NỬA THÁNG MỘT TÁC GIẢ VÀ MỘT BÀI THƠ HAY: XUÂN QUỲNH - Bài giới thiệu của Trịnh Bửu Hoài

                                                      Nhà thơ Xuân Quỳnh


Kỳ 40:

X U Â N   Q U Ỳ N H



Xuân Quỳnh tên thật là Nguyễn Thị Xuân Quỳnh, sinh ngày 6 tháng 10 năm 1942. Quê quán La Khê, xã Văn Khê, tỉnh Hà Tây, nay thuộc quận Hà Đông, Hà Nội. Thuở nhỏ Xuân Quỳnh sống với bà nội vì mẹ mất sớm, cha thường đi công tác xa nhà.
Năm 1955, Xuân Quỳnh được nhận vào công tác ở đoàn Văn công nhân dân trung ương, đào tạo chuyên ngành múa. Năm 1962, Xuân Quỳnh được cử đi học lớp bồi dưỡng những người viết văn trẻ khóa 1 do Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức, hai năm sau ra trường về công tác ở báo Văn nghệ, rồi báo Phụ nữ Việt Nam.
Xuân Quỳnh lập gia đình lần đầu với Lưu Tuấn, một nhạc công ở đoàn Văn công, có một người con là Lưu Tuấn Anh. Năm 1973, bà kết hôn với nhà biên kịch Lưu Quang Vũ và cũng có một người con trai là Lưu Quỳnh Thơ. Từ 1978, bà làm biên tập ở nhà xuất bản Tác phẩm mới.
Xuân Quỳnh làm thơ từ đầu thập niên 1960 và được người yêu thơ mến mộ bởi chất giọng trữ tình, lãng mạn. Thơ bà là những cảm xúc truyền đi từ trái tim nên dễ làm rung động trái tim người cùng tâm trạng: Làm sao được tan ra. Thành trăm con sóng nhỏ. Giữa biển lớn tình yêu. Để ngàn năm còn vỗ (Sóng). Trong tình yêu, Xuân Quỳnh đã yêu là yêu hết mình, hi sinh hết mình; nên thơ bà vừa mãnh liệt vừa tha thiết, vừa chân thành vừa đắm đuối, nhẹ nhàng như lá mà bão dữ như cuồng phong… Em trở về đúng nghĩa trái-tim-em. Là máu thịt, đời thường ai chẳng có. Cũng ngừng đập lúc cuộc đời không còn nữa. Nhưng biết yêu anh cả khi chết đi rồi (Tự hát). Khi đã sống và được yêu, Xuân Quỳnh đắm chìm trong khát vọng của mình, hư hay thực, trăng hay gió… tất cả đều ở bên ngoài, chỉ có em và anh là thực thể của tình yêu: Thời gian như là gió. Mùa đi cùng tháng năm. Tuổi theo mùa đi mãi. Chỉ còn anh và em (Thơ tình cuối mùa thu).

                                              Gia đình nhà thơ Xuân Quỳnh

Tiếc thay, tuổi đời đang sung mãn, tuổi nghề đang chín rực, Xuân Quỳnh bị tử nạn cùng chồng và con trai trong một vụ tai nạn giao thông tại đầu cầu Phú Lương, Hải Dương, vào ngày 29 tháng 8 năm 1988. Bà để lại gần 20 tác phẩm đã xuất bản, cụ thể như: Tơ tằm - chồi biếc (thơ, in chung, Nhà xuất bản Văn học, 1963), Hoa dọc chiến hào (thơ, in chung, 1968), Gió Lào, cát trắng (thơ, 1974), Lời ru trên mặt đất (thơ, 1978), Sân ga chiều em đi (thơ, 1984), Tự hát (thơ, 1984), Hoa cỏ may (thơ, 1989), Thơ Xuân Quỳnh (1992, 1994), Thơ tình Xuân Quỳnh - Lưu Quang Vũ (1994), Cây trong phố - Chờ trăng (thơ, in chung) và các tác phẩm viết cho thiếu nhi: Bầu trời trong quả trứng (thơ, 1982), Truyện Lưu Nguyễn (truyện thơ, 1985), Mùa xuân trên cánh đồng (truyện, 1981), Bến tàu trong thành phố (truyện, 1984), Vẫn có ông trăng khác (truyện, 1986), Tuyển tập truyện thiếu nhi (1995), Chú gấu trong vòng đu quay (tập truyện)…
Xuân Quỳnh có hai bài thơ được nhạc sĩ Phan Huỳnh Điều phổ nhạc và nhiều người yêu thích là Thơ tình cuối mùa thu và Thuyền và biển: Chỉ có thuyền mới hiểu. Biển mênh mông nhường nào. Chỉ có biển mới biết. Thuyền đi đâu, về đâu… Kỳ nầy, chúng tôi xin giới thiệu bài thơ lãng mạn, trữ tình, dễ thương: Thuyền và biển của Xuân Quỳnh.
            TRỊNH BỬU HOÀI
                                              Thủ bút nhà thơ Xuân Quỳnh

T H U Y Ề N   V À   B I Ể N


Em sẽ kể anh nghe 
Chuyện con thuyền và biển: 

"Từ ngày nào chẳng biết 
Thuyền nghe lời biển khơi 
Cánh hải âu, sóng biếc 
Đưa thuyền đi muôn nơi 

Lòng thuyền nhiều khát vọng 
Và tình biển bao la 
Thuyền đi hoài không mỏi 
Biển vẫn xa... còn xa 

Những đêm trăng hiền từ 
Biển như cô gái nhỏ 
Thầm thì gửi tâm tư 
Quanh mạn thuyền sóng vỗ 

Cũng có khi vô cớ 
Biển ào ạt xô thuyền 
(Vì tình yêu muôn thuở 
Có bao giờ đứng yên?) 

Chỉ có thuyền mới hiểu 
Biển mênh mông nhường nào 
Chỉ có biển mới biết 
Thuyền đi đâu, về đâu 

Những ngày không gặp nhau 
Biển bạc đầu thương nhớ 
Những ngày không gặp nhau 
Lòng thuyền đau - rạn vỡ 

Nếu từ giã thuyền rồi 
Biển chỉ còn sóng gió" 

Nếu phải cách xa anh 
Em chỉ còn bão tố…

4-1963
XUÂN QUỲNH


Read more…

NỬA THÁNG MỘT TÁC GIẢ VÀ MỘT BÀI THƠ HAY: QUÁCH THOẠI - Bài giới thiệu của Trịnh Bửu Hoài

                                                  Nhà thơ Quách Thoại
Kỳ 39:

Q U Á C H   T H O Ạ I



Quách Thoại tên thật là Đoàn Thoại, sinh năm 1930 tại Huế, là em ruột của nhà văn Lý Hoàng Phong (tên thật Đoàn Tường). Ông mê thơ từ thuở nhỏ, khi đi học đã đọc và thích thơ Tagore.
Năm 1948, Quách Thoại vào Sài Gòn viết báo, làm thơ, cọng tác với báo Đoàn kết, Làm dân. Từ 1949 đến 1950, ông làm Tổng thư ký tuần báo Nguồn sống. Giữa thập niên 1950, ông viết cho nhiều báo, tiêu biểu như: Người Việt, Sáng tạo, Việt chính, Thế kỉ hai mươi… Đây cũng là thời kỳ sung mãn nhất của thơ ông, nhiều bài xuất hiện trên báo gây chú ý cho người đọc và thi đàn. Thơ ông có khuynh hướng riêng, thể hiện một tâm hồn tươi trẻ cuồng nhiệt nhưng cũng không ít u ẩn, đau buồn. Yêu thương cũng là đỉnh, khổ lụy cũng là đỉnh, thơ ông luôn là ngọn sóng của trái tim. Ta lạnh mình cứ một vẻ trâm anh. Em sâu kín giữa đôi đường mũi nhỏ. Em nở nhuỵ giữa đôi môi hồng đỏ… (Em).
Mang một tâm hồn phóng khoáng, đối với Quách Thoại không có sự ràng buộc, tự do và sáng tạo, tình yêu và vĩnh cửu, đỉnh cao và hố thẳm… là khát vọng thánh thiện của mỗi con người. Cả cuộc đời không lẽ chỉ trò chơi. Ôi! ma quỷ và thánh thần lẫn lộn. Sáng hôm nay chiều hoang sơ hỗn độn… (Chiều tận thế). Ngưỡng vọng cái đẹp, mê đắm cái đẹp, nhưng rồi cũng sợ cái đẹp tan biến đi trong cõi đời trần trụi và phù du, là tâm trạng của nhiều nhà thơ, và Quách Thoại cũng không ngoại lệ. Cớ sao trăng sáng ngoài kia nhỉ. Làm động tình tôi giữa buổi đêm. Tôi nhắm mắt nằm không dám nghĩ. Sợ nhìn trăng lạnh rớt bên thềm… (Trăng thiếu phụ). 
Trong dòng thơ hiện thực, Quách Thoại là một dòng chảy tiếp nối những tài hoa như Hàn Mặc Tử, Phạm Hầu… và cũng bạc mệnh… Ông bị nghiện rượu, thuốc phiện và vướng vào căn bệnh lao phổi. Bấy giờ bệnh lao là bệnh hiểm nghèo, không chữa trị được. Ông được đưa vào bệnh viện Hồng Bàng (Sài Gòn) trong cô đơn, lạnh lẽo, không ai chăm sóc. Trong khi ông còn rất yêu đời, khao khát cuộc sống, nên thường trốn viện đi lang thang ngoài đường. Cuộc đời dang dở đối với ông là một sự tiếc nuối: Ðã biết bao lần tôi tự nhủ. Rằng cho tôi chết giữa âm u… Tôi biết đời tôi e hấp hối. Mà trăng thì sáng tận trên đồi… (Trăng thiếu phụ). Loài người nay trần truồng không Thượng Đế. Dắt nhau đi trong tiến bộ diệu kỳ (Chiều tận thế).

                                                 Nhà thơ Quách Thoại qua nét vẽ của Đinh Cường

Quách Thoại qua đời cô độc trong bệnh viện ngày 7 tháng 11 năm 1957, y như một số câu thơ ông đã viết trước đó. Những câu thơ tiên tri về cái chết bi thương của mình từ một nhà thơ trẻ đã làm xúc động biết bao người. Lỡ một mai tôi chết trần truồng không cơm áo. Thì hồn tôi xin phảng phất chốn trăng sao (Sáng tạo). Ta chết nằm liêu vắng. Không bóng người đi qua (Liêu vắng). Ôi sự sống nơi đây thật vô lường. Và tình thương thật vô lượng. Sài Gòn ơi. Có ai úp mặt chết giờ này trong bệnh viện (Đường tự do).

