Ngày xưa ở nông thôn vùng đồng bằng Bắc Bộ, mỗi ngôi làng đều có vài chiếc giếng khơi, hoặc giếng đào dạng ao nước. Giếng được coi là trái tim của làng. Ở các huyện ngoại thành Hà Nội, chục năm qua do đô thị hóa, nhiều giếng đã bị lấp lấy chỗ xây nhà cửa. Nhiều giếng có số phận long đong, hoặc chỉ được gìn giữ khi nằm trong di tích, hoặc hộ gia đình yêu nếp sống cũ.
Mai một giếng làng
Trước đây xã Minh Tân (huyện Phú Xuyên) có hơn chục giếng làng. Ở thôn Thành Lập 1 có 2 giếng, thôn Kim Quy 4 giếng, thôn Bái Xuyên 6 giếng, tất cả là giếng dạng ao nước. Giếng nhỏ thì chừng 200m2, giếng lớn 350m2, lúc nào cũng trong xanh, cung cấp đa số nước sinh hoạt cho người dân. Chưa kể không ít dòng họ, gia đình có điều kiện đào cả giếng khơi, giếng xóm dùng riêng. Nhưng đến nay, cả xã chỉ còn một giếng nằm trong di tích đình Kim Quy. Thay vào chỗ những giếng nước xưa kia người dân vẫn gánh nước về dùng, thì nay mọc lên những ngôi nhà tầng. Ông Nguyễn Văn Báu, 85 tuổi, thôn Thành Lập 1 cho biết, giếng làng thể hiện nét đẹp làng quê, là nơi sinh hoạt rất thân thương nhưng giờ không còn nữa.
Là người đi làm ăn xa, trở về làng, ông Nguyễn Văn Mai tiếc nuối: “Ngày xưa ở bờ giếng thanh niên còn tụ tập, hát hò, tán tỉnh nhau rồi thành vợ thành chồng. Xung quanh đó có cây bồ kết, cúc tần và nhiều thứ cây làm thuốc, gội đầu. Nay chỉ thấy trơ trơ nhà bê tông cốt thép.
Thành Lập 1 hay Kim Quy, nhiều người già tiếc nuối giếng xưa nhưng lực bất tòng tâm. Người cứ sinh ra, thanh niên đến tuổi dựng vợ gả chồng cứ phải xây nhà. Tất cả giếng làng đã được phân lô, bán cho người có nhu cầu xây nhà, công trình. Năm 2005 người dân và chính quyền xã xôn xao vì lấp giếng, cho người dân đấu thầu. Chỉ những người nhiều tiền, có “tay trong” mới mua được những suất đẹp. Cũng bởi lẽ, chỉ có người sinh ra chứ đất không tự đẻ ra. Nên đâu chỉ giếng làng, nhiều kênh mương cũng bị lấp làm nhà cửa và các công trình phục vụ cho con người.
Cạnh Minh Tân là xã Tri Thủy, trước đây cũng có nhiều giếng được bố trí ở những vị trí thuận lợi nhưng đã bị lấp. Chỉ còn một giếng ở đầu làng Hoàng Nguyên, năm 2008 được cải tạo, kè bờ và rào cổng lại để khỏi bị gia súc xâm hại. Các xã Quang Lãng, Phúc Tiến… đến nay cũng không còn giếng làng nào. Ở cuối huyện Phú Xuyên, xã Phú Yên giữ được một giếng ở thôn Thượng Yên, được cải tạo, kè bờ, xây đường đi xung quanh và gắn biển rất khang trang. Ông Ngô Văn Hưng, Phó Chủ tịch UBND xã Phú Yên (huyện Phú Xuyên) cho biết: “Việc cải tạo giếng thôn Thượng Yên nằm trong kế hoạch xây dựng nông thôn mới ở địa phương. Việc giữ gìn giếng cũng như giữ lại mắt ngọc của xã”. Các cụ già trong thôn kể lại, từ nhiều năm qua nước giếng chỉ dùng để giặt giũ, rửa lá dong gói bánh, các bờ đất xung quanh bị sụt khiến giếng mất đẹp. Phải đến khi giếng được đầu tư hơn ba trăm triệu đồng, lập dự án xây dựng cải tạo nên thôn được nhờ. Hằng ngày một số bà con ra bờ giếng đi dạo, thể dục.
