) Nguyễn Thị Thành Nhân (1) Nguyễn Thị Thanh Toàn (1) Nguyễn Thị Thanh Xuân (1) Nguyễn Thị Thu Ba (23) Nguyễn Thị Thu Hiền (1) Nguyễn Thị Thu Hoài (1) Nguyễn Thị Thu Thuý (3) Nguyễn Thị Thùy Linh (3) Nguyễn Thị Tiết (3) Nguyễn Thị Tuyết (1) Nguyễn Thị Việt Hà (39) Nguyễn Thị Xuân Hương (14) Nguyễn Thu Hằng (1) Nguyễn Thủy (4) Nguyễn Thúy Ngân (13) Nguyễn Thuý Quỳnh (2) Nguyễn Thường Kham (3) Nguyễn Thượng Trí (2) Nguyễn Tiến Đường (8) Nguyễn Trần (1) Nguyễn Trí Tài (40) Nguyễn Trọng Luân (2) Nguyễn Trung (1) Nguyễn Trung Nguyên (1) Nguyễn Tuyển (4) Nguyễn Văn Ân (68) Nguyễn Văn Bút (6) Nguyễn Văn Công (2) Nguyễn Văn Cường (CCK) (4) Nguyễn Văn Đông (1) Nguyễn Văn Hiến (5) Nguyễn Văn Hoà (5) Nguyễn Văn Hòa (3) Nguyễn Văn Học (55) Nguyễn Văn Ngọc (1) Nguyễn Văn Thanh (1) Nguyễn Văn Thành (1) Nguyễn Văn Thảo (17) Nguyễn Văn Toan (1) Nguyên Vi (1) Nguyễn Việt Hà (2) Nguyễn Vinh (1) Nguyễn Vĩnh Bình (3) Nguyễn Xuân Cảm (3) Nguyễn Xuân Dương (1) Nguyễn Xuân Khánh (1) Nguyễn Xuân Thuỷ (1) Nguyễn Xuân Thủy (1) Nguyễn Xuân Tư (3) Nguyệt Linh (5) Nguyệt Quế (1) Ngưng Thu (44) Nhã Ngọc (1) Nhã Thiên (7) nhà Thương (1) Nhân Hậu (2) NHÂN VẬT (1) Nhật Nguyệt Xuân Hương (1) Nhật Quang (17) Nhất Sinh (1) Nhật Vũ (1) Nhi Hạ (1) NHỚ THUỞ ẤU THƠ (37) Như Hoài (4) NHỮNG ÁNG VĂN HAY VỀ LÀNG QUÊ VIỆT NAM (7) NHỮNG NGƯỜI BẠN ĐÂT THỦ (6) NHỮNG NGƯỜI THỰC HIỆN HQN (5) Nông Quốc Lập (2) NP phan (1) Nửa Đời hư (1) NỬA THÁNG MỘT TÁC GIẢ VÀ MỘT BÀI THƠ HAY (37) nước (1) O. Henry (1) P.N. Thường Đoan (1) Pearl (1) Phạm Ánh (34) Phạm Anh Xuân (3) Phạm Bá Nhơn (2) Phạm Cao Hoàng (1) Phạm Đình Nghi (1) Phạm Đình Trung (1) Phạm Hổ (1) Phạm Hữu Hoàng (20) Phạm Kiều Hưng (1) Phạm Lâm (1) Phạm Lê Tường Vi (1) Phạm Minh Dũng (14) Phạm Minh Hiền (9) Phạm Minh Thuận (12) Phạm Mỹ (1) Phạm Ngân (3) Phạm Như Vân (1) Phạm Phan Hòa (1) Phạm Phương Lan (1) Phạm Quỳnh An (1) Phạm Thái Ba (4) Phạm Thị Hải Dương (9) Phạm Thị Liên (1) Phạm Thị Mỹ Liên (30) Phạm Thị Phương Thảo (3) Phạm Thuý (6) Phạm Trần Ái Linh (4) Phạm Trung Tín (2) Phạm Tuấn Vũ (29) Phạm Tử Văn (21) Phạm Văn Hải (4) Phạm Văn Phương (19) Phạm Văn Thạnh (1) Phạm Vũ (1) Phan Anh (12) Phan Cung Việt (1) Phan Đức Nam (1) Phan Hoài Thương (1) Phan Hoàng (2) Phan Huỳnh Điểu (1) Phan Hữu Lý (1) Phan Khanh (2) Phan Mai Thư Nhã (6) Phan Nam (20) Phan