                                                  Quách Thoại bên cầu Trường Tiền (Huế)

Quách Thoại ra đi để lại 3 tập thơ. Thi phẩm đầu tay Giữa lòng cuộc đời được xuất bản tại Sài Gòn vào tháng 6 năm 1963, sau sáu năm ông từ giã cõi đời. Còn lại 2 tập chưa xuất bản là Những bài thơ tình đầu tiên và Cờ dân chủ.
Tôi yêu sự trong sáng, lạc quan, đam mê, mơ mộng, thiết tha, lãng mạn… của Quách Thoại: Nghe sống lại trong hồn ta ảm đạm. Một tình yêu thanh thoát quá diệu huyền. Ôi mắt em trời mơ mộng còn nguyên. Cho ta gởi mối tình ta trinh bạch. Cho ta hôn bàn chân em ngọc thạch… Nên xin giới thiệu cùng bạn bài thơ Như Băng trường tình của ông…

TRỊNH BỬU HOÀI



NHƯ BĂNG TRƯỜNG TÌNH

Ta ngạt thở bởi mùi hương xa vắng
Hương thiên đàng vừa thoảng bến trần gian
Ta đê mê cảm động đến mơ màng
Nghe mầu nhiệm thấm nhuần trong mến cảm
Nghe sống lại trong hồn ta ảm đạm
Một tình yêu thanh thoát quá diệu huyền
Ôi mắt em trời mơ mộng còn nguyên
Cho ta gởi mối tình ta trinh bạch
Cho ta hôn bàn chân em ngọc thạch
Dẫm trên đường khổ hạnh chốn tu hành
Ôi giáo đường nở kín đoá xuân xanh
Hoa cao quý tắm mình sương tuyết ngọc
Như Băng ơi vì sao ta thầm khóc
Nghĩ thương em hồn ngưỡng mộ Chúa trời
Ta xót đau nhìn hỗn loạn cuộc đời
Không dám tưởng giờ em đang cầu nguyện
Em có biết một cõi lòng đang xao xuyến
Nhớ thương em đứng đợi trước nhà chung
Ta yêu em yêu mến cả vô cùng
Thềm tôn giáo ta đặt hồn mơ ngủ
Giữa đêm nay đến đời sau vũ trụ
Trong tình em trong tim Chúa Jesus
Ta giật mình bóng tối vẫn mịt mù
Trăng nhợt nhạt và hồn ta thấy lạnh
Lời tụng niệm vang đưa từ cô quạnh
Ta lắng nghe hồn vẳng tiếng kinh em
Ta lắng nghe hồn vẳng tiếng chuông đêm
Lệ nóng chảy đau lòng kêu cứu Chúa
Như Băng Như Băng vì đâu mà lệ ứa
Ta khóc than nghĩ tủi phận đời ta
Một linh hồn lạc lõng giữa bao la
Một tình yêu chưa một chiều trao gởi
Tim cô đơn chưa một lần ấm sưởi 
Hoàng hôn về ta lạc giữa mù sương 
Nghe đêm xuống tưởng buồn như tận thế 
Ta rất nhỏ cảm thương sầu thế hệ
Lệ rất nhiều mà khóc chẳng ai lau
Ta một mình ôm tất cả đớn đau
Không dám nói bởi chưng rằng khó nói
Viết lời thơ thành lời kinh kêu gọi
Nào vơi chi sầu hận của nhân gian
Như Băng em xin ngó nẻo thiên đàng
Để nguy hiểm ta sống đời địa ngục
Ta chỉ sợ rồi đây nơi nhà phúc
Máu tai ương sẽ vấy tấm thân em
Lưỡi dao người sẽ xẻ gót chân sen
Em sẽ chết dập bàn tay ngà ngọc
Rồi ta khóc đến tan tành trí óc

Như Băng ơi nào em hiểu gì đâu
Đã từng đêm ta nguyện với ta cầu
Lòng tự hỏi vì đâu đời khổ luỵ
Bởi vì đâu hỡi loài hoa cao quý
Mà hương thơm còn mãi đến ngàn sau
Nở chi đây phô sắc thắm nhiệm mầu
Đất sắp sửa sẽ nức mình phun lửa
Như Băng em đau thương là thế ấy
Bởi yêu em mà khóc mấy cho vừa
Đây lệ tình ta em biết cho chưa
Xác hồn ta chết đau gần quá nửa
Như Băng Như Băng một chiều hoi hóp lửa
Là một chiều tận thế của tương lai
Biết chăng thôi đã chết cả hình hài
Thôi chết cả linh hồn đời nhân loại
Bao xây dựng đi về trong huỷ hoại
Bao văn minh hạnh phúc vẫn không thành
Bao đền đài cũng vẫn chỉ hư danh
Bao khoa học không giữ người giá trị
Bao cao thượng chỉ thành ra vị kỉ
Bao lợi quyền mà hoá vẫn tay không
Kìa điêu linh thì cứ đấy em trông
Xe hiện tại dẫn ngày mai xuống hố
Đời hi vọng mà vẫn tin tận số
Ô hô hô thôi mạt kiếp vận người
Mà Như Băng ôi hỡi môi em tươi
Mắt em ngó nhiệm mầu là biết mấy
Giữa tim em nguồn thiêng dào dạt dậy
Vầng trán em phảng phất bóng hư linh
Em hát đi cho ta hết giật mình
Em cầu nguyện để ta còn tin tưởng
Ta nhìn em qua niềm mơ ảo tưởng
Phủ màn sương mộng ảo xuống che em
Ta muốn lấy hoa kết lại thành rèm
Để vây phủ đời em trong cõi sống
Để nguyên vẹn ta nhìn em vững chống
Lái con thuyền tình ái đến sông trăng
Để tình ta còn đẹp tựa sông Hằng
Để Như Băng còn mãi thể Như Băng
Mà hôm nay ta khóc lạy than rằng
Xin chầm chậm hoàng hôn đừng vội lặn
Ôi đau thương loài người xin hữu hạn...

QUÁCH THOẠI
Read more…

NỬA THÁNG MỘT TÁC GIẢ VÀ MỘT BÀI THƠ HAY: PHẠM HẦU - Bài giới thiệu của Trịnh Bửu Hoài

                                                                      Nhà thơ Phạm Hầu


Kỳ 38:

P H Ạ M   H Ầ U


Phạm Hầu còn có tên là Phạm Hữu Hầu, sinh ngày 2 tháng 3 năm 1920 tại Gò Nổi, Trừng Giang, nay là thôn Hòa Giang, xã Điện Trung, thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam.
Sinh ra trong một gia đình khoa bảng, cha là tiến sĩ Phạm Liệu, trưởng nhóm Ngũ Phụng Tề Phi, đã kinh qua các chức quan cao như Tổng đốc Nghệ An, Thượng thư bộ Binh dưới các triều vua nhà Nguyễn: Thành Thái, Duy Tân, Khải Định, Bảo Đại. Mẹ là bà Lê Thị Giảng, người Thanh Hóa.
Phạm Hầu theo học trường Quốc học Huế, rồi trường Mỹ thuật Đông Dương ở Hà Nội. Ông bị bệnh động kinh nên phải ngưng học và vào điều trị ở bệnh viện Vôi tại Bắc Giang. Bệnh không thuyên giảm, người nhà đưa ông về quê nhưng khi tàu hỏa đến Đồng Hới, Quảng Bình thì ông qua đời. Đó là ngày 3 tháng 1 năm 1944, Phạm Hầu mới 24 tuổi.
Mất khi còn quá trẻ, cuộc đời và sự nghiệp của Phạm Hầu là sự dang dở. Học hành, công danh, nghệ thuật… đối với ông chỉ mới bắt đầu. Tuy nhiên, về mỹ thuật, ông kịp tham gia triển lãm hội họa quốc tế và được tặng thưởng tại Tokyo, Nhật Bản. Về thơ, ông để lại khoảng 20 bài, đăng rải rác trên các báo Bạn đường, Tao đàn, Mùa gặt mới… Năm 2001, nhà xuất bản Thanh Niên đã xuất bản tập thơ của ông Vẫy ngoài vô tận do Hoàng Minh Nhân sưu tầm và tập hợp. Quan điểm về nghệ thuật của ông khá tiến bộ và có trách nhiệm với xã hội: Cái quan niệm cho Nghệ thuật là một trò chơi không thể được nữa. Nhà nghệ sĩ không phải là một đứa trẻ vô tư trong trò chơi. Nghệ sĩ không thể không đau khổ, nhưng cái đau khổ ấy không phải là một thất vọng. Bởi đấy chính là một công việc giải phẫu mà nghệ sĩ phải chịu để cho ra đời một tác phẩm… 
Thơ ông trữ tình, lãng mạn, đắm say trong tình yêu nhưng không ủy mị. Đối với ông, xác thịt là cầu nối của xúc cảm để tạo thăng hoa cho tâm hồn: Tôi kề nàng môi chạy kiếm làn môi. Lời tôi lặn trên môi nàng rung động… Thơ ông tinh tế và có những liên tưởng vô cùng thú vị: Khi giọt sương âu yếm nhỏ lên người. Nàng và tôi là hai dòng lệ nối (Chiều buồn). Còn gì đẹp hơn thế nữa, dù đang hạnh phúc hay khổ đau, ông vẫn gieo những vần thơ thanh khiết.
Tuy mới vừa sang tuổi đôi mươi, Phạm Hầu là người biết sống hết mình, yêu cũng hết mình, tâm hồn ông khi đã rung thì động trên đỉnh cao nhất, nên tình cảm ông không có một giới hạn nào, làm cho thơ ông thanh thoát, nhạy cảm, đó là một dấu ấn tài hoa. Biết rằng vô ích nhưng tôi vẫn. Phung phí đời tôi mấy độ tươi (Lý tưởng). Tiếc rằng, tài năng ông đang trong thời kỳ phát tiết lại phải… bỏ cuộc. Thẫn thờ lá trúc rưng rưng lệ. Như mắt đa tình lúc tiễn đưa (Vọng lâu). Ôi buồn lắm, thương lắm… Phạm Hầu đã ra đi mãi mãi, nhưng tiếng lòng ông, thơ ông vẫn còn ở lại với mọi người. Nhiều người yêu mến thơ ông, chớ không chỉ là: Đưa tay ta vẫy ngoài vô tận. Chẳng biết xa lòng có những ai? (Vọng Hải đài). Chúng ta hãy đến với Phạm Hầu, một tài năng bạc mệnh qua những vần thơ bàng bạc nỗi lòng…

    TRỊNH BỬU HOÀI


C H I Ề U   B U Ồ N
Tôi đã dám cầu xin hai giọt lệ 
Trên mi nàng huyền bí vẻ say mê 
Cho điệu buồn man mác tự đâu về 
Đưa ngọn cỏ theo chiều mây lặng lẽ 

Cho tôi được nghiêng kề nàng thỏ thẻ 
Vì lời yêu rên siết ẩn trong tôi 
Chỉ khi buồn may mới thoáng qua thôi 
Mà hương lệ đó là trang sổ quý 

Buồn len lỏi trên đầu cây, thi vị 
Gieo lệ vàng trên ngấn nắng chiều trôi 
Tôi kề nàng môi chạy kiếm làn môi 
Lời tôi lặn trên môi nàng rung động 

Yêu đương đến tất cả chiều mơ mộng 
Buồn nhẹ nhàng trong làn khói thu không 
Buồn mơn man trên đầu tóc rối bòng 
Và vơ vẩn bên đôi người vô tội 

Nàng và tôi, nhánh sầu chung rễ cội 
Kề vai nhau khi lệ với chiều, rơi 
Khi giọt sương âu yếm nhỏ lên người 
Nàng và tôi là hai dòng lệ nối.
PHẠM HẦU
Read more…

NỬA THÁNG MỘT TÁC GIẢ VÀ MỘT BÀI THƠ HAY: XUÂN TÂM - Bài giới thiệu của Trịnh Bửu Hoài

                                                   Nhà thơ Xuân Tâm

Kỳ 37:

