ĐƯỜNG VỀ
Chập chùng dã quỳ
Và nắng chông chênh
Tay trong tay dùng dằng hoàng hôn
Màu hoa nhắc buổi ta ngơ ngác
Vàng nhuộm chiều cao nguyên và em!
Để gập ghềnh nhớ
Đường xuôi
Lại về Nhơn An
Bừng rộn rịp sắc vàng mai cúc
Ta ngơ ngác dưới vòm hư thực
Màu nắng, màu hoa và mắt ngời lên!
Lấp loáng mồ hôi, thoăn thoắt tay mềm
Thuộc nết đất trời, dãi dầu nâng hứng
Bốn mùa trong dáng lấm
Vào xuân!
Trên mọi nẻo đường
Lại thấp thoáng gặp người
Trong sắc óng quê hương!
MƯA SÀI GÒN
Sài Gòn mưa
Sài Gòn hẹp lại
Nỗi nhớ xa giờ lại thật gần
Câu chuyện cũ dặn lòng khép mãi
Mưa Sài Gòn cứ mở lâm thâm!
Em tha hương cùng vết thương lòng
Trọ chốn xôn xao trọ vào sôi động
Sài Gòn tay rộng
Em nương xanh lại nụ cười
Vùi hóa thạch tận tầng sâu hình cũ.
Sài Gòn trêu liên miên chiều vần vũ
Phập phồng sầu nhớ bồng bềnh.
Mai Sài Gòn nắng lên
Em hong cho ráo buồn thương!
GHI Ở YANG NAM
Tặng bạn ở Yang Nam, Kong Chro, Gia lai
Ngày đến Yang Nam giữa hạ
Nắng rang quánh mặt mồ hôi
Thung lũng xoay trần lưng núi
Em gùi mình dốc chơi vơi.
Đêm gom bạn bè nhau lại
Mắt cười chuyện chảy về xuôi,
Nhơn Mỹ, Nhơn An, Nhơn Phúc,…
Cha về An Túc còn xanh.
Nắng đã lao lung đến vậy
Vào mưa thung lũng hẳn buồn?
Thương ai nửa hồn úng ngập
Ta khơi dòng phía quê hương!
Yang Nam nắng nung rát phận
Người nung cơn khát sinh tồn
Vãi chai sần xanh đậu bắp
Khẽ khàng đơm những mầm xuân.
LÊN NÚI
Bỗng dưng thèm lên núi
Lời cỏ cây gọi mời
Rửa tai nghe tiếng suối
Từ ruột rừng trong khơi.
Hú khỉ chim làm bạn
Gọi nai vàng đến chơi
Mắt một trời diệu vợi
Bỏ quên môi mắt người.
Nghiêng mình nghe chim hót
Giọng thổ, kim rộn ràng
Tự do vang từ ngực
Quên miệng lưỡi thau vàng.
Không ở đâu như núi
Trăng ngàn dát ngàn trăng
Đâu lẫn sương vào khói
Lá hai mặt một lời.
Ngày mai ta lên núi
Vứt mặt nạ cho người!
TẠ ƠN
Rừng xưa
Che nẻo hành quân
Mang bao thương tích trên từng cành cây.
Lắm khi giặc bủa, giặc vây
Đói ăn rau, sắn, lá cây, củ rừng,…
Nay người vì cuộc riêng chung
Đuổi rừng
Cho tới tận cùng lòng tham
Ta nâng niu
Gửi lên ngàn
Chút mầm xanh góp vô vàn tạ ơn!
L.V
Chiều nay không biết làm gì cho hết thì giờ, mẹ ngồi xem phim trên smart tivi một mình trong cô đơn. Chiều nay tôi cũng cảm thấy cô đơn nên ngồi xem chung với mẹ. Bộ phim được xem là phim “Tây du ký”. Phim này theo tôi biết, mẹ xem chí ít cũng đến lần thứ mười lần, lần nào mẹ cũng cười rất vui theo tình tiết, theo hành động của các nhân vật trong phim. Tiếng cười rất thoải mái, có khi vang lên ha hả. Chỉ là cười vui, trên bề mặt theo chuyến tây du.