Đi thực tế ở nhiều ngôi làng tại các huyện Ứng Hòa, Đan Phượng, Quốc Oai, Thường Tín…chuyện gìn giữ những giếng nước đâu có đơn giản. Còn nhớ vào năm 2008, người dân làng cổ Hạ Mỗ, xã Hạ Mỗ (huyện Đan Phượng) đã phải đấu tranh để bảo vệ hai giếng cổ trong khuôn viên chùa Hải Giác (đã được công nhận là Di tích lịch sử - văn hóa cấp quốc gia năm 1991). Ngày đó do nhận thức hạn chế của cán bộ thôn nên hai giếng được cho đấu thầu để thả cả, các bô lão trong làng kiến nghị trả lại mặt nước giếng cho di tích. Sau nhiều cuộc họp được tổ chức, đơn thư được gửi lên UBND xã Hạ Mỗ, trích lục bản đồ được đưa ra để làm bằng chứng, trong đó ghi rõ “hai giếng cổ nằm trong khu vực bảo vệ cấp I của di tích”, từ đó giếng mới được trả lại cảnh sắc.
Kiến trúc sư Phạm Thanh Tùng, Chánh văn phòng Hội Kiến trúc sư Việt Nam chia sẻ: “Ở nhiều nơi, người ta không quan tâm đến giếng nước nữa, coi như sứ mệnh cung cấp nước cho làng đã xong. Nhưng nếu ở đâu người dân phải đấu tranh với những lời mời mọc, sự ngã giá bán đất đai, từ chối lấp giếng làm nhà thì nơi đó giếng nước được giữ lại. Nhiều làng mất rồi mới tiếc…”. Đồng quan điểm ấy nhà nghiên cứu văn hóa làng xã Phan Cẩm Thượng cho rằng, ở nhiều vùng quanh Hà Nội khu công nghiệp mọc lên. Người dân các nơi về thuê trọ, nhu cầu sử dụng đất đai tăng lên, những di tích có nguy cơ bị xâm hại, không ít giá trị cũ bị ảnh hưởng, mai một”.
Đi tìm hồn làng
Hiện nay không ít giếng nước còn giữ được thì nước cũng không còn được sử dụng, bởi người dân đã dùng nước mưa, nước máy. Quá trình xây dựng nông thôn mới đã giúp nhiều làng quê được “phủ sóng” nước sạch. Giếng nước thôn, làng được giữ lại như lại như để bảo lưu ký ức. Một số dùng để hóng mát, cho trẻ em tắm hoặc tạo cảnh quan như giếng làng Cựu, xã Vân Từ; giếng Miếu tại xã Hồng Minh; giếng chùa làng Phượng Vũ, xã Phượng Dực (huyện Phú Xuyên); giếng làng Cống Xuyên, xã Nghiêm Xuyên (huyện Thường Tín); giếng thôn Dược Thượng, xã Tiên Dược (Sóc Sơn); giếng làng Chuông (huyện Thanh Oai)…
Ở một số xã nước ngầm vẫn trong, người dân dùng nước giếng khơi và nhận thấy rằng, vào mùa hè dù đi nhiều nơi, tắm ở những khu bãi tắm đông đúc, vui nhộn, nhưng trở về tắm gội bằng nước giếng khơi vẫn có thú vị riêng. Như làng Yên Trường, xã Trường Yên (huyện Chương Mỹ), là một ngôi làng cổ đến nay còn giữ được nhiều ngôi nhà cổ, với những bức tường đá ong độc đáo. Hơn thế làng còn giữ được 9 giếng khơi cổ, không những là nơi người dân vẫn sử dụng nước để sinh hoạt. Tự hào về ngôi làng văn hóa lâu đời, cụ Trần Hữu Bùi, Thủ từ đình Yên Trường chia sẻ: Làng tự hào vì còn giữ được nhiều nét đẹp. Những cảnh đẹp của làng chính là đình cổ, tường đá ong, giếng cổ. Đình làng là điểm nhấn về lịch sử văn hóa của làng nên tọa lạc ở bãi đất cao, thờ đức Cao Sơn Quý Minh làm thành hoàng làng, nên lễ hội vào rằm tháng Hai âm lịch. Qua các cụ cao niên giới thiệu, tôi tìm đến nhà cụ Trịnh Nhân Kỳ, người đã kỳ công để gây dựng hệ thống cổng, hàng rào bằng cây ô-rô, có tuổi đời 27 năm. Nói đúng hơn, cụ Kỳ đã tạo nên một công trình nghệ thuật cây xanh kỳ vĩ, và hơn thế được kết hợp với nếp nhà cổ do gia đình ba thế hệ của cụ gìn giữ, phía trước là hồ nước của làng, đã trở thành một giá trị mà bất cứ ai đi qua cũng phải ngỡ ngàng. “Tôi đi nhiều nơi, thấy nhiều vùng quê phá mất mảng xanh. Thế nên tôi mới tỉ mẩn tạo nên cổng cây này. Đây không chỉ là giá trị của gia đình tôi nữa mà là giá trị, hồn cốt của cả làng. Đi quanh làng thì thấy nề nếp cũ còn giữ được nhiều. Đặc biệt là nếp sinh hoạt bên 9 giếng khơi cổ, mỗi giếng có một vẻ khác nhau. Trước đây, làng có tới 20 giếng. Nhưng nay còn 9. Thế cũng là vui rồi”.