X U Â N   T Â M




Xuân Tâm tên thật là Phan Hạp, sinh ngày 1 tháng 1 năm 1916 tại làng Bảo An, xã Điện Quang, huyện Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam. Ông sinh ra và lớn lên trong một gia đình truyền thống hiếu học, con của cụ Phan Diêu, người có uy tín trong làng. Cụ Phan Diêu có ba con trai là Phan Lai, Phan Hạp, Phan Viên và một gái là Phan Thị Hồng Hạnh. Lo cho các con ăn học, cụ phải bán căn nhà và sào đất vườn ở Bảo An, Quảng Nam để đưa cả gia đình ra Huế, cất một ngôi nhà tranh bên vệ đường gần trường Quốc học và lãnh nấu cơm tháng cho học trò. Tiếc thay, vì hoàn cảnh nghèo nên sau khi học ở trường Chaigneau, Xuân Tâm được ra Quốc học Huế và đỗ bằng thành chung, nhưng vẫn phải nghỉ và tìm việc làm.
Ông xin làm thông phán ở Kho bạc Tourane tại Đà Nẵng. Trong thời kỳ nầy, ông có nhiều thơ đăng trên các báo, tạp chí như: Tân văn, Sông Hương, Bạn đường, Thanh niên, Phụ nữ Việt Nam, Văn, Đại đoàn kết…
Ông xuất bản tập thơ gây được tiếng vang trên văn đàn là Lời tim non, phát hành năm 1941, gồm những bài thơ ông viết từ khi chưa đầy 20 tuổi cho đến lúc in. Trong đó, có bài Nghỉ hè, đoạt giải nhất cuộc thi thơ của báo Bạn đường và được đưa vào sách giáo khoa tiểu học.
                                                  Nhà thơ Xuân Tâm thời trẻ


Tháng tám năm 1945, Xuân Tâm tham gia quân đội Cách mạng. Do có nghiệp vụ, một năm sau ông chuyển sang Ngân khố tỉnh Quảng Nam, rồi lên Giám đốc Sở Ngân khố Liên khu 5. Năm 1954, ông tập kết ra Bắc, làm việc ở Ban Kinh tế Chính phủ rồi Ủy ban Kế hoạch Nhà nước cho đến ngày nghỉ hưu.
Về hưu, ông có thời gian rảnh rỗi, thường họp mặt với các văn thi hữu, làm thơ và dịch thơ cộng tác với các báo ở Hà Nội. Cuối đời, ông sống ở phố Thụy Khê, quận Tây Hồ, Hà Nội. Do tuổi cao sức yếu, ông mất ngày 4 tháng 2 năm 2012.
Người ta biết đến Xuân Tâm chủ yếu qua tập thơ Lời tim non và các bài đăng trên báo, chưa rõ ông còn xuất bản tập nào nữa không. Thơ ông giản dị, hồn nhiên, gần gũi với tình cảm của thanh thiếu niên thời bấy giờ nên rất được giới trẻ yêu thích. Tả cảnh cũng như tả tình, những vần thơ nhẹ nhàng như ru của ông đã lay động biết bao tâm hồn đa cảm: Ánh nắng ngày thu đã tắt dần. Hàng tùng không bóng, rụng ngoài sân. Hồn đêm nhè nhẹ rung đôi cánh. Bao phủ làng xa đến xóm gần... (Chiều về).
Thơ tình của ông giản dị và thú vị, đúng với tâm trạng người đang nếm hương vị của tình yêu, sự truyền cảm và đồng cảm ấy giúp người ta dễ nhớ và yêu thích: Tôi đổi hai mai lấy một chiều. Để tìm trong ấy ít lời yêu. Ban ngày sáng quá, ban đêm tối. Tôi sợ, không mơ tưởng được nhiều (Lời tim non). Cho đến khi tan vỡ và buồn đau, thơ ông cũng len lỏi vào tận đáy lòng người đọc: Đêm nay trông thấy giường bên vắng. 
Có kẻ cô đơn khẽ gục đầu (Tiễn đưa).
                                               Vợ chồng nhà thơ Xuân Tâm

Tôi xin giới thiệu một bài thơ quen thuộc với người yêu thơ của Xuân Tâm, bài thơ hồn nhiên và tự nhiên nhưng luôn làm xao xuyến tâm hồn ta. Sung sướng quá, giờ cuối cùng đã hết. Ðoàn trai non hớn hở rủ nhau về. Chín mươi ngày nhảy nhót ở miền quê. Ôi tất cả mùa xuân trong mùa hạ!... Sau gần 80 năm ra đời, bài thơ vẫn nói lên tâm trạng của người hôm nay…

TRỊNH BỬU HOÀI


N G H Ỉ   H È

Sung sướng quá, giờ cuối cùng đã hết, 
Ðoàn trai non hớn hở rủ nhau về. 
Chín mươi ngày nhảy nhót ở miền quê, 
Ôi tất cả mùa xuân trong mùa hạ! 

Một tiếng nói, trăm tiếng cười rộn rã 
Lời trên môi, chen chúc nối nghìn câu 
Chờ đêm nay, sáng sớm bước lên tàu 
Ăn chẳng được, lòng nôn nao khó ngủ. 

Trong khoảnh khắc, sách bài là giấy cũ. 
Nhớ làm chi, thầy mẹ đợi, em trông. 
Trên đường làng huyết phượng nở thành bông, 
Và vườn rộng nhiều trái cây ngon ngọt. 

Kiểm soát kỹ có khi còn thiếu sót, 
Rương chật rồi, khó nhốt cả niềm vui. 
Tay bắt tay, hồn không chút bùi ngùi, 
Các bạn hỡi, trời mai đầy ánh sáng.

XUÂN TÂM
Read more…

NỬA THÁNG MỘT TÁC GIẢ VÀ MỘT BÀI THƠ HAY: HUYỀN KIÊU - Bài giới thiệu của Trịnh Bửu Hoài


Kỳ 36:

H U Y Ề N   K I Ê U



Huyền Kiêu tên thật là Bùi Lão Kiều. Bút hiệu Huyền Kiêu từ chữ Kiều mà ra. Ông sinh năm Ất Mão 1915 tại Hà Tây, sinh sống ở Hà Nội.
Ông làm thơ viết văn từ những năm đầu thập niên 40 thế kỉ 20, cọng tác với nhiều báo ở Hà Nội và sớm nổi tiếng trên văn đàn. Năm 1945, quân Pháp tái chiếm nước ta, ông ra chiến khu công tác ở Chi hội Văn nghệ Liên khu 3.
Năm 1954, Huyền Kiêu trở về Hà Nội, làm việc ở tạp chí Văn Nghệ của Hội Nhà văn Việt Nam, rồi qua Nhà xuất bản Văn Học, Hội liên hiệp Văn học nghệ thuật Việt Nam.
Sau ngày 30 tháng 4 năm 1975 thống nhất đất nước, ông vào miền Nam và định cư tại thành phố Hồ Chí Minh. Ông mất ngày 8 tháng 1 năm Ất Hợi 1995.
Huyền Kiêu để lại cho đời chỉ 3 tập thơ: Sang xuân, xuất bản năm 1960; Mùa cày, xuất bản năm 1965; Bầu trời, xuất bản năm 1976 và 1 tập trường ca, 1 tiểu thuyết dịch. Thơ ông giản dị, dễ hiểu nên dễ cảm và dễ nhớ, dễ lắng đọng trong lòng người yêu thơ thời bấy giờ.
Thơ Huyền Kiêu mang hơi hướm cổ phong nhưng có ý tưởng và kỹ thuật mới, thoát khỏi những sáo mòn nên tạo sự thú vị cho người đọc. Đi tìm nghĩa sự sống. Chỉ thấy hoài hư không (Mưa trên quán rượu). Trong bài Tương biệt dạ, vẫn là thể thơ thất ngôn, vẫn là những từ ngữ cũ, nhưng qua sự diễn đạt của ông hồn thơ được chuyển tải một cách bay bổng, làm rung động trái tim người đọc. Có những câu rất đơn sơ và nhẹ nhàng, nhưng nó cứ bàng bạc, man mác trong hồn người đồng cảm. Người xưa lưu luyến ra sao nhỉ? Có giống như mình lưu luyến chăng? Bài Tương biệt dạ ra đời vào một đêm thu bên hồ Tây, khi Huyền Kiêu cùng mấy người bạn văn là Đinh Hùng, Thạch Lam, Thế Lữ ngồi thả hồn theo trăng nước, và chính Thạch Lam đã khơi mào cho Huyền Kiêu hình thành bài thơ để đời nầy.
Kỳ nầy, tôi xin giới thiệu cùng bạn đọc một bài thơ gắn liền với tên tuổi Huyền Kiêu, được nhiều người biết đến. Hạ đỏ vẫn chàng tới hỏi. Em thơ, chị đẹp em đâu? Chị tôi hoa trắng cài đầu. Đi giặt tơ vàng bên suối… Lời thơ dịu dàng với những hình tượng đẹp, nhưng ẩn trong sự nhẹ nhàng là một nỗi buồn sâu thẳm. Chỉ 16 câu với 4 khổ thơ, Huyền Kiêu dẫn ta đi qua bốn mùa, từ cõi mênh mông hoa bướm của đất trời đến lòng huyệt mộ tối tăm của một đời người. Tài lắng đọng của ông làm ta phải suy gẫm về sự ngắn ngủi của một kiếp nhân sinh.
Năm 1973, nhà văn Viên Linh đã lấy câu thơ Hạ đỏ có chàng tới hỏi đặt tựa cho cuốn tiểu thuyết của mình do nhà xuất bản Khai Hóa ở Sài Gòn ấn hành. Nhạc sĩ Phạm Duy phổ nhạc bài thơ Tình sầu thành ca khúc Ngày xưa một chuyện tình buồn, nhạc sĩ Việt Dzũng cũng phổ nhạc bài thơ nầy với nhan đề Thu vàng có chàng tới hỏi. Ngày nay, khi nhắc đến Huyền Kiêu, người ta nhớ ngay Xuân hồng có chàng tới hỏi… Hạ đỏ vẫn chàng tới hỏi…

TRỊNH BỬU HOÀI


T Ì N H   S Ầ U
Xuân hồng có chàng tới hỏi
Em thơ, chị đẹp em đâu?
Chị tôi tóc xõa ngang đầu
Đi bắt bướm vàng ngoài nội

Hạ đỏ vẫn chàng tới hỏi
Em thơ, chị đẹp em đâu?
Chị tôi hoa trắng cài đầu
Đi giặt tơ vàng bên suối

Thu biếc cũng chàng tới hỏi
Em thơ, chị đẹp em đâu?
Chị tôi khăn trắng ngang đầu
Đi hát tình sầu trong núi

Đông xám lại chàng tới hỏi
Em thơ, chị đẹp em đâu?
Chị tôi hoa phủ đầy đầu
Đã ngủ trong lòng mộ tối.
HUYỀN KIÊU

Read more…

NỬA THÁNG MỘT TÁC GIẢ VÀ MỘT BÀI THƠ HAY: ĐOÀN PHÚ TỨ - Bài giới thiệu của Trịnh Bửu Hoài

                                                       Nhà thơ Đoàn Phú Tứ


Kỳ 35:

Đ O À N   P H Ú   T Ứ



Đoàn Phú Tứ sinh ngày 10 tháng 9 năm 1910 tại Hà Nội, nhưng nguyên quán ông ở xã Tân Lãng, huyện Lương Tài, tỉnh Bắc Ninh. Thời đi học, ông từng qua các trường: Bưởi, Albert Sarraut. Ông viết văn từ khi còn ngồi ở bậc tiểu học. Năm 1925, ông đã có những bài đầu tiên đăng ở Đông Pháp thời báo.
Ông thi đậu tú tài ban triết học vào năm 1932, nhưng ông lại vào đại học Luật. Học được 2 năm, ông nghỉ đi làm báo. Lúc nầy ông viết cho các báo: Phong Hóa, Ngày Nay, Hà Nội báo…
Từ năm 1935 đến 1945, ông viết kịch và cho xuất bản nhiều tập kịch, trong đó có vở nổi tiếng Hận Ly Tao. Ông còn thành lập ban kịch Tinh Hoa, làm đạo diễn và diễn viên trong nhiều vở.
Năm 1937, Đoàn Phú Tứ làm chủ nhiệm báo Tinh Hoa. Năm 1939, ông cùng với một số bạn bè thân thiết là các nhà văn, nhà thơ, nhạc sĩ, họa sĩ: Nguyễn Xuân Sanh, Nguyễn Lương Ngọc, Phạm Văn Hạnh, Nguyễn Xuân Khoát, Nguyễn Đỗ Cung thành lập nhóm Xuân Thu Nhã Tập. Nhóm cho xuất bản tuyển tập lấy tên Xuân Thu Nhã Tập vào năm 1942 gồm thơ, văn, triết học, tuyên ngôn nghệ thuật… gây tiếng vang trên văn đàn. Trong thời gian nầy, Đoàn Phú Tứ cũng nổi tiếng với bài thơ Màu thời gian.
                             Đoàn Phú Tứ qua nét vẽ Bùi Xuân Phái

Sau Cách mạng tháng Tám 1945, Đoàn Phú Tứ về Thanh Hóa rồi lên Việt Bắc, tiếp tục hoạt động văn nghệ. Ông là giảng viên trường Nghệ thuật liên khu 4, liên khu 5, rồi cán bộ biên tập của báo Văn Nghệ, Ủy viên thường vụ Ban chấp hành Đoàn Sân khấu Việt Nam và Hội Văn hóa Việt Nam. Từ 1946 đến 1951 ông là đại biểu Quốc hội khóa I. Năm 1950, chính ông là người tố cáo tên tham nhũng Trần Dụ Châu, Cục trưởng cục Quân nhu, vừa tổ chức đám cưới linh đình cho con và còn bảo ông làm thơ ca ngợi. Ông đã đọc giữa tiệc cưới hai câu thơ: Bữa tiệc chúng ta sắp chén đẫy hôm nay. Được dọn bằng xương máu của chiến sĩ. Trần Dụ Châu quát mắng ông và tên cận vệ đã nhào đến tát tai ông. Sau đó đại tá Trần Dụ Châu bị thanh tra và xử tử hình. Đoàn Phú Tứ nổi tiếng là một nhà thơ dũng cảm.
Từ năm 1951 đến 1954, Đoàn Phú Tứ giảng dạy tại trường Đại học Văn khoa và một số trường tư thục ở Hà Nội. Sau 1954, ông tiếp tục viết và dịch sách với bút hiệu Tuấn Đô.
Đoàn Phú Tứ lâm trọng bệnh trong cảnh nghèo túng và mất ngày 20 tháng 9 năm 1989 tại khu An Dương, Ba Đình, Hà Nội. Người bạn thân là nhà văn Phùng Quán đã bạo gan viết giả thư ông đến văn phòng Quốc hội xin tiền mai táng và được trợ cấp, đồng thời văn phòng Quốc hội cử người mang vòng hoa trang trọng đến kính viếng nhà thơ. Hiện nay ở thành phố Đà Nẵng và thành phố Hồ Chí Minh có đường mang tên ông.
Đoàn Phú Tứ xuất bản gần mười tác phẩm nhưng đa số là kịch, cùng một số sách dịch là kịch và tiểu thuyết. Ông làm thơ không nhiều, chỉ vài bài nhưng hầu hết thơ ông đều gây ấn tượng cho người đọc. Mải miết đường đời đã bấy lâu. Biếng nhìn trăng cũ muốn quên sầu. Đêm nay bỗng thấy bên song ngõ. Một ánh xanh mờ thoáng tự đâu (Ánh trăng). Một chút cổ phong lồng trong những vần điệu mới làm cho thơ ông đậm chất thi vị và lãng mạn trong giai đoạn giao thoa giữa thơ cũ và thơ mới thời bấy giờ. Thơ ông giản dị, đôi chỗ dùng điển tích, tạo nên sự sâu lắng thâm trầm khiến người đọc phải suy gẫm và vụt cảm một cách thích thú. Tóc mây một món chiếc dao vàng. Nghìn trùng e lệ phụng quân vương. Trăm năm tình cũ lìa không hận. Thà nép mày hoa thiếp phụ chàng… (Màu thời gian).
Bài thơ Màu thời gian được nhạc sĩ Nguyễn Xuân Khoát phổ nhạc năm 1942 và Phạm Duy phổ thành ca khúc năm 1971, đến nay vẫn được nhiều người yêu thích. Xin giới thiệu cùng bạn đọc.

TRỊNH BỬU HOÀI

                                            Thủ bút Đoàn Phú Tứ


M À U   T H Ờ I   G I A N
Sớm nay tiếng chim thanh
Trong gió xanh
Dìu vương hương ấm thoảng xuân tình

Ngàn xưa không lạnh nữa, Tần Phi
Ta lặng dâng nàng
Trời mây phảng phất nhuốm thời gian

Màu thời gian không xanh
Màu thời gian tím ngát
Hương thời gian không nồng
Hương thời gian thanh thanh

Tóc mây một món chiếc dao vàng
Nghìn trùng e lệ phụng quân vương
Trăm năm tình cũ lìa không hận
Thà nép mày hoa thiếp phụ chàng

Duyên trăm năm đứt đoạn
Tình muôn thuở còn hương
Hương thời gian thanh thanh
Màu thời gian tím ngát…
ĐOÀN PHÚ TỨ

Read more…

NỬA THÁNG MỘT TÁC GIẢ VÀ MỘT BÀI THƠ HAY: THÁI CAN - Bài giới thiệu của Trịnh Bửu Hoài


Kỳ 34:

T H Á I   C A N



Thái Can là tên thật, ông sinh ngày 22 tháng 10 năm 1910 tại làng Văn Lâm, huyện Đức Thọ, Hà Tĩnh. Tới tuổi đến trường, ban đầu ông học ở huyện nhà, sau lên trường Vinh ở Nghệ An, rồi trường Bưởi, trường Thuốc ở Hà Nội. Trường Thuốc bấy giờ là trường Y Dược Đông Dương.
Thời đi học, Thái Can đã làm thơ, lúc đầu ông ký bút hiệu Th. C. Ông cọng tác với các báo Phong Hóa, Hà Nội báo, Văn học tạp chí, Tiểu thuyết thứ bảy… Năm 1934, Ngân Sơn Tùng Thư ở Huế xuất bản cho ông tập thơ đầu tay là Những nét đan thanh. Đến năm 1938, Những nét đan thanh được ông bổ sung, viết tựa rồi cho tái bản. Năm 1995, Nhà xuất bản Văn Nghệ thành phố Hồ Chí Minh tái bản lần thứ hai với tựa đề Thơ Thái Can.
Thái Can lấy bằng bác sĩ y khoa vào năm 1940. Sau hiệp định Genève ông vào Nam và dừng chân ở Đà Nẵng, hành nghề y. Sau ngày hòa bình 1975, ông định cư ở Hoa Kỳ. Ông qua đời tại California ngày 22 tháng 4 năm 1998.
Sự nghiệp thi ca của Thái Can tuy không đồ sộ, ông chỉ để lại một tập thơ với hơn 30 bài, nhưng thi đàn Việt Nam phải công nhận ông là nhà thơ có tài. Thơ ông mượt mà, dễ cảm và tha thiết nên xoáy vào lòng người những nỗi khôn khuây. Tình yêu trong thơ ông rất bao la nhưng cũng rất gần với nhịp đập trái tim, nên được nhiều người đồng cảm. Những phận người đáng thương qua thơ ông trở thành khúc ca bi tráng, dù trong hoàn cảnh đen tối nào cũng hướng về cái đẹp. Sức mạnh của tình người, tình yêu sẽ giúp người ta vượt lên số kiếp để có một cuộc sống ý nghĩa: Em nên điểm phấn tô son lại. Ngạo với nhân gian một nụ cười (Cảnh đoạn trường).
Thơ tình Thái Can dạt dào, trong sáng, giản dị tưởng như rất đời thường, ai cũng có thể cảm và nghĩ, nhưng diễn đạt như ông không phải dễ. Nhẹ nhàng như chiếc lá nhưng nặng lắm nỗi lòng, phơn phớt như sương nhưng đọng mãi trong nắng vàng. Ta về nhặt lấy hoa thu rụng. Đặng giữ bên lòng nỗi nhớ thương (Chiều thu). Một dấu ấn trong tình yêu, một tâm sự thầm kín, được ông đưa vào thơ, tạo sự truyền cảm cho câu thơ một cách hồn nhiên, chân tình.
Người đọc thời ấy và kể cả ngày nay, rất yêu thích bài thơ Anh biết em đi của Thái Can. Bài thơ hơi hướm cổ phong nhưng tình cảm rất đầy, rất mới với những lập lại như điệp khúc, làm thổn thức lòng người: Anh biết em đi chẳng trở về. Dặm ngàn liễu khuất với sương che. Em đừng quay lại nhìn anh nữa: Anh biết em đi chẳng trở về… Bài thơ được nhạc sĩ Anh Bằng phổ nhạc và giai điệu trữ tình đã cùng với vần thơ lãng mạn hòa quyện nhau bay mãi…

TRỊNH BỬU HOÀI


ANH BIẾT EM ĐI
Anh biết em đi chẳng trở về, 
Dặm ngàn liễu khuất với sương che. 
Em đừng quay lại nhìn anh nữa: 
Anh biết em đi chẳng trở về. 

Em nhớ làm chi tiếng ái ân. 
Đàn xưa đã lỡ khúc dương cầm. 
Dây loan chẳng đượm tình âu yếm, 
Em nhớ làm chi tiếng ái ân. 

Bên gốc thông già ta lỡ ghi 
Tình ta âu yếm lúc xuân thì. 
Em nên xoá dấu thề non nước 
Bên gốc thông già ta lỡ ghi. 

Chẳng phải vì anh chẳng tại em: 
Hoa thu tàn tạ rụng bên thềm. 
Ái tình sớm nở chiều phai rụng: 
Chẳng phải vì anh chẳng tại em. 

Bể cạn, sao mờ, núi cũng tan, 
Tình kia sao giữ được muôn vàn... 
Em đừng nên giận tình phai lạt: 
Bể cạn, sao mờ, núi cũng tan. 

Anh biết em đi chẳng trở về 
Dặm ngàn liễu khuất với sương che. 
Em đừng quay lại nhìn anh nữa: 
Anh biết em đi chẳng trở về.
THÁI CAN
Read more…

NỬA THÁNG MỘT TÁC GIẢ VÀ MỘT BÀI THƠ HAY: ĐOÀN VĂN CỪ - Bài giới thiệu của Trịnh Bửu Hoài

                                                    Nhà thơ Đoàn Văn Cừ


Kỳ 33:




Đ O À N   V Ă N   C Ừ



Đoàn Văn Cừ sinh ngày 25 tháng 3 năm 1913, quê thôn Đô Đò, xã Nam Lợi, huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định. Ông sinh ra và lớn lên trong một gia đình nông dân, nhưng bất hạnh cho ông là cha mẹ mất sớm (mẹ mất năm ông mới 4 tuổi, cha mất khi ông 14 tuổi). Ông đang học trường Tây thì phải bỏ ngang và bà nội đón về nuôi. Từ đó, ông tự học và khi trưởng thành làm thầy giáo. Năm 1936 ông tham gia phong trào công nhân của nhà máy sợi Nam Định.