Riêng tôi mới thấy đàng sau câu chuyện là cái gì. Thấy ý thâm sâu, cái nghĩa triết học của nó. Mặc dù thủa xa xưa, lúc tôi bước chân vào cuộc đời này, mẹ là người thầy đầu tiên của tôi. Ai cùng lứa ngoài 60 như tôi hẳn còn nhớ kiểu đánh vần – hay bị người lớn “chọc quê”: “a, bê, xê- dắt dê đi ỉa”, “a, ă, ớ- dắt dợ (vợ) đi chơi”. Mẹ bày tôi đọc theo quyển “Em học vần” của thập kỷ sáu mươi, mà bây giờ hơn sáu mươi năm tôi vẫn đọc thuộc lòng được, tỉ như: Ông xã xệ đi săn voi/ Ông ta ngồi trên tảng đá/ Bắn súng ra/ Đạn trúng ngà/ Voi ngã gục. Hoặc: Nhà em có có chó vàng/ Ngày thì sợ chuột đêm trèo mái tranh/Một hôm mèo nhảy lên mành/ Trời ơi mành đổ tan tành mâm cơm. Hoặc: Chuyện cô Bê- rét đi bán sữa. Là bài văn vần minh họa truyện của Lafontaine mà tôi nhớ đời, cô Bérette mơ màng đội rổ trứng trên đầu, tính toán tiền lời, say sưa, cô nhảy cẫng lên và rổ trứng tan tành. Từ thủa ngọng nghịu đọc những bài thuộc lòng, từ thủa run run viết những chữ do mẹ khai tâm, “vỡ lòng” cho tôi theo kiểu dân dã, nôm na như vậy đó mà nó đã theo tôi đến hơn sáu mươi mùa xuân rồi.
Và nếu so sánh một chút bằng hình ảnh thì phải nói, tôi đã đi lên cung trăng với trời kiến thức đông tây kim cổ của tôi. Còn mẹ cũng chỉ cứ vậy, từ ngày khởi đầu làm người thầy đầu tiên của tôi cho đến tận bây giờ trình độ văn hóa của mẹ vẫn không thêm không bớt. Hàng năm thống kê xã hội học vẫn xếp mẹ vào diện tái mù.
*
Tôi cũng đã xem phim, đọc truyện “Tây du ký” chắc cũng gần đến số chục. Tôi thấy nội hàm của Tây Du Ký vô cùng uyên thâm. Tôi đã đọc vào thời niên thiếu, đọc lúc trưởng thành, đọc khi về già đều thấy đó là một bộ thiên thư tinh thâm, cả đời người dẫu dày công nghiên cứu cũng khó có thể hiểu cho tỏ tường. Vậy nên, nói tôi hiểu về Tây Du Ký, thì thật sự xin thưa chẳng có mấy. Có điều phim “Tây du ký” gắn liền với kỷ niệm nhớ đời của tôi. Đó là những ngày của thập niên 90 thế kỷ trước, khi bà ngoại vợ của tôi qua đời. Vào những ngày cuối cùng phút hấp hối bà đang xem phim “Tây du ký”. Lúc ấy đài truyền hình đang chiếu phim này, rất hót, mỗi buổi chiều lúc 15 giờ cũng là lúc chợ búa, đường sá vắng tanh, vì mọi người ai nấy háo hức từng giờ từng phút theo dõi phim trên màn ảnh nhỏ. Ti vi đen trắng 21 inches được đưa vào phòng ngoại nằm để ngoại xem quên cơn đau và con cháu túc trực theo dõi từng diễn tiến trong chiều bế tắc của ngoại.
*
Phim “Tây du ký” có nhiều bản nhưng tôi chỉ thích xem phim do nữ đạo diễn Trung Quốc Dương Khiết đạo diễn, sản xuất năm 1986. Bề mặt là câu chuyện trừ yêu diệt quái, nhưng thật ra nội hàm chân chính của Tây Du Ký là con đường hàng phục ma tính của một người tu hành.