Có lần về làng Yên Sở, xã Yên Sở (huyện Hoài Đức), các bô lão kể rằng trước đây làng có tới 73 giếng cổ, đến nay giữ được hơn 20 giếng. Mỗi giếng lại có một ngôi miếu nhỏ. Cụ Trần Xuân Bốn, người am hiểu lịch sử ở làng chia sẻ, để bảo vệ giếng, dân làng đã trích quỹ ra sửa sang, quây lại vào đan những phên thép đặt lên để tránh tai nạn đối với trẻ em. “Từ những năm qua, nhiều đoàn khảo sát, tìm hiểu văn hóa đã đến làng, nghiên cứu tại những chiếc giếng độc đáo này”, cụ Bốn tự hào.
Chia sẻ với các cụ già, rút ra được một điều là ở đâu quá trình đô thị hóa chậm, hoặc nơi đó là làng cổ, xóm cổ và người dân ý thức bảo vệ nề nếp xưa, thì những di tích được bảo vệ, trong đó có những giếng vẫn tồn tại cùng thời gian. Giếng làng là một phần không thể thiếu trong cấu trúc nông thôn xưa. Theo quan niệm dân gian giếng nước tượng trưng cho sức sống và sự dồi dào sung mãn của dân làng. Ở nhiều vùng quê người ta không nói “cây đa, bến nước, mái đình”, mà nói “cây đa, giếng nước, mái đình” khi nhắc đến biểu tượng của làng. Giếng quan trọng là vậy nhưng phận giếng đang long đong trong dòng chảy thời gian. Bởi thế theo không ít nhà nghiên cứu, Hà Nội cần có các phương pháp bảo vệ giếng như là bảo vệ một phần cấu trúc nông thôn ngoại thành Hà Nội. Điều đáng nói hiện nay trừ hệ thống giếng ở làng cổ Đường Lâm, còn các giếng thôn, làng khác chưa được đưa vào danh mục kiểm kê di tích, chưa được sự bảo vệ thỏa đáng của chính quyền.
N.V.H
Chiều muộn. Anh tắt máy xe từ ngoài đường, dắt xe vô sân rồi rón rén xách chiếc lồng chim chỉ to bằng thùng mì gói đi vô nhà. Thằng con 10 tuổi đang chơi lắp ráp trước thềm reo lên:
- A! Ba nuôi chim hả ba? Đã nhen! Con cũng thích nuôi chim! Ủa mà chim gì vậy ba?
Rồi như chợt nhớ ra điều quan trọng, nó nhóng xuống nhà sau rồi thì thầm “Nhưng mà mẹ nói, nhà này chỉ nuôi người thôi, nuôi chó nuôi mèo, nuôi gà, nuôi cái gì cũng chết với mẹ. Sao ba dám?”
Anh để tay lên môi ra dấu im lặng rồi ngoắc con cùng ra góc sân bé xíu bằng hai chiếc đệm, trên vuông đất đó có một gốc trứng cá và dây trầu bà đang leo quanh. Cành trứng cá mỏng và giòn nhưng cũng đc mắc vài chậu lan loe hoe mấy màu hoa trắng đỏ
- Đây là con sáo bò, bạn ba mới cho. Nó dễ nuôi lắm, con ăn gì nó ăn nấy hà! Mà đừng khoe mẹ nha. Để vài hôm mẹ nghe tiếng hót, mẹ sẽ mừng và thắc mắc, rồi cha con mình sẽ “lộ bài” là sáo nhà nuôi!