Gần nơi Đoàn Văn Cừ dạy học có cô gái rất mê thơ ông, đó là cô Nguyễn Thị Miều. Trước một thôn nữ đẹp người, đẹp nết, Đoàn Văn Cừ không thể không rung động và ông đã làm thơ tặng cô. Tuy nhiên, mối tình nầy không thành vì gia đình cô Miều chê ông mồ côi. Sau đó, hai người đều lập gia đình, nhưng chẳng bao lâu, vợ ông mất, bà Miều cũng rơi vào cảnh góa bụa. Năm 1942, hai người nối lại tình xưa. Ông bà có 5 người con, hai gái ba trai, sau nầy đều thành đạt.

                                  Bìa tác phẩm Đoàn Văn Cừ


Sau Cách mạng tháng 8, năm 1946, ông là đại biểu Hội đồng nhân dân tỉnh Nam Định. Năm 1948 ông tham gia mặt trận Việt Minh và trong kháng chiến ông làm công tác văn nghệ, phiên dịch, rồi địch vận liên khu 3.

Từ năm 1959, ông làm biên tập Nhà xuất bản Phổ Thông thuộc Bộ Văn hóa. Năm 1971 ông là  hội viên Hội Nhà văn Việt Nam, Ủy viên Ban chấp hành Hội Văn nghệ Hà Nam Ninh (hiện nay là ba tỉnh Hà Nam, Nam Định và Ninh Bình). Năm 1974 ông công tác ở Ủy ban Mặt trận Tổ quốc huyện Nam Ninh, tỉnh Hà Nam Ninh.

Những năm cuối đời, ông sống ẩn dật ở quê nhà và mất ngày 27 tháng 6 năm 2004.

Đoàn Văn Cừ là một trong những nhà thơ tham gia phong trào thơ mới và thơ ông có một phong cách riêng. Ông còn ký các bút hiệu Kẻ Sỹ, Cư sỹ Nam Hà, Cư sỹ Sông Ngọc. Ngoài thơ ông còn viết văn xuôi. Trong cuộc đời làm văn chương, ông để lại gần 10 tác phẩm đã xuất bản, gồm Thôn ca I (1944), Thơ lửa (1947), Việt Nam huy hoàng (1948), Quân dân Nam Định anh dũng chiến đấu (1953), Trần Hưng Đạo, anh hùng dân tộc (1958), Thôn ca II (1960), Dọc đường xuân (1979), Đường về quê mẹ (1987), Tuyển tập Đoàn Văn Cừ (1992). Ông có người con trai tiếp bước con đường nghệ thuật là họa sĩ Đoàn Văn Nguyên.

Thơ Đoàn Văn Cừ giản dị nhưng ngôn ngữ phong phú, giàu hình tượng, dễ hiểu và dễ cảm, nên cũng dễ đi vào lòng người. Thơ ông như một bức tranh quê sống động, được miêu tả và đặc tả rất công phu, tao nhã. Dải mây trắng đỏ dần trên đỉnh núi.
Sương hồng lam ôm ấp nóc nhà tranh. Trên con đường viền trắng mép đồi xanh. Người các ấp tưng bừng ra chợ tết… (Chợ tết). Chỉ với đoạn thơ nầy, người họa sĩ có thể vẽ nên một bức tranh quê tuyệt đẹp. Đó là đặc điểm thú vị của thơ Đoàn Văn Cừ. Một nhà thơ nhưng đã để lại cho đời những bức tranh tinh tế bằng ngôn ngữ thi ca. Hai người thôn gánh lợn chạy đi đầu. Con bò vàng ngộ nghĩnh đuổi theo sau. Sương trắng rỏ đầu cành như giọt sữa. Tia nắng tía nháy hoài trong ruộng lúa. Núi uốn mình trong chiếc áo the xanh. Đồi thoa son nằm dưới ánh bình minh… (Chợ tết). Nhờ những vần thơ nấy, ngày nay người ta mới hình dung được cảnh đi chợ tết của thời xưa và cảnh đồng quê yên bình, nên thơ dưới ánh nắng đầu ngày. Đoàn Văn Cừ chẳng những tả cảnh rất tài, mà sự tưởng tượng cũng phong phú, tạo nên những vần thơ ẩn dụ, liên tưởng rất thanh thoát và độc đáo: Sao trời từng chiếc rơi thành lệ. Sương khói bên đồng ủ bóng mơ… (Trăng hè).


                                Thủ bút nhà thơ Đoàn Văn Cừ


Đọc giả biết nhiều đến nhà thơ Đoàn Văn Cừ qua bài Chợ tết in trên báo Ngày nay, nhưng tôi muốn giới thiệu cùng bạn đọc một bài thơ khác của ông cũng hay không kém. Dưới bầu trời trong veo không mảy bụi. Giữa cánh đồng phơn phớt tựa màu nhung. Một cụ già râu tóc trắng như bông. Mặc áo đỏ, cầm hương đi trước đám… Đó là bài Đám cưới mùa xuân dưới đây… 


TRỊNH BỬU HOÀI



ĐÁM CƯỚI MÙA XUÂN


Ngày ửng hồng sau màn sương gấm mỏng, 
Nắng dát vàng trên bãi cỏ non xanh. 
Dịp cầu xa lồng bóng nước long lanh, 
Đàn cò trắng giăng hàng bay phấp phới. 

Trên cành cây, bỗng một con chim gọi 
Lũ người đi lí nhí một hàng đen 
Trên con đường cát trắng cỏ lam viền 
Họ thong thả tiến theo chiều gió thổi, 
Dưới bầu trời trong veo không mảy bụi, 
Giữa cánh đồng phơn phớt tựa màu nhung. 
Một cụ già râu tóc trắng như bông, 
Mặc áo đỏ, cầm hương đi trước đám. 
Dăm sáu cụ áo mền bông đỏ sẫm, 
Quần nâu hồng, chống gậy bước theo sau. 
Hàng ô đen thong thả tiến lên sau. 
Kế những chiếc mâm đồng che lụa đỏ. 
Bọn trai tơ mặt mày coi hớn hở, 
Quần lụa chùng, nón dứa áo sa huê. 
Một vài bà thanh lịch kiểu nhà quê, 
Đầu nón nghệ, tay cầm khăn mặt đỏ. 
Bà lão cúi lom khom bên cháu nhỏ, 
Túi đựng trầu chăm chăm giữ trong tay. 
Thằng bé em mẹ ẵm, má hây hây, 
Đầu cạo nhẵn, áo vàng, quần nâu sẫm. 
Cô bé để cút chè người xẫm mẫm, 
Đi theo bà váy lĩnh, dép quai cong. 
Một chị sen đầu đội chiếc khăn hồng, 
Đặt trên cái hòm da đen bóng lộng. 
Người cô dâu hôm nay coi choáng lộn. 
Vành khuyên vàng, áo mớ, nón quai thao. 
Các cô bạn bằng tuổi cũng xinh sao, 
Hai má thắm, ngây thơ nhìn trời biếc. 
Dăm bảy cô phủ mình trong những chiếc 
Áo đồng lầm, yếm đỏ, thắt lưng xanh. 

* 

Một lúc sau đi tới chỗ vòng quanh, 
Nếp chùa trắng in hình trên trời thắm, 
Thì cả bọn dần đần cùng khuất lẩn 
Sau trái đồi lấp lánh ánh sương ngân. 
Chỉ còn nghe văng vẳng tiếng chim xuân 
Ca ánh ỏi trên cành xanh tắm nắng. 

ĐOÀN VĂN CỪ

Read more…

CÁCH NHẬP COMMENT TRÊN HƯƠNG QUÊ NHÀ

Đầu tiên, nhấp chuột vào ô Nhập nhận xét của bạn rồi viết comment. Viết xong, nhấp chuột vào ô Tài khoản Google. Sau đó nhấp chuột vào Tên/URL thì sẽ hiện ra 2 ô. Ô phía trên, ghi Họ và tên của bạn. Ô phía dưới, ghi dòng chữ:huongquenha.com

Cuối cùng, nhấp chuột vào ô Tiếp tục và nhấp chuột tiếp vào ô Xuất bản là xong. (Nếu bạn đã có sẵn Tài khoản Google, thì sau khi viết comment, chỉ cần nhấp chuột vào ô Xuất bản là thành công)