Thông qua câu chuyện thần thoại sang Tây Thiên thỉnh kinh, tác giả Ngô Thừa Ân đã dẫn dắt tôi cách khắc phục nội tâm trên con đường nhân sinh, hàng phục tâm ma, tiến tới thành tựu đời người. Cũng bởi vì tâm người luôn bay nhảy tự do như vậy, nên tư tưởng con người có thể qua lại giữa thiên đường và địa ngục, có thể dao động giữa thiện và ác. Cái tâm của người đời rất giỏi biến hóa, chỉ trong chốc lát có thể biến ra các loại tâm thái khác nhau. Luyện tâm có thể khiến lòng người sáng sủa, trí huệ sáng suốt, vậy nên lò Bát Quái không thể thiêu chết mà trái lại còn khiến Tôn Ngộ Không luyện thành hỏa nhãn kim tinh. Cân Đẩu Vân của Tôn Ngộ Không lộn nhào một cái là đi được 10 vạn 8 nghìn dặm, nhưng lại không thể nhảy ra khỏi lòng bàn tay của Phật Như Lai. Đó là nói, con người dẫu làm gì thì cũng không thể thoát khỏi bàn tay của Phật Tổ, của số phận.
*
Mỗi một yêu quái là đại biểu cho Danh — Lợi — Tình nơi thế gian đang trói buộc con người, hết thảy đều xuất phát từ ma tính của bản thân một người. Hồng Hài Nhi và Hỏa Diệm Sơn đều là ngọn lửa trong tâm. Vì cái tâm không chế ước ngọn lửa của bản thân, nên cuối cùng lại đốt cháy chính mình. Bảy con nhện tinh đại biểu cho thất tình lục dục của con người. Thất tình lục dục cũng giống như tấm lưới do nhện giăng lên, có thể trói chặt con người.
Người đời tư niệm sinh tình, bị tơ tình vây khốn. Trên thân của yêu tinh rết có nghìn con mắt, đó chính là tượng trưng cho các loại dục vọng vật chất mà mắt người thấy được. Bọ cạp tinh đại biểu cho mỹ sắc, mỹ sắc sẽ dẫn dụ người ta giống như con bọ cạp, vậy nên thầy trò Đường Tăng đều không địch nổi nó.
*
Sau cùng Phật Tổ cho nhóm thầy trò kinh không chữ, chính là vì kinh không chữ mới là Chân Kinh. “Kinh” trong vô tự kinh, là ý chỉ những việc đã trải qua. Những việc trải qua trên suốt chặng đường này mới là “Kinh” chân chính, vượt xa những văn tự nơi thế gian con người. Một người, sau khi trải qua hết thảy mọi việc nơi thế gian, mới có thể giữ được chân tâm, dù chưa đến Tây Thiên thì trong lòng sớm đã thành Phật rồi.
Thật ra Tây Du Ký chỉ là câu chuyện mượn lý do thỉnh kinh để giãi bày đạo lý làm người, dùng hư cấu văn chương để răn đe người đời tính thiện nhân và tu dưỡng tâm tính. Trong tôi bao giờ cũng đều có thể là một Đường Tăng. Đều là thể xác, có những điểm mạnh và điểm yếu, tuy có lúc kiên định nhưng cũng có lúc u mê nhu nhược.
Tâm tôi hiện diện cả năm thành phần, trong đó, Tôn Ngộ Không là tượng trưng cho cái tâm, Đường Tăng là thân thể, Trư Bát Giới là tình cảm và dục vọng, Sa hòa thượng là bản tính và Bạch Long Mã là ý chí của con người.