- Trời ơi ba khôn như thần vậy đó! Tại hạ bái phục!
Thằng con chắp tay làm ra vẻ như mấy kiếm sĩ trong phim cổ trang khiến hai cha con cười nắc nẻ. Rồi anh lấy trong cốp xe ra một bọc thức ăn nhuyễn như cám bảo rằng đó là thức ăn của chim sáo.
Thằng con lăn tăn:
- Ủa Bo nhớ trên ti vi nói chim sáo ăn cào cào mà ba? Đâu có ăn cám này? Rồi làm sao mình đi bắt cào cào cho nó ăn?
- Suỵt… đã bảo im lặng còn la làng lên! Mẹ biết được là sáo nhồng kéc cưỡng gì cũng vô nồi như gà nhé!
Hai cha con rụt cổ le lưỡi nhìn nhau. Thằng con luýnh quýnh trong im lặng chạy đi múc nước đổ cho sáo uống. Ba của nó nhẹ tay thay miếng lót đáy lồng rồi rắc vào thố thức ăn của sáo mớ cám vừa mua. Cả hai rón rén móc lồng sáo lên cành trứng cá rồi im lặng đi vô nhà.
Con sáo như hiểu được nỗi lòng của hai cha con nên cũng không dám hót dù thật sự cái đuôi của nó đã dài bằng một phần ba thân mình. Đôi chân nhanh nhảu của nó nhảy qua nhảy lại quanh lồng, cái lồng như chật hẹp so với nó. Anh ngắm nghía rồi phán “Cái lồng này hợp với Hoành Hoạch chứ không hợp với sáo rồi. Để coi coi…”.
Không phải chị không yêu động vật.
Nhà chỉ bốn mươi mét vuông mà hồi đó có hẳn một cái chuồng chó hết bốn mét vuông. Một con chó cỏ thôi, nhưng nó có màu lông vàng hực. Hôm đó đi ngoài đường, chị bị quẹt xe té và kẻ xấu còn lợi dụng cơ hội lấy chiếc túi xách của chị. Con chó bé nhỏ chẳng biết của ai đã sủa loạn xị và chạy theo cắn chiếc túi giành lại cho chị. Khi chị đứng lên được để dắt xe đi thì bỗng dưng con chó nhảy lên xe, đuổi mãi không chịu xuống. Hỏi mấy người chung quanh, không ai nhận là chó của mình. Vậy thì đành đem về nhà nuôi thôi.
Lúc đó cu Bo của chị bốn tuổi. Chị rất ngại nuôi chó mèo vì sợ ảnh hưởng sức khỏe trẻ em. Nhưng Tít (tên con chó) ngoan lắm, không bao giờ cắn dép giày, càng không nhảy lên bàn ghế giường ngủ. Ngày giữ nhà, hay xoắn đuôi ngoáy tít chào mừng chủ, mệt thì nằm gọn vào cái nhà catton mà ông chủ làm cho.
Vậy mà hơn năm sau thì nó cắn người ta đứt cả ngón tay. Bữa đó có khách đến nhà, chị vừa đi làm về, chiếc túi xách còn để trên bàn như thường ngày. Chị đi ra nhà sau và nghe tiếng chó sủa chạy lên thì túi rơi xuống đất văng tung tóe giấy tờ, tiền bạc, điện thoại…. Cậu thanh niên hàng xóm thì kêu la vì bị chó cắn đứt ngón tay!
Cậu bảo, gọi mãi chị không nghe nên tự mở cửa vào, vậy mà Tít nhào tới cắn, bằng chứng là máu tay cậu còn dính đỏ trên miệng Tít.
Vậy tại sao túi xách chị đổ rớt bung thùa? Chị hỏi. Cậu hàng xóm nói do con chó của chị nằm trên bàn rồi nhảy càng ra cắn khách nên túi xách rớt xuống.
Cũng có lý, nhưng rõ ràng túi xách chị kéo khóa kỹ lắm mà?