Quỳnh Như (1) Phan Sửu (1) Phan Tấn Lược (6) Phan Thanh Cương (2) Phan Thị Huỳnh Trang (2) Phan Tiên Phát (1) Phan Tình (1) Phan Trang Hy (25) Phan Văn Bình (1) Phan Văn Thạnh (1) Phan Văn Thuần (3) Phan Vĩnh (1) phần 1 (1) phần 2 (1) phần 3 (1) phần 4 (1) Phiêu Vân (1) Phong Dương (2) Phong Điệp (1) Phỏng vấn (8) Phú Ngọc (1) Phú Quang (3) Phú Xuân (8) Phùng Gia Lộc (1) Phùng Hiếu (10) Phùng Hiệu (1) Phùng Hoàng Chương (1) Phùng Phương Quý (7) Phụng Thiên (1) Phùng Văn Khai (1) Phước Vũ (1) Phương Phương (10) Phương Uy (5) Quan Thế Âm (1) Quảng Ngọc (1) Quảng Ngôn Lê Ngữ (1) Quang Thám (1) Quang Tuấn Dũng (9) Quốc Hùng (2) Quốc Tuyên (1) Quý Hòa (1) quy luật dịch (1) Quỳnh Lệ (1) Quỳnh Nga (16) Quỳnh Trâm (1) Rason Helmandollar (1) Raymond Carver (1) Raymond Thư (1) Rêu (Cao Hoàng Từ Đoan) (13) SÁCH BẠN VĂN (71) SARAH HALL (1) SINH NHẬT (1) Song Ninh (11) Sông Hương (11) Sông Lam (1) Sông Song (9) Sơn Tịnh (2) Sơn Trần (15) Sruthi Thekkiam (1) Stephen Crane (1) T.T.Hiếu Thảo (22) Tạ Nghi Lễ (1) Tạ Thị Hoa (14) Tam quốc diễn nghĩa (4) TẢN VĂN (230) TẠP BÚT (624) Tạp chí Văn Mới (1) TẠP CHÍ VN BÌNH DƯƠNG (11) Tashi Dawa (1) Tâm Lãng (1) Tâm Nhiên (2) Tấn Hòa (1) Tần Khánh (4) Tân Vương Huy (1) TẬP SAN ÁO TRẮNG (39) Tập san Văn học nghệ thuật Hương Quê Nhà (1) Tây bá hầu Cơ Phát (1) Tây Du Ký (1) Tây Sơn bi hùng truyện (2) Thạch Anh (2) Thạch Cầu (1) Thạch Đà (7) Thạch Lam (1) Thạch Sene (5) Thái An Khánh (2) Thái Hoà (1) Thanh Bình Nguyên (27) Thành Dũng (1) Thanh Hải (1) Thanh Huyền (2) Thanh Lương (2) Thanh Minh (6) Thanh Phong (1) Thanh Sơn (1) Thanh Thảo (3) Thanh Trắc Nguyễn Văn (42) Thanh Tùng (7) Thành Văn (3) Thạnh Văn (1) Thanh Xuân (2) Thảo Nguyễn (1) Thâm Tâm (1) Thần Y (1) Thế Tuyên (2) Thi Ngọc Lan (1) Thiên Ân (1) Thiên Di (5) Thiên Sơn (1) Thiên Thần Áo Trắng (7) Thiên Tôn (10) Thiên Trần (1) Thiệp chúc mừng năm mới (4) Thiệp chúc Tết (3) Thiệp mừng (3) Thông báo (1) Thơ (3152) Thơ Lê Nhựt Triết (1) THƠ MỜI HOẠ (7) THƠ PHỔ NHẠC (153) Thời sự Văn nghệ (6) Thu Dung (3) Thu Hằng (1) Thu Hiền (1) Thu Hoài (1) Thu Nga (5) Thuận Thảo (8) Thuận Yến (1) Thục Minh (7) Thuỳ Anh (13) Thuỵ Du (1) Thụy Du (3) Thuỳ Dương (1) Thùy Dương (1) Thủy Điền (1) Thuỳ Nhân (1) Thư cảm ơn (1) Thư ngỏ (1) THƯ NGỎ CỦA HQN (2) Thư tin (285) THƯ VIỆN TÁC GIẢ (1) Tiểu luận (4) Tiểu Mục Đồng (1) Tiểu Nguyệt (5) Tiểu thuyết (107) Tiêu Tương (1) Tin buồn (2) TIN VĂN (2) Tịnh Bình (19) Tịnh Minh Tiến (2) Tô Hải (1) Tô Hồng Phương (1) Tô Kiều Ngân (1) Tố Mai (9) Tô Minh Yến (21) Tôn Nữ Hỷ Khương (2) Tôn Thất Út (2) Tôn Tư Mạc (1) Tống Ngọc Hân (1) Tống Xuân Tám (1) Trà Bình (4) TRABATHA (1) Trác Phi (1) Trang Linh (1) Trang Lộc (1) Trang Thơ Chào Xuân Mậu Tuất 2018 (1) TRANG THƠ CHỦ NHẬT (530) Trang Thơ Đón Xuân Đinh Dậu 2017 (1) TRANG THƠ ĐƯỜNG LUẬT (17) Tranh ảnh (3) Trầm Mặc (4) Trần Anh Dũng (1) Trần Bảo Định (4) Trần Băng Khuê (1) Trần Biên Thùy (1) Trần Dần (1) Trần Duy Đức (17) Trần Dzạ Lữ (4) Trần Định (1) Trần Đình Sử (2) Trần Đoàn Luận (1) Trần Đức ÁI (2) Trần Đức Hiển (1) Trần Đức Tín (1) Trần Hà Nam (4) Trần Hoàng Vy (2) Trần Hồng Vân (5) Trần Huiền Ân (2) Trần Huy Minh Phương (2) Trần Hữu Du (1) Trần Hữu Hội (17) Trần Kim Đức (5) Trần Kim Loan (2) Trần Kim Quy (1) Trần Lê Sơn Ý (2) Trần Linh Chi (1) Trần Long Thạch (1) Trần Lưu (1) Trần Mai Hường (11) Trần Mạnh Hảo (1) Trần Minh Nguyệt (16) Trần Năm (1) Trần Ngọc Hồ Trường (4) Trần Ngọc Mỹ (11) Trần Nguyên Hạnh (6) Trần Nhã My (2) Trần Như Luận (3) Trần Nhương (1) Trần Phù Nam (1) Trần Quang Dũng (4) Trần Quang Khanh (14) Trần Quang Lộc (1) Trần Quang Ngân (10) Trần Quốc Tiến (8) Trần Quốc Toàn (1) Trần Quốc Việt (1) Trần Tâm (7) Trần Thái Hưng (5) Trần Thanh Hải (3) Trần Thành Nghĩa (1) Trần Thế Nhân (13) Trần Thị Bích Thu (1) Trần Thi Ca (9) Trần Thị Cổ Tích (2) Trần Thị Huệ (1) Trần Thị Huyền Trang (3) Trần Thị Mai (1) Trần Thị Ngọc Hồng (1) Trần Thị Thanh (5) Trần Thị Thắng (1) Trần Thị Thương Thương (4) Trần Thị Trúc Hạ (1) Trần Thị Uyên (8) Trần Thiện (3) Trần Thiện Tuấn (1) Trần Thoại Nguyên (2) Trần Thuận (7) Trần Thúy Lành (6) Trần Thuỳ Trang (1) Trần Thư (1) Trần Thương Nhiều (1) Trần Trọng Hưng (2) Trần Trọng Tân (1) Trần Trọng Vũ (2) Trần Tuấn Anh (2) Trần Tuấn Thanh (10) Trần Vạn Giã (2) Trần Văn Bạn (16) Trần Văn Nhân (5) Trần Văn Thiên (1) Trần Việt (1) Trần Viết Dũng (11) Trần Võ Thành Văn (24) Triết học (2) Triều Âm (2) Triều Châu (1) Triều La Vỹ (2) Triệu Lam Châu (1) Triệu Từ Truyền (30) Trịnh Bửu Hoài (105) Trịnh Duy Sơn (2) Trịnh Hoài Linh (5) Trịnh Huy (4) Trịnh Thuỳ Mỹ (1) Trịnh Tuyên (1) Trịnh Viết Hiền (1) Trịnh Viết Hiệp (1) Trịnh Yến (2) Trọng