*
Nhân đây tôi nghĩ một chút về mẹ. Mẹ tôi năm nay 86 tuổi, sinh năm 1938, Mậu Dần. Canh cô mồ quả. Mẹ học rất ít, tôi biết dường như chỉ tốt nghiệp tiểu học. Xưa con nhà địa chủ lớn, quan niệm đàn bà con gái không được học nhiều, chủ yếu là lao động trong nhà. Sau này lớn lên đi theo chồng.
Tôi ảnh hưởng mẹ ở tính nhu mì, hết mình vì người, không kể người thân người sơ, không kể khó không kể khổ. Tôi khác mẹ ở chỗ, lớn lên, quan điểm, quan niệm về cuộc đời, nhân sinh quan, vũ trụ quan trước cuộc sống của tôi được mở rộng, được đào sâu. Còn mẹ thì vẫn vậy, thật thà, chất phác, hiền khô, chịu đựng, chờ ngày sang thế giới bên kia. Một đời tận tụy làm một bà nội trợ, một phụ nữ Á Đông đúng nghĩa, hy sinh bản thân cho chồng cho con.
Mẹ tuy ở gần chùa nhưng không được hưởng ánh đạo vàng của Phật, giống như cái tọa đăng, vầng sáng không chiếu đến chân đèn. Dù mẹ ăn chay một tháng hai lần, nhưng mẹ không có tâm linh, không có ông Phật ở chính giữa lòng mình. Nên mẹ mãi khổ đau, không nghĩ, không tin Phật giải thoát cho mình.
Còn tôi không đi chùa nhưng trong tôi có sự tỉnh thức, tôi biết tĩnh lặng hay không tĩnh lặng là ở nơi mình. Tôi không chao đảo trước thực tế đang tấn công, cố làm cho tôi muộn phiền.
N.P
PHỤ LỤC:
1. Tóm tắt những điều tôi học được từ “Tây du ký”
Đây là một cuộc thỉnh kinh vô tận của mỗi người trong chúng ta, và đường đi thỉnh kinh đó cũng chính là đường trở về với những giá trị tâm linh siêu thoát. Tôi thu nhận ở đây một nhân cách sống vì hạnh phúc an lạc của số đông, sống hiền thiện, vì công bằng, bình đẳng, tôn trọng sự thật, trách nhiệm cá nhân và đặc biệt là sống tùy duyên.
Thiện ác chỉ cách nhau một niệm, một niệm có thể thành Phật, nhưng một niệm cũng có thể biến thành tà ma. Khái quát mọi tâm niệm thân hành của con người, tượng trưng cho cái tâm lên trời xuống đất của con người là Kim — Mộc — Thủy — Hỏa — Thổ trong thế giới trần tục đè chặt. Núi Ngũ Hành cũng tượng trưng cho “tham (tham lam), sân (giận dữ), si (ngu si), mạn (ngạo mạn), nghi (hoài nghi)” trong Phật học. Dù Ngộ Không có thần thông quảng đại đến đâu, vẫn không nhảy ra khỏi 5 chữ này.
Chốt vấn đề, tôi hiểu ra, thầy trò Đường Tăng diệt trừ yêu quái trên suốt chặng đường sang Tây Thiên, thật ra chính là người tu hành đang trừ bỏ ma tính trên con đường nhân thế, do đó lấy kinh cũng chính là một quá trình dưỡng tính tu tâm.
*
2. Tôi chép ra 5 tính cách có trong tôi để luyện rèn, mong được bay vào cõi giải thoát.
a. Bạch Long Mã:
Ngựa thần là xác thân cương kiện. Con người đi tìm Chân lý, tìm Đạo, cần có xác thân vững vàng, khoẻ mạnh. Không có ngựa tốt thì Đường Tăng không tới được Lôi Âm. Người mà thể xác bệnh hoạn, tinh thần ươn hèn thì không quyết tâm chiến đấu để đạt tới Chân lý, đạt Đạo.