Nhưng chó của chị cắn người ta, thì phải đền tiền chích ngừa và vá ngón tay. Mất hơn hai triệu. Chị ức lắm, bèn bán Tít.
Sau, anh đem cặp gà che về nuôi vì “Giữa phố nghe tiếng gà cũng đỡ nhớ quê”. Ai dè chúng nhảy ổ thì nhảy hẳn lên… ban thờ phật Quan Âm làm bức tượng rơi xuống bể tan tành. Chị uất quá, bể đổ vầy tội chết! Gà vịt gì mà nhảy ổ ngu quá vậy?
Nhưng anh cãi, gà vịt làm gì có đầu óc như người, cứ thấy chỗ nào vắng vắng cao cao là làm ổ thôi, chúng còn tập tính gà rừng nên vậy mà. Lẽ nào em không mở lòng được với mấy con gà sao? Chị bảo, nhà nhỏ xíu, hết chó tới gà, lỡ chúng mang vi-rút cúm gia cầm gì đó lây cho cả nhà thì ai chịu trách nhiệm. Thôi thôi tội nghiệp giùm em đi chồng, em trăm thứ trăm lo, lỡ có bệnh đau gì từ cúm gà gây ra thì em cũng là người tốn tiền. Thôi thôi… tui nói rồi nhen, nhà này chỉ nuôi người thôi đó.
Chồng đuối lý. Thế là nấu cháo cặp gà.
Từ đó chị bảo, nhà này chỉ nuôi người thôi. Chó mèo gà vịt chỉ tổ làm phiền. Đó, đó con Tít anh nói nó ngoan, hại em mất mấy triệu “bắt đền” mà còn phải xin lỗi nọ kia. Còn cặp gà của anh đó, làm bể tượng phật, mất hết may mắn gia đình nên mấy tháng liền nên em không đạt doanh số, còn bệnh vặt hoài hoài nhớ không?
Anh im lặng, đạo vợ chồng của anh có hai chân lý, một là vợ luôn luôn đúng, hai là nếu vợ chưa đúng thì xem lại điều một. Cãi nhau chi cho mất vui gia đình. Nhưng niềm đam mê nuôi “một con gì đó” vẫn âm ỉ trong lòng anh. Thằng con mười tuổi cũng muốn “Nhà không có em bé thì nuôi con gì vui vui đi ba”. Vậy là khi người bạn tặng con sáo, anh nhận liền bằng ý niệm rằng nó nhỏ xíu vậy, chẳng chiếm không gian gia đình, không nhảy nhót đổ bể như gà, chẳng cắn người như chó. Nhưng vẫn ngại cái giọng hờn dỗi của vợ “Thôi thôi… tui nói rồi nhen, nhà này chỉ nuôi người thôi đó…”
***
Sáng chủ nhật, chị ngồi bên khung cửa sổ cùng ly trà hoa đậu biếc, nhìn mấy bông trà ung dung thả màu xanh từ trên miệng ly thẳng xuống màu nước tinh khiết đang bốc khói. Rồi hòa lẫn vào nhau thành màu tím mộng mơ thật đẹp làm sao. Nhà bếp, tiếng vá muỗng lanh canh rồi mùi cơm chiên tỏi bốc lên. Tiếng chồng nhắc thằng con xắt ớt vô chén nước tương ít thôi để mẹ con ăn được khiến không khí gia đình vô cùng vui vẻ.
Bỗng tiếng chim ở đâu hót một tràng ngắn và thô. Nhưng cũng đủ để để chị nhóng ra tìm. Lại một tràng tiếng hót. Chị chả biết chim gì nhưng nghe lòng vui vẻ đầy phấn chấn. Chị ới ra nhà sau:
- Anh ơi! Lên đây nhanh đi! Tiếng chim gì lạ lắm!
- Giữa phố làm gì có chim gì hả em?
- Có! Có thật mà! Em vừa nghe… hay lắm mà!
Chồng bưng mâm cơm chiên lên, hít hà mời bà chủ ăn sáng. Chị nằng nì:
- Khoan… khoan ăn… anh tìm trên cây trứng cá coi có tổ chim nào không?
- Nếu có thì sao? Chồng nheo mắt
- Thì để yên đó chứ sao! Em nghe nó hót hay hay!