Mật (3) trụ vương (1) Trúc Giang (4) Trúc Lập (1) Trúc Linh Lan (2) Trúc Thanh Tâm (12) Trúc Thuyên (3) trung quốc (1) Trung Trung Đỉnh (1) Trung Y (1) Truong Nguyen (1) Truyện dài (10) TRUYỆN DỊCH (17) Truyện ký (2) TRUYỆN NGẮN (1173) TRUYỆN VỪA (14) Trương Công Tưởng (16) Trương Diễm Phiến (1) Trương Đình Phượng (8) Trương Đình Tuấn (3) Trương Hồng Phúc (14) Trương Huỳnh Như Trân (2) Trương Lan Anh (1) Trương Nam Chi (5) Trương Thanh Cường (2) Trường Thắng (65) Trương Thị Thanh Tâm (22) Trương Thị Thúy (2) Trường Thịnh (6) Trương Tri (2) Trương Văn Dân (21) Trương Viết Hùng (1) TTM (1) Tuấn Nguyễn (7) Tuấn Quỳnh (3) Tuệ Mỹ (1) Tuti (2) Tuỳ bút (2) TÙY BÚT (120) Tuyết Nhung (2) Tuyết Vân (1) tứ đại mỹ nhân (1) Tường Vi (1) TX (1) Út Lãng Tử (1) Uyên Khuê (2) Uyên Minh (1) Uyển Phan (1) Vạn Lộc (1) Vành Khuyên (1) Văn (2483) Văn Công Mỹ (2) văn hóa truyền thống (5) Văn học nước ngoài (13) Văn Lưu (1) Văn Nguyên (1) Văn Nguyên Lương (7) Văn Nhược Ba (1) Văn Thạnh (2) Văn Thành Lê (1) Văn Thắng (23) Văn Trọng Hùng (1) Vân Đồn (3) Vân Giang (12) Vân Khanh (2) Vân Phi (32) Vân Tùng (2) Vi Ánh Ngọc (2) Vi Quốc Hiệp (1) Victor Remizov (1) VIDEO CLIP (2) Viễn Trình (25) Việt Quỳnh (1) Việt Trang (1) Việt Trương (1) Vĩnh Sơn (7) Vĩnh Thông (44) Vĩnh Tuy (21) Võ Bá Cường (1) Võ Chân Cửu (17) Võ Chí Nhất (3) Võ Công Liêm (1) Võ Diệu Thanh (18) Võ Dõng (1) Võ Đông Điền (4) Võ Hà (1) Võ Hạnh (2) Võ Mỹ Cát (1) Võ Ngọc Thọ (4) Võ Như Văn (3) Võ Thanh Mỹ (1) Võ Thị Nga (13) Võ Thị Thu Thủy (1) Võ Thuỵ Như Phương (15) Võ Văn Hoa (1) Võ Văn Luyến (1) Võ Xuân Phương (3) Vũ Bình Lục (1) vũ đạo (1) Vũ Đình Huy (9) Vũ Đình Liên (1) Vũ Đình Minh (1) Vũ Đình Nguyệt (2) Vũ Đình Thung (2) Vũ Đức Trọng (1) Vũ Hạ (1) Vũ Hạnh (3) Vũ Hùng (2) Vũ Miên Thảo (5) Vũ Thanh (1) Vũ Thành An (1) Vũ Thị Huyền Trang (115) Vũ Thụy Khuê (8) Vũ Trọng Quang (1) Vũ Trọng Tâm (2) Vũ Trọng Thanh (1) Vương Doãn (1) Vương Hạnh (1) Vương Hoài Uyên (4) Vương Tâm (3) Xanh Nguyên (4) Xuân Đài (1) Xuân Phong (6) Xuân Phương (1) Xuân Tiến (20) Ý Thu (3) Yên Kha (7) Ziken (2)
                -------------------------------------------------------------------------
                + 817 TÁC GIẢ CÓ BÀI ĐĂNG TRÊN HƯƠNG QUÊ NHÀ
                -------------------------------------------------------------------------