Số lượt xem tháng trước


-------------------------------------------------------------------------


TÁC GIẢ & TÁC PHẨM
* TÁC GIẢ & TÁC PHẨM * TÁC GIẢ & TÁC PHẨM * TÁC GIẢ & TÁC PHẨM * TÁC GIẢ & TÁC PHẨM---------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------
Ái Nhân (21) Ambrose Bierce (1) ẢNH (58) Anh Ngọc (1) Anh Nguyên (1) Anh Phong (4) Anh Phương (10) âm nhạc (2) âm thanh (1) Ân Thiên (1) Bạch Diệp (5) Bạch Lan (1) Bách Mỵ (2) BÀN TRÒN VĂN NGHỆ (87) Bảo Hồ (1) Bảo Lâm (1) Bảo Ninh (2) Bé Hải Dân (1) Bích Ái (3) Bích Lê (4) Bích Ngọc (1) Bích Vân (2) Bình Địa Mộc (3) Bình Nguyên (1) Bình Nguyên Trang (2) binh pháp (1) Bình Tâm (1) Bobby Nam Giang (3) Bùi Anh Sắc (1) Bùi Công Thuấn (1) Bùi Danh Hải Phong (1) Bùi Đức Ánh (67) Bùi Hoài Vân (5) Bùi Huyền Tương (2) Bùi Hữu Phước (1) Bùi Nguyên Bằng (25) Bùi Nhựa (4) Bùi Văn Bồng (5) Bùi Việt Thắng (2) BÚT KÝ (17) Ca Dao (2) Cao Duy Thảo (1) Cao Kim Quy (1) Cao Thị Thu Hà (3) Cao Thọ Thêm (2) Cao Thoại Châu (1) Cao Thu Hà (1) Cao Trọng Quế (2) Cao Văn Tam (5) Cát Du (7) Catherine Mansfield (1) Cẩm Lệ (4) Cẩm Tú Cầu (1) Chàng Cát (1) Chánh Đức (1) CHÀO XUÂN 2014 (1) CHÂN DUNG VĂN NGHỆ SĨ (2) Châu Đoàn (1) Châu Quang Phước (1) Châu Thạch (9) Châu Thường Vinh (1) Chí Anh (1) Chính Đức (1) chủ (1) CHỦ BIÊN (156) Chu Giang Phong (1) Chu Lai (2) Chu Ngạn Thư (10) Chu Trầm Nguyên Minh (16) Chu Vương Miện (1) Chúa Sơn Lâm (1) Cỏ Dại (7) covid 19 (1) Công Nguyễn (1) Cơ Xương (1) Cúc Dương (1) Cuộc thi văn chương (1) CỬA SỔ VĂN HÓA (6) Cửu Hùng (3) Dạ Ngân (1) Dã Phong Bình (2) Dã Phương (1) Dạ Thảo (2) Dạ Thy (1) Diệp Linh (18) Diệp Uy (1) Dino Buzzati (3) DỌC ĐƯỜNG (29) Dòng sông đêm (1) DÒNG SÔNG YÊU THƯƠNG (1) Du Tử Lê (1) Dung Thị Vân (28) Duy Anh (1) Duy Bằng (1) Duy Phạm (10) Dương Diệu Minh (1) Dương Đăng Huệ (1) Dương Hải Yến (2) Dương Hằng (7) Dương Kim Nhi (4) Dương Kim Thoa (1) Dương Phương Vinh (1) Dương Thành Thái (3) Dương Thị Yến Trinh (2) Dương Xuân Triều (6) Dzạ Lữ Kiều (6) Đàm Lan (17) Đan Ngọc (2) đạo đức (2) Đào Hiền (2) Đào Hữu Thức (2) Đào Khương (2) Đào Minh Hiệp (2) Đào Phạm Thuỳ Trang (82) Đào Quang Bắc (1) Đào Quý Thạnh (1) Đào Thanh Hoà (14) Đào Thị Quý Thanh (1) Đào Thị Thu Hiền (3) Đào Văn Đạt (32) Đào Viết Bửu (7) Đặng Châu Long (1) Đặng Diệu Thoa (1) Đăng Đăng (1) Đăng Huỳnh (2) Đặng Quốc Khánh (8) Đặng Quý Địch (3) Đặng Tấn Tới (2) Đặng Thị Hoa (2) Đặng Thị Xuân (1) Đặng Toán (1) Đăng Trình (1) Đặng Tường Vy (3) Đặng Văn Sử (1) Đặng Việt Trinh (1) Đặng Xuân Xuyến (9) ĐIỂM BÁO (2) Điêu Thuyền (1) Đinh Lốc (2) Đình Thậm (2) Đinh Vương Khanh (4) Đoàn Khương Duy (1) Đoàn Thị Minh Hiệp (4) Đoàn Tình (3) Đoàn Tuyết Thu (1) Đoản văn (1) ĐỌC SÁCH (31) Đỗ Chiến Thắng (6) Đỗ Duy Hoàng (15) Đỗ Hồng Ngọc (5) Đỗ KIm Dung (1) Đỗ Phu (1) Đỗ Quyên (2) Đỗ Tâm Linh (1) Đỗ Tấn Đạt (2) Đỗ Thị Kim Hải (2) Đỗ Trúc Hàn (1) Đỗ Văn Tiến (1) Đỗ Xuân Phương (1) Đức Linh (1) Đức Tiên (3) Elena Pucillo Truong (6) gan jing world (1) Ghi chép (2) Giang Đình (8) Giang Hiền Sơn (6) Giáo dục (1) Guy de Maupassant (1) Hà Đoàn (2) Hạ Ly (1) Hà Nguyên (2) Hà Nhi (1) Hà Nhữ Uyên (2) Hà Phi Phượng (1) Hạ Thi (3) Hà Thị Thu Hằng (1) Hà Tùng Sơn (1) Hải Điểu (1) Hải Miên (3) Hải Phong (2) Hải Thăng (1) Hải Thuỵ (6) Hải Yến (2) Hàm Sơn (1) Hàn Dã Thảo (2) Hàn Du Tử (17) Hàn Hữu Yên (1) Hàn Lâm (1) Hãn Nguyên Nguyễn Nhã (1) Hàn Nguyệt (1) Hàn Phong Vũ (19) Hàn Tín (1) Hạng Vũ (1) Hậu Cốc Ngang (1) Hậu Đậu (1) Hiếu Dũng (1) Hoa Hướng Dương (1) Hoa Mai (2) Hoa Tím Buồn (4) Hoa Tuyết (2) Hoà Văn (10) Hoa Xuyến Chi (1) Hoài Huyền Thanh (53) Hoan Giang (1) Hoàng Anh (6) Hoàng Anh 79 (26) Hoàng Chẩm (53) Hoàng Chẫm (1) Hoàng Đình Quang (2) Hoàng Giao (4) Hoàng Hạ Miên (6) Hoàng Hữu (1) Hoàng Khánh Duy (5) Hoàng Kim (1) Hoàng Kim Chi (1) Hoàng Kim Oanh (2) Hoàng Linh (6) Hoàng Long (2) Hoàng Lộc (8) Hoàng Mẫn (1) Hoàng Minh Tường (2) Hoàng Nghĩa Lược (1) Hoàng Ngọc Xuân (4) Hoàng Nguyên (1) Hoàng Nguyên Phương (3) Hoàng Phủ Ngọc Tường (1) Hoàng Thảo Chi (1) Hoàng Thị Bích Hà (1) Hoàng Thị Nhã (8) Hoàng Thị Thu Thủy (2) Hoàng Thông (1) Hoàng Trang (1) Hoàng Trần (1) Hoàng Trọng Quý (9) Hoàng Trọng thắng (1) Hoàng Tuấn Sơn (1) Hoàng Tuyên (2) Hoàng Vũ Thuật (1) Hoàng Xuân Hiến (1) Hoàng Xuân Niên (1) Hồ Bích Ngọc (4) Hồ Bích Vân (2) Hồ Đắc Thiếu Anh (1) Hồ Hải (2) Hồ Lê Diêm (1) Hồ Nam (1) Hồ Ngọc Diệp (1) Hồ Nhật Quang (1) Hồ Sĩ Duy (1) Hồ Thanh Ngân (10) Hồ Thế Hà (2) Hồ Thế Phất (3) Hồ Thế Sinh (1) Hồ Tĩnh Tâm (1) Hồ Tịnh Thuỷ (21) Hồ Vũ Khánh Linh (1) Hồ Xuân Thu (3) Hội Nhà văn TP. HCM (1) Hồng Hạnh (5) Hồng Liễu (1) Hồng Phúc (8) Hồng Tâm (10) Huệ Triệu (3) HUMICHI (5) Hùng Phan (1) Huy Nguyên (15) Huy Vọng (17) Huy Vũ (1) Huyết Kiệt (1) Huỳnh Dạ Thảo (1) Huỳnh Gia (18) Huỳnh Kim Bửu (1) Huỳnh Minh Lệ (2) Huỳnh Ngọc Nga (1) Huỳnh Ngọc Phước (29) Huỳnh Như Phương (1) Huỳnh Tâm Hoài (1) Huỳnh Thanh Lan (1) Huỳnh Thị Quỳnh Nga (1) Huỳnh Thúy Thúy (1) Huỳnh Trang (1) Huỳnh Văn Diệu (1) Huỳnh Văn Mỹ (1) Huỳnh Văn Yên (1) Huỳnh Xuân Sơn (3) Hương Đêm (1) Hương Đình (4) Hương Quê Nhà (1) Hương Văn (6) Hửu Thỉnh (1) Irina Polianxkaia (1) James Dylan (4) James Joyce (1) Jeffrey Thai (9) Jerry Thu Trà (7) Kai Hoàng (1) Kate Chopin (1) Kha Tiệm Ly (4) Khả Xuân (1) Khán Võ (2) Khảo Mai (1) khoa học (1) Khổng Trường Chiến (3) Khổng Vĩnh Nguyên (1) Khuê Tú (1) KỊCH BẢN (1) Kiên Giang (1) Kiến Giang (12) Kiều Huệ (1) Kiều Lệ (1) Kim Chuông (4) Kim Dung (2) Kim Ngoan (15) Kim Quyên (1) Kim Sơn Giang (22) Kim Tiết (13) Kim Yến (1) Kỳ Nam (2) Ký sự (14) Lã Bố (1) La Hán (1) La Mai Thi Gia (1) Lạc Thảo (1) Lại Ngọc Thư (1) Lam Giang (3) Lan Anh (1) Lan Phương (1) Lan Thanh (1) Lãng Du (6) Lâm Bích Thuỷ (8) Lâm Cẩm Ái (3) Lâm Hạ (11) Lâm Huy Nhuận (1) Lâm Trúc (30) Lâm Xuân Vi (1) Lâu Văn Mua (1) Lê Ân (5) Lê Bá Duy (9) Lê Đình Danh (79) Lê Đức Hoàng Vân (1) Lê Đức Lang (13) Lê Giang Trần (1) Lệ Hằng (3) Lê Hoài Lương (4) Lê Hoàng (2) Lê Hợp (1) Lê Hứa Huyền Trân (39) Lê Khánh Luận (1) Lê Minh Chánh (1) Lê Minh Dung (2) Lê Minh Hải (4) Lê Minh Vũ (3) Lê Ngân (3) Lê Ngọc Phái (1) Lê Ngọc Trác (1) Lê Ngũ Nam Phong (11) Lê Nhựt Triết (8) Lê Phương Châu (30) Lê Quang Trạng (25) Lê Sa Long (2) Lê Thanh Hùng (34) Lê Thanh My (8) Lê Thấu (1) Lê Thị Cẩm Tú (6) Lê Thị Hồng Thắm (1) Lê Thị Kim (1) Lê Thị Ngọc Lệ (1) Lê Thị Ngọc Nữ (33) Lê Thị Thu Hiền (1) Lê Thị Xuyên (13) Lê Thiếu Nhơn (15) Lê Thống Nhất (6) Lê Thụy Phương (4) Lê Tiến Dũng (1) Lê Tiến Mợi (6) Lê Trọng Nghĩa (3) Lê Trung Hiếu (1) Lê Trung Tín (3) Lê Tuân (4) Lê Tuyền (1) Lê Uyên (1) Lê Văn Hiếu (12) Lê Văn Ngăn (3) Lê Vi Thuỷ (1) Lê Vinh (4) Lê Xuân Tiến (1) Lindsay Polak (1) Linh Lan (7) Linh Lan (Quảng Nam) (8) Linh Phương (3) Linh Thy (2) Lisa La (1) Long Khánh (4) Long Vương (1) luân hồi (1) Lữ Hồng (3) Lư Nhất Vũ (1) Lương Cẩm Quyên (1) Lương Duyên Thắng (3) Lương Đình Khoa (1) Lương Sơn (27) Lưu Ly (6) Lưu Quang Minh (15) Lưu Thành Tựu (1) Lưu Thị Mười (2) Lưu Xuân Cảnh (2) Lý Khánh Vinh (15) Lý Thành Long (1) Lý Thời Miễn (1) M.T.N.H (7) Mã Nhị Lan (1) Mạc Minh (2) Mạc Tố Hồng (1) Mạc Tường (2) Mai Đức Trung (6) Mai Hạnh (1) Mai Hoa (1) Mai Kiệm (1) Mai Loan (12) Mai Nhật (2) Mai Thanh (1) Mai Thị Vân (1) Mai Thìn (3) Mai Tuyết (37) Mang Viên Long (63) Marie Hải Miên (4) Mẫu Đơn (1) Mèo Con (1) Mi Thu (1) Miên Đức Thắng (2) Miên Linh (1) Minh Châu (2) Minh Đan (Lọ Lem Đất Võ) (6) Minh Nguyên (15) Minh Nguyễn (3) Minh Nguyệt (15) Minh Nguyệt (NT) (1) Minh Nhân Tông (1) Minh Phúc (2) Minh Vy (25) Mỗi tháng một tác giả và một bài thơ hay (2) Mộng Cầm (8) Mộng Nam (1) Mùa Xanh (3) Mưa (1) Mường Mán (1) MỸ THUẬT (6) My Tiên (1) Mỹ Vân (1) Nam Art (4) Nam Cao (1) Nam Thi (17) Năm Bửu (1) Nấm Độc (1) NCCGL (4) Ngàn Thương (33) Ngày Đẹp Tươi (1) nghệ thuật. (1) Nghĩa Trần (3) nghiên cứu (1) Ngọc Bút (8) Ngọc Diệp (35) Ngọc Sơn (1) Ngọc Thịnh (1) Ngọc Thủy (1) Ngô Càn Chiểu (1) Ngô Cự Chính (2) Ngô Diệp (6) Ngô Đình Hải (7) Ngô Hải (1) Ngô Hồng Nhung (1) Ngô Liêm Khoan (1) Ngô Minh Trãi (3) Ngô Nguyên Ngiễm (1) Ngô Thị Hoà (1) Ngô Thị Ngọc Diệp (11) Ngô Thuý Nga (30) Ngô Thúy Nga (16) Ngô Thy Học (7) Ngô Văn Cư (54) Ngô Văn Giảng (11) Ngô Văn Khanh (17) Ngô Viết Hòa (2) Nguyễn (1) Nguyễn An Bình (70) Nguyễn An Đình (4) Nguyễn Ánh 9 (1) Nguyễn Bá Nhân (1) Nguyễn Bích Sao Linh (1) Nguyễn Bình (1) Nguyễn Bính Hồng Cầu (2) Nguyên Cẩn (26) Nguyễn Châu (2) Nguyễn Chinh (4) Nguyễn Công Thụ (2) Nguyễn Công Tùng Chinh (1) Nguyễn Cử Tú Quỳnh (2) Nguyên Diệp (1) Nguyễn Dũng (1) Nguyễn Duy Khương (6) Nguyễn Duy Phương (1) Nguyễn Duy Thịnh (3) Nguyễn Đại Duẩn (2) Nguyễn Đặng Mừng (3) Nguyễn Đăng Thanh (20) Nguyễn Đăng Trình (4) Nguyễn Đình Bảng (1) Nguyễn Đình Trọng (1) Nguyễn Đoan Tuyết (25) Nguyễn Đồng Bội Thảo (1) Nguyễn Đức Chính (5) Nguyễn Đức Cơ (1) Nguyễn Đức Mậu (2) Nguyễn Đức Minh (6) Nguyễn Đức Minh Hùng (10) Nguyễn Đức Nhân (1) Nguyễn Đức Phú Thọ (26) Nguyễn Đức Quyền (4) Nguyễn Đức Tấn (6) Nguyễn Đức Tình (4) Nguyễn Gia Long (1) Nguyên Hạ (11) Nguyễn Hải Thảo (2) Nguyễn Hậu (2) Nguyễn Hiếu (8) Nguyễn Hiếu Học (2) Nguyễn Hòa Hiệp (2) Nguyễn Hoài Ân (1) Nguyễn Hoàng Thức (2) Nguyễn Hồng Diệu (1) Nguyễn Huệ (3) Nguyên Hùng (1) Nguyễn Huy (3) Nguyễn Huy (HD) (1) Nguyễn Huy Khôi (1) Nguyễn Huỳnh (1) Nguyễn Hữu Minh (1) Nguyễn Hữu Phú (1) Nguyễn Hữu Quý (2) Nguyễn Hữu Thuần (12) Nguyễn Hữu Trung (2) Nguyễn Khiêm (1) Nguyễn Khoa Đăng (51) Nguyễn Kiều Lam (2) Nguyễn Kiều Phương (3) Nguyễn Kim Hương (7) Nguyễn Kim Thịnh (1) Nguyễn Lam (2) Nguyễn Lương Vỵ (4) Nguyên Minh (1) Nguyễn Minh Dũng (46) Nguyễn Minh Hoà (1) Nguyễn Minh Khiêm (1) Nguyễn Minh Nguyệt (1) Nguyễn Minh Phúc (47) Nguyễn Minh Quang (5) Nguyễn Minh Thuận (9) Nguyễn Minh Toàn (1) Nguyễn Mỳ (1) Nguyễn Mỹ Nữ (3) Nguyễn Nga (14) Nguyễn Nghiêm (3) Nguyễn Ngọc Dũng (1) Nguyễn Ngọc Đặng (1) Nguyễn Ngọc Hà (4) Nguyễn Ngọc Hưng (6) Nguyễn Ngọc Minh Anh (1) Nguyễn Ngọc Thơ (31) Nguyễn Ngọc Tư (5) Nguyễn Nguy Anh (21) Nguyễn Nguyên Phượng (69) Nguyễn Nhật Hùng (4) Nguyễn Như Tuấn (14) Nguyễn Phin (30) Nguyên Phong (1) Nguyễn Phú Yên (8) Nguyễn Phượng (2) Nguyễn Phương Dung (2) Nguyễn Quang Quân (8) Nguyễn Quang Tâm (2) Nguyễn Quang Tuấn (1) Nguyễn Quân (2) Nguyễn Quốc Ái (1) Nguyễn Quốc Bảo (1) Nguyễn Quốc Đông (1) Nguyễn Quy (2) Nguyễn Sơn Hải (1) Nguyên Tâm (1) Nguyễn Tấn Thuyên (3) Nguyễn Thái An (3) Nguyễn Thái Dương (6) Nguyễn Thái Huy (35) Nguyễn Thành Công (48) Nguyễn Thành Giang (22) Nguyễn Thanh Hải (1) Nguyễn Thanh Huyền (8) Nguyễn Thanh Mừng (1) Nguyễn Thánh Ngã (1) Nguyễn Thành Nhân (18) Nguyễn Thanh Tuấn (7) Nguyễn Thanh Xuân (2) Nguyễn Thế Kiên (1) Nguyễn Thế Kỷ (1) Nguyễn Thị Ánh Huỳnh (2) Nguyễn Thị Bích Phượng (2) Nguyễn Thị Cẩm Thuỳ (3) Nguyễn Thị Chi (2) Nguyễn Thị Diệu Hiền (3) Nguyễn Thị Hải (1) Nguyễn Thị Hằng (8) Nguyễn Thị Hậu (1) Nguyễn Thị Hồng Đào (10) Nguyễn Thị Huệ (1) Nguyễn Thị Kim Huệ (2) Nguyễn Thị Mây (127) Nguyễn Thị Ngọc Hải (1) Nguyễn Thị Ngọc Sen (2) Nguyễn Thị Như Tâm (3) Nguyễn Thị Phụng (27) Nguyễn Thị Thanh Bình (6) Nguyễn Thị Thành Nhân (1) Nguyễn Thị Thanh Toàn (1) Nguyễn Thị Thanh Xuân (1) Nguyễn Thị Thu Ba (23) Nguyễn Thị Thu Hiền (1) Nguyễn Thị Thu Hoài (1) Nguyễn Thị Thu Thuý (3) Nguyễn Thị Thùy Linh (3) Nguyễn Thị Tiết (3) Nguyễn Thị Tuyết (1) Nguyễn Thị Việt Hà (39) Nguyễn Thị Xuân Hương (14) Nguyễn Thu Hằng (1) Nguyễn Thủy (4) Nguyễn Thúy Ngân (13) Nguyễn Thuý Quỳnh (2) Nguyễn Thường Kham (3) Nguyễn Thượng Trí (2) Nguyễn Tiến Đường (8) Nguyễn Trần (1) Nguyễn Trí Tài (40) Nguyễn Trọng Luân (2) Nguyễn Trung (1) Nguyễn Trung Nguyên (1) Nguyễn Tuyển (4) Nguyễn Văn Ân (68) Nguyễn Văn Bút (6) Nguyễn Văn Công (2) Nguyễn Văn Cường (CCK) (4) Nguyễn Văn Đông (1) Nguyễn Văn Hiến (5) Nguyễn Văn Hoà (5) Nguyễn Văn Hòa (4) Nguyễn Văn Học (56) Nguyễn Văn Ngọc (1) Nguyễn Văn Thanh (1) Nguyễn Văn Thành (1) Nguyễn Văn Thảo (17) Nguyễn Văn Toan (1) Nguyên Vi (1) Nguyễn Việt Hà (2) Nguyễn Vinh (1) Nguyễn Vĩnh Bình (3) Nguyễn Xuân Cảm (3) Nguyễn Xuân Dương (1) Nguyễn Xuân Khánh (1) Nguyễn Xuân Thuỷ (1) Nguyễn Xuân Thủy (1) Nguyễn Xuân Tư (3) Nguyệt Linh (5) Nguyệt Quế (1) Ngưng Thu (44) Nhã Ngọc (1) Nhã Thiên (7) nhà Thương (1) Nhân Hậu (2) NHÂN VẬT (1) Nhật Nguyệt Xuân Hương (1) Nhật Quang (17) Nhất Sinh (1) Nhật Vũ (1) Nhi Hạ (1) NHỚ THUỞ ẤU THƠ (37) Như Hoài (4) NHỮNG ÁNG VĂN HAY VỀ LÀNG QUÊ VIỆT NAM (7) NHỮNG NGƯỜI BẠN ĐÂT THỦ (6) NHỮNG NGƯỜI THỰC HIỆN HQN (5) Nông Quốc Lập (2) NP phan (1) Nửa Đời hư (1) NỬA THÁNG MỘT TÁC GIẢ VÀ MỘT BÀI THƠ HAY (37) nước (1) O. Henry (1) P.N. Thường Đoan (1) Pearl (1) Phạm Ánh (34) Phạm Anh Xuân (3) Phạm Bá Nhơn (2) Phạm Cao Hoàng (1) Phạm Đình Nghi (1) Phạm Đình Trung (1) Phạm Hổ (1) Phạm Hữu Hoàng (20) Phạm Kiều Hưng (1) Phạm Lâm (1) Phạm Lê Tường Vi (1) Phạm Minh Dũng (14) Phạm Minh Hiền (9) Phạm Minh Thuận (13) Phạm Mỹ (1) Phạm Ngân (3) Phạm Như Vân (1) Phạm Phan Hòa (1) Phạm Phương Lan (1) Phạm Quỳnh An (1) Phạm Thái Ba (4) Phạm Thị Hải Dương (9) Phạm Thị Liên (1) Phạm Thị Mỹ Liên (30) Phạm Thị Phương Thảo (3) Phạm Thuý (6) Phạm Trần Ái Linh (4) Phạm Trung Tín (2) Phạm Tuấn Vũ (29) Phạm Tử Văn (21) Phạm Văn Hải (5) Phạm Văn Phương (19) Phạm Văn Thạnh (1) Phạm Vũ (1) Phan Anh (12) Phan Cung Việt (1) Phan Đức Nam (1) Phan Hoài Thương (1) Phan Hoàng (2) Phan Huỳnh Điểu (1) Phan Hữu Lý (1) Phan Khanh (2) Phan Mai Thư Nhã (6) Phan Nam (20) Phan Quỳnh Như (1) Phan Sửu (1) Phan Tấn Lược (6) Phan Thanh Cương (2) Phan Thị Huỳnh Trang (2) Phan Tiên Phát (1) Phan Tình (1) Phan Trang Hy (25) Phan Văn Bình (1) Phan Văn Thạnh (1) Phan