Thằng con nhanh nhảu chảy ra gốc cây trứng cá, vén mấy cành lá lòa xòa lên và hét vang:
- Teng teng teng tèng… con chim gì đấy của mẹ đây! Giang hồ gọi là con sáo bò! Mẹ thích không?
Chị tròn xoe mắt! Trời ạ, con sáo nó hót mà chị cũng không nhận ra. Gốc nông dân của chị chạy đi đâu mất rồi? Hay vì bôn ba cơm áo với bao chật vật phố phường, chị đã quên bẵng tiếng quê hương?
Ngày đó… cái thuở lên 10 như con bây giờ, chị cũng được ba mình cho một con sáo để nuôi. Chị không biết nó là sáo gì, chỉ thấy lông nó màu xám nâu, cái mỏ nhỏ màu vàng xinh lắm. Chiếc lồng sáo tự tay ba chị làm từ những cành cây và cọng dừa quanh nhà nhưng to đẹp và rắn chắc vô cùng. Mỗi chiều, cô bé lên 10 đều ra đồng để bắt cào cào châu chấu cho sáo ăn.
Ngày đó… ở quê chị, đồng còn xanh um màu lúa ngút ngàn cả tầm mắt trẻ thơ. Rồi chị rình bắt mấy chú cào cào đang khoe áo váy trên mấy cây lúa. Chị đem về cho sáo ăn, cưng nó đến nỗi phải ngắt đôi con cào cào ra đút vào miệng sáo. Cái mỏ vàng ấy gắp con cào cào xong nhóng lên trời lắc lắc cái cổ nuốt ực rồi nheo nheo mắt nhìn cô chủ nhỏ. Chị xem con sáo như người bạn thân thiết, vì trò chơi con nít ở ruộng đồng ngày đó không có gì ngoài những con vật mình nuôi quanh nhà. Rồi lông con sáo từ từ phủ khắp mình, lông đuôi cũng bắt đầu ló ra thì có chuyện.
Bữa đó chị bỏ thức ăn cho sáo và quên cài cửa lồng do gấp đi học, nên một con rắn đã bò vào và con sáo trở thành miếng mồi ngon của nó. Tiếng kêu thảm thiết của con vật bé nhỏ đã vang đến tai ba chị, ông đang ngồi vót nan ở bậc thềm, nhìn lên lồng sáo, thấy con rắn màu đen khoan trắng đang cố há miệng nuốt chửng con vật cưng của con gái mình. Vậy là cái rựa vót nan trong tay ông đã vung lên, con vật không chân khoan đen khoan trắng ấy đứt làm đôi. Nửa mình nó nằm trong lồng không bò đi được, máu phun đỏ cả chiếc lồng. Nửa phần đuôi rớt phịch xuống đất đầy gớm ghiếc. Con sáo đã bị nó nuốt mất hai chân, ba chị kéo con vật bé hỏ ra khỏi miệng con rắn gian ác rồi cũng bó mấy bài thuốc rắn cắn nhưng chắc do con sáo không khỏe mạnh như con người nên nó cứ nằm im thiêm thiếp và chiều hôm đó thì không cữ động nữa.
Chị khóc suốt mấy ngày vì “thương con sáo”. Ba chị nói sẽ kiếm con khác cho gái cưng làm bạn, nhưng chị lại sợ “Có con rắn độc ác nào nữa” nên trong lòng chị mãi lưu giữ hình ảnh con sáo bé nhỏ ngày xưa.
Hơn hai mươi năm sau bỗng dưng lại con sáo hiện diện trong nhà. Chị bần thần quá đổi:
- Ờ mà… hai cha con giấu con sáo từ hồi nào đó?
- Thôi mà cưng, quan trọng là cưng vui khi nghe nó hót chứ truy xuất nguồn gốc xuất nhập cảnh chi nà! Chồng tếu táo.
Cu con xách lồng sáo đứng trước mặt chị. Ánh mắt trong veo của con vật cứ nghiêng nghiêng nhìn chị theo từng bước nhảy của đôi chân bé xíu của nó. Chiếc mỏ vàng rỉa rỉa lông mà đôi mắt cứ lấm lét nhìn chị. Rồi chiếc mỏ vàng lại chấm chấm vào chun nước, rồi quẹt quẹt lên mình nhưng đôi mắt vẫn như không rời gương mặt “khó nhằn” của bà chủ. Nó lại buông một tràng tiếng hót ngắn và thô nhưng cũng khá vui tai để nịnh bợ bà chủ nhà khó tính. Chị chợt mỉm cười khi nghe tiếng sáo, trong trí chị, lúc cu Bo mới học nói cũng nhứt một từng từ ngắn và thô đớt như con sáo này đang học hót vậy.
- Ờ mà… con sáo của hai cha con đã ăn sáng chưa? Chị không rời mắt khỏi lồng sáo.
- Ồ dze! Mẹ chịu nhà mình nuôi sáo rồi đó ba! Thằng con liếng thoắng.
- Sao con biết? Ba sợ nó sẽ toi mạng như chó như gà lắm. Anh giả đò rụt cổ.
- Mẹ hỏi nó ăn sáng chưa kìa! Là chấp nhận nó làm thành viên gia đình đó ba! Mau mau… con xúc cho sáo muỗng cơm nha ba?
- Không phải cơm, sáo ăn cào cào, sâu xanh chứ! Chị nói trong vô thức.
- A! Mẹ cũng biết sao ăn cào cào nữa kìa ba! Mau… đưa tiền Bo đi mua cho sáo bịch cào cào đi ba!
Anh mỉm cười bảo con ăn sáng “Rồi cha con mình sẽ cùng đi mua cào cào cho sáo”. Chị nói thêm “Thêm mấy trái chuối, trái thanh long nữa nhà chồng”. Anh cười như bí mật lắm, bởi thật ra mấy nay anh đã biết sáo ăn gì rồi mà.
Bây giờ gia đình chị vui lắm. Ai cũng thức sớm hơn một chút. Chị nấu thức ăn sáng, anh dọn vệ sinh lồng sáo, cho thức ăn, nước uống, trái cây vào lồng trong điệu nhạc môi vui vẻ. Thằng con chạy loanh quanh vừa mặc quần áo đi học vừa khen con sáo nay lông đã dài hơn hôm qua hay sao ấy! Ba nhìn đi, cái đầu nó hình như cũng bự lên, cái chân nó cũng to lên. Anh cười xòa “Nuôi sáo mà làm như trồng rau trồng cải vậy hà! Nó không mau lớn từng ngày vậy đâu nhóc ơi!”. Thằng con gãi đầu “Ơ… Bo thấy vậy mà”.
Bữa cơm chiều qua dưới gốc trứng cá để tránh sự oi nồng của bốn bức tường, chị thèn thẹn nói với chồng, hay là mua thêm vài con sáo nữa. Nghe nó hót, tập nó nói cho vui nhà vui cửa hơn. Anh cười cười “Nuôi thì dễ mà sợ nay mai nguời ta giận lên thì người ta bán hay đem nó nấu cháo thì tội nghiệp tui lắm”. Chị đấm thùm thụp vào ngực chồng, nói tại hồi đó “người ta” hồ đồ chút thôi. Giờ thì hết rồi, con sáo hồi xưa của “người ta” cũng dễ thuơng vậy mà…
Đ.P.T.T
Nhà thơ Ngưng Thu (Bình Thuận)
SÀI GÒN ĐÊM
Sài gòn đêm Giọt ưu tư rơi trên từng sợi nhớ Cung trầm bay gời gợi tiếng ngày xưa Ngừơi nghệ sỹ lang thang cùng thanh âm vòng vọng đêm đong đưa nhạc điệu nghìn trùng.
Sài gòn ưu tư trong nỗi nhớ khôn cùng Người thương binh trở về từ xưa cũ Năm tháng mòn vết đời lăn chưa đủ Mandolin buồn phủ dụ một màu quên.
Sài Gòn đêm dài độ lượng giữa bon chen Tiếng rao ai bán hàng nghe thảng thốt Tiếng chổi tre khua vào đêm mồn một Thanh âm đời là những bước chân quen.
Sài Gòn đêm về rưng rức nỗi nhớ em Người nghệ sĩ gõ nhịp buồn qua phố Sài Gòn ơi ta yêu ngừơi từ độ Đất nước - con người là một nỗi niềm thương
Sài Gòn bây giờ Cả một trời nhung nhớ vấn vương.
TIẾNG THƠ
Viết từ nơi có giấc mơ nguyệt khuyết những vần thơ dịu ngọt về người đàn ông ngang qua cuộc đời tôi hực hỡ một đêm rằm.