Văn Thuần (3) Phan Vĩnh (1) phần 1 (1) phần 2 (1) phần 3 (1) phần 4 (1) Phiêu Vân (1) Phong Dương (2) Phong Điệp (1) Phỏng vấn (8) Phú Ngọc (1) Phú Quang (3) Phú Xuân (8) Phùng Gia Lộc (1) Phùng Hiếu (10) Phùng Hiệu (1) Phùng Hoàng Chương (1) Phùng Phương Quý (7) Phụng Thiên (1) Phùng Văn Khai (1) Phước Vũ (1) Phương Phương (10) Phương Uy (5) Quan Thế Âm (1) Quảng Ngọc (1) Quảng Ngôn Lê Ngữ (1) Quang Thám (1) Quang Tuấn Dũng (9) Quốc Hùng (2) Quốc Tuyên (1) Quý Hòa (1) quy luật dịch (1) Quỳnh Lệ (1) Quỳnh Nga (16) Quỳnh Trâm (1) Rason Helmandollar (1) Raymond Carver (1) Raymond Thư (1) Rêu (Cao Hoàng Từ Đoan) (13) SÁCH BẠN VĂN (71) SARAH HALL (1) SINH NHẬT (1) Song Ninh (11) Sông Hương (11) Sông Lam (1) Sông Song (9) Sơn Thạch (1) Sơn Tịnh (2) Sơn Trần (15) Sruthi Thekkiam (1) Stephen Crane (1) T.T.Hiếu Thảo (22) Tạ Nghi Lễ (1) Tạ Thị Hoa (14) Tam quốc diễn nghĩa (4) TẢN VĂN (230) TẠP BÚT (626) Tạp chí Văn Mới (1) TẠP CHÍ VN BÌNH DƯƠNG (11) Tashi Dawa (1) Tâm Lãng (1) Tâm Nhiên (2) Tấn Hòa (1) Tần Khánh (4) Tân Vương Huy (1) TẬP SAN ÁO TRẮNG (39) Tập san Văn học nghệ thuật Hương Quê Nhà (1) Tây bá hầu Cơ Phát (1) Tây Du Ký (1) Tây Sơn bi hùng truyện (2) Thạch Anh (2) Thạch Cầu (1) Thạch Đà (7) Thạch Lam (1) Thạch Sene (5) Thái An Khánh (2) Thái Hoà (1) Thanh Bình Nguyên (27) Thành Dũng (1) Thanh Hải (1) Thanh Huyền (2) Thanh Lương (2) Thanh Minh (6) Thanh Phong (1) Thanh Sơn (1) Thanh Thảo (3) Thanh Trắc Nguyễn Văn (42) Thanh Tùng (7) Thành Văn (3) Thạnh Văn (1) Thanh Xuân (2) Thảo Nguyễn (1) Thâm Tâm (1) Thần Y (1) Thế Tuyên (3) Thi Ngọc Lan (1) Thiên Ân (1) Thiên Di (5) Thiên Sơn (1) Thiên Thần Áo Trắng (7) Thiên Tôn (10) Thiên Trần (1) Thiệp chúc mừng năm mới (4) Thiệp chúc Tết (3) Thiệp mừng (3) Thông báo (1) Thơ (3154) Thơ Lê Nhựt Triết (1) THƠ MỜI HOẠ (7) THƠ PHỔ NHẠC (165) Thời sự Văn nghệ (6) Thu Dung (3) Thu Hằng (1) Thu Hiền (1) Thu Hoài (1) Thu Nga (5) Thuận Thảo (8) Thuận Yến (1) Thục Minh (7) Thuỳ Anh (13) Thuỵ Du (1) Thụy Du (3) Thuỳ Dương (1) Thùy Dương (1) Thủy Điền (1) Thuỳ Nhân (1) Thư cảm ơn (1) Thư ngỏ (1) THƯ NGỎ CỦA HQN (2) Thư tin (285) THƯ VIỆN TÁC GIẢ (1) Tiểu luận (4) Tiểu Mục Đồng (1) Tiểu Nguyệt (5) Tiểu thuyết (107) Tiêu Tương (1) Tin buồn (2) TIN VĂN (2) Tịnh Bình (19) Tịnh Minh Tiến (2) Tô Hải (1) Tô Hồng Phương (1) Tô Kiều Ngân (1) Tố Mai (10) Tô Minh Yến (21) Tôn Nữ Hỷ Khương (2) Tôn Thất Út (2) Tôn Tư Mạc (1) Tống Ngọc Hân (1) Tống Xuân Tám (1) Trà Bình (4) TRABATHA (1) Trác Phi (1) Trang Linh (1) Trang Lộc (1) Trang Thơ Chào Xuân Mậu Tuất 2018 (1) TRANG THƠ CHỦ NHẬT (532) Trang Thơ Đón Xuân Đinh Dậu 2017 (1) TRANG THƠ ĐƯỜNG LUẬT (17) Tranh ảnh (3) Trầm Mặc (4) Trần Anh Dũng (1) Trần Bảo Định (4) Trần Băng Khuê (1) Trần Biên Thùy (1) Trần Dần (1) Trần Duy Đức (17) Trần Dzạ Lữ (4) Trần Định (1) Trần Đình Sử (2) Trần Đoàn Luận (1) Trần Đức ÁI (2) Trần Đức Hiển (1) Trần Đức Tín (1) Trần Hà Nam (4) Trần Hoàng Vy (2) Trần Hồng Vân (5) Trần Huiền Ân (2) Trần Huy Minh Phương (2) Trần Hữu Du (1) Trần Hữu Hội (17) Trần Kim Đức (5) Trần Kim Loan (2) Trần Kim Quy (1) Trần Lê Sơn Ý (2) Trần Linh Chi (1) Trần Long Thạch (1) Trần Lưu (1) Trần Mai Hường (11) Trần Mạnh Hảo (1) Trần Minh Nguyệt (16) Trần Năm (1) Trần Ngọc Hồ Trường (4) Trần Ngọc Mỹ (11) Trần Nguyên Hạnh (6) Trần Nhã My (2) Trần Như Luận (3) Trần Nhương (1) Trần Phù Nam (1) Trần Quang Dũng (4) Trần Quang Khanh (14) Trần Quang Lộc (1) Trần Quang Ngân (10) Trần Quốc Tiến (8) Trần Quốc Toàn (1) Trần Quốc Việt (1) Trần Tâm (7) Trần Thái Hưng (5) Trần Thanh Hải (3) Trần Thành Nghĩa (1) Trần Thế Nhân (13) Trần Thị Bích Thu (1) Trần Thi Ca (9) Trần Thị Cổ Tích (2) Trần Thị Huệ (1) Trần Thị Huyền Trang (3) Trần Thị Mai (1) Trần Thị Ngọc Hồng (1) Trần Thị Thanh (5) Trần Thị Thắng (1) Trần Thị Thương Thương (4) Trần Thị Trúc Hạ (1) Trần Thị Uyên (8) Trần Thiện (3) Trần Thiện Tuấn (1) Trần Thoại Nguyên (2) Trần Thuận (7) Trần Thúy Lành (6) Trần Thuỳ Trang (1) Trần Thư (1) Trần Thương Nhiều (1) Trần Trọng Hưng (2) Trần Trọng Tân (1) Trần Trọng Vũ (2) Trần Tuấn Anh (2) Trần Tuấn Thanh (10) Trần Vạn Giã (2) Trần Văn Bạn (16) Trần Văn Nhân (5) Trần Văn Thiên (1) Trần Việt (1) Trần Viết Dũng (11) Trần Võ Thành Văn (24) Triết học (2) Triều Âm (2) Triều Châu (1) Triều La Vỹ (2) Triệu Lam Châu (1) Triệu Từ Truyền (30) Trịnh Bửu Hoài (105) Trịnh Duy Sơn (2) Trịnh Hoài Linh (5) Trịnh Huy (4) Trịnh Thuỳ Mỹ (1) Trịnh Tuyên (1) Trịnh Viết Hiền (1) Trịnh Viết Hiệp (1) Trịnh Yến (2) Trọng Mật (3) trụ vương (1) Trúc Giang (4) Trúc Lập (1) Trúc Linh Lan (2) Trúc Thanh Tâm (12) Trúc Thuyên (3) trung quốc (1) Trung Trung Đỉnh (1) Trung Y (1) Truong Nguyen (1) Truyện dài (10) TRUYỆN DỊCH (17) Truyện ký (2) TRUYỆN NGẮN (1175) TRUYỆN VỪA (14) Trương Công Tưởng (16) Trương Diễm Phiến (1) Trương Đình Phượng (8) Trương Đình Tuấn (3) Trương Hồng Phúc (14) Trương Huỳnh Như Trân (2) Trương Lan Anh (1) Trương Nam Chi (5) Trương Thanh Cường (2) Trường Thắng (65) Trương Thị Thanh Tâm (22) Trương Thị Thúy (2) Trường Thịnh (6) Trương Tri (2) Trương Văn Dân (21) Trương Viết Hùng (1) TTM (1) Tuấn Nguyễn (7) Tuấn Quỳnh (3) Tuệ Mỹ (1) Tuti (2) Tuỳ bút (2) TÙY BÚT (120) Tuyết Nhung (2) Tuyết Vân (1) tứ đại mỹ nhân (1) Tường Vi (1) TX (1) Út Lãng Tử (1) Uyên Khuê (2) Uyên Minh (1) Uyển Phan (1) Vạn Lộc (1) Vành Khuyên (1) Văn (2487) Văn Công Mỹ (2) văn hóa truyền thống (5) Văn học nước ngoài (13) Văn Lưu (1) Văn Nguyên (1) Văn Nguyên Lương (7) Văn Nhược Ba (1) Văn Thạnh (2) Văn Thành Lê (1) Văn Thắng (23) Văn Trọng Hùng (1) Vân Đồn (3) Vân Giang (12) Vân Khanh (2) Vân Phi (32) Vân Tùng (2) Vi Ánh Ngọc (2) Vi Quốc Hiệp (1) Victor Remizov (1) VIDEO CLIP (2) Viễn Trình (25) Việt Quỳnh (1) Việt Trang (1) Việt Trương (1) Vĩnh Sơn (7) Vĩnh Thông (44) Vĩnh Tuy (22) Võ Bá Cường (1) Võ Chân Cửu (17) Võ Chí Nhất (3) Võ Công Liêm (1) Võ Diệu Thanh (18) Võ Dõng (1) Võ Đông Điền (4) Võ Hà (1) Võ Hạnh (2) Võ Mỹ Cát (1) Võ Ngọc Thọ (4) Võ Như Văn (3) Võ Thanh Mỹ (1) Võ Thị Nga (13) Võ Thị Thu Thủy (1) Võ Thuỵ Như Phương (15) Võ Văn Hoa (1) Võ Văn Luyến (1) Võ Xuân Phương (3) Vũ Bình Lục (1) vũ đạo (1) Vũ Đình Huy (9) Vũ Đình Liên (1) Vũ Đình Minh (1) Vũ Đình Nguyệt (2) Vũ Đình Thung (2) Vũ Đức Trọng (1) Vũ Hạ (1) Vũ Hạnh (3) Vũ Hùng (2) Vũ Miên Thảo (5) Vũ Thanh (1) Vũ Thành An (1) Vũ Thị Huyền Trang (115) Vũ Thụy Khuê (8) Vũ Trọng Quang (1) Vũ Trọng Tâm (2) Vũ Trọng Thanh (1) Vương Doãn (1) Vương Hạnh (1) Vương Hoài Uyên (4) Vương Tâm (3) Xanh Nguyên (4) Xuân Đài (1) Xuân Phong (6) Xuân Phương (1) Xuân Tiến (20) Ý Thu (3) Yên Kha (7) Ziken (2)
-------------------------------------------------------------------------
+ 817 TÁC GIẢ CÓ BÀI ĐĂNG TRÊN HƯƠNG QUÊ NHÀ
-------------------------------------------------------------------------