Viết từ đáy lòng vụn vỡ đã trăm năm những ngôn từ ấm nóng về những đứa bé thơ ngây bập bẹ tiếng loài người rụng nỗi vui buồn rực rỡ bóng tà dương.
Viết từ những rạ rơm, từ những con đường lời quê hương quặn thắt từng sợi khói chiều lam đậm in sâu đáy mắt lữ khách tha phương trĩu nặng bước đường đời.
Viết từ những đêm đen, từ ánh mặt trời dòng tâm tư khép kín về những vết xước từ ngàn năm tưởng chừng chết lịm rồi một chiều bất chợt hồi sinh.
Viết từ muôn trùng tiếng những sinh linh dưới tầng sâu cơn mê là những âm hồn trỗi cơn thống thiết viết từ hồi chuông ngân giữa trời thánh thót tay chắp, gối quỳ sám hối chuyện trần gian.
RỘN RÀNG TỪ TRĂM NĂM
Tưởng chừng mây trắng mãi bay Hạt mưa rớt từ xanh thẳm Tưởng như mùa đi xa lắm Xuân hồng mượt mát cỏ thơm.
Tưởng sông hoài chảy đau mòn Đá xưa đẫm lời rêu cũ Tưởng hoài trùng dương sóng phủ Biển bình yên cánh hải âu.
Tưởng còn trên phố nàng ngâu Nắng len qua từng kẻ lá Tưởng ve ủ sầu nhớ hạ Nằm nghe đất thở sau mùa.
Thôi đành thôi... những hơn thua Thôi đành thôi... đời khép kín Đêm mơ đất trời kết dính Sớm ra trời đất như là...
Tưởng rằng ta mãi là ta Vòng xoay xoáy tròn đăm đắm Chừng như cõi người rối rắm Rộn ràng từ đã trăm năm.
BỨC TRANH VẼ KÍ ỨC
Trên nền phố cũ kĩ tôi đi tìm tôi một nửa hồn thất lạc chỉ thấy bóng dáng những phận đời mất mát những ánh mắt đăm chiêu những nụ cười chai sạn chuối kí ức quét đi quét lại trên những bảng hiệu quảng cáo nghèo nàn âm vần bị rớt rơi. bên cánh rừng cô đơn khát chữ.
Tôi lướt qua tôi vô tình cơn gió nõn những khoảng trống đa đoan mang theo nhiều ẩn ức xanh cuối ngày góc phố thưa người không buồn ngó lại thanh xuân một thoáng chạnh lòng, giận dỗi bốn mùa trôi.
Trên bậc ruộng ngày xưa, mệt mỏi dáng cha ngồi những cánh đồng tuổi thơ trải đượm màu kí ức mẹ lội ngược nắng chiều gặt niềm vui nao nức xen lẫn lời ru thao thiết khúc đông tàn.
Thương những ngày thơ còn chỏm tóc khét trưa hoang nhờ gió mát đêm hè dìu giấc mơ ươm thổi mùi ngai ngái phân bò khiến lòng xa nhức nhối tôi chợt thấy em vui như bức vẽ ngày mùa văng vắt ánh xuân trong.
Góc phố giờ đây buồn hơn những cánh đồng tôi lạc mất em vào một ngày rêu hoang phủ kín trong bức vẽ phố quen tôi lặng nhìn tôi, một cái nhìn câm nín không còn ai ngoảnh lại chỗ tôi và... cùng nhau chờ những vui buồn đi tiếp lối hôm qua. N.T |
|
|
CÁCH NHẬP COMMENT TRÊN HƯƠNG QUÊ NHÀ
Đầu tiên, nhấp chuột vào ô Nhập nhận xét của bạn rồi viết comment. Viết xong, nhấp chuột vào ô Tài khoản Google. Sau đó nhấp chuột vào Tên/URL thì sẽ hiện ra 2 ô. Ô phía trên, ghi Họ và tên của bạn. Ô phía dưới, ghi dòng chữ:huongquenha.com
Cuối cùng, nhấp chuột vào ô Tiếp tục và nhấp chuột tiếp vào ô Xuất bản là xong. (Nếu bạn đã có sẵn Tài khoản Google, thì sau khi viết comment, chỉ cần nhấp chuột vào ô Xuất bản là thành công)