b. Sa Tăng:
Là tính cần cù, nhẫn nại. Sa Tăng phải nhọc nhằn gánh hành lý là lẽ ấy. Tề Thiên mấy bận giận Thầy, mấy phen đào nhiệm quay về Thủy Liêm động quê xưa; Bát Giới đã trăm lần ngàn lượt đòi chia của, rồi mạnh ai đường nấy. Chỉ riêng có Sa Tăng suốt cuộc hành trình vào yêu ra quỷ, một lòng một dạ quảy hành trang tiến tới. Không một lời thoái lui, không một lòng biến đổi. Sa Tăng là hình ảnh của tinh tiến, trì thủ, tâm bất thoái chuyển. Dù khó khăn đến đâu, đã quyết rồi, thì cứ đi tới.
c. Trư Bát Giới:
Là tính tham và dục, những tâm tính bản năng. Tham ăn, tham ngủ, tham của, tham sắc và tham nịnh nọt cho được lợi về mình. Khí giới của họ Trư vì thế phải bắt buộc là đinh ba, là cào cỏ, để mà vơ vào cho nhiều, cho vừa lòng tham dục. Bát Giới là sự tập hợp những bản năng rất vật dục và tầm thường nơi con người.
d. Tôn Ngộ Không:
Tượng trưng cho trí, lý trí. Lý trí phải dẫn dắt, phải soi đường cho hành động. Lý trí ưa nổi loạn, ngang tàng phách lối, chẳng chịu thua kém ai. Cho nên Tề Thiên coi mình to ngang với Trời (Tề Thiên: bằng Trời), và muốn lên trời xuống biển, quậy phá đều làm được tất, không chút đắn đo, chẳng hề ngần ngại. Đó là tượng trưng cho đầu óc duy lý của những người muốn phủ nhận Thượng đế.
Lý trí vì những "thuộc tính" như thế nên cần thiết phải được uốn nắn luôn luôn cho hợp với kỷ cương, khuôn phép. Tề Thiên bởi vậy mà phải đội kim cô. Khi về tới chùa Lôi Âm, thành Phật rồi, không cần cởi, vòng kim cô tự lúc nào đã biến mất. Giống như trẻ con mới đi học, tập viết phải có giấy kẻ hàng đôi, đến chừng lớn lên viết giỏi rồi, giấy chẳng vạch hàng kẻ ô vẫn dễ dàng viết ngay ngắn.
e. Đường Tăng:
Tượng trưng cho tình cảm con người: lòng từ bi, nhân hậu, bao dung, có quyết tâm tu hành vượt qua muôn vàn cám dỗ. Ngoài ra còn có tính phàm, u mê, nhu nhược, ba phải. Một trăm lần Tề Thiên cản: "Yêu ma đấy, chớ có cứu". Và đủ một trăm lần Đường Tăng cứ cứu, để rồi mắc nạn vương tai.
Đó là vì sự nhận thức của cảm tính không biết nghe theo tiếng gọi sáng suốt của lý trí. Đường Tăng cứ lặp đi lặp lại những sai lầm của mình và không có sai lầm nào giống sai lầm nào. Con người cũng thế, cứ đi từ sai lầm này đến sai lầm khác mà thôi, nếu không nghe theo lý trí, lương tâm mà chỉ biết chiều theo vọng tâm, tình cảm nhất thời.
Tâm Lãng
CẢM XUÂN MAI
Huỳnh Mai nụ mẩy lộc dồi dào
Đẹp sẵn mình không đụng kéo dao
Chữ Phúc treo vào gốc đỏ thắm
Dây đèn mắc đến ngọn hồng đào
Giao thừa rải rác chùm hoa nở
Rạng sáng tưng bừng đỉnh lá xao
Hoà nước góp phần sung sức nhựa
Họa vần Xuân cảm thốt câu CHÀO!
NIỀM VUI NHÀ GIÁO
Kính tặng quý thầy cô nhân ngày Nhà giáo Việt Nam 20/11
Nhà giáo bao đời đã vẫn đang
Trồng người qua tiết học giờ vàng
Dắt dìu thế hệ chăm từng đứa
Tu bổ chương trình soạn những trang
Nhìn nhận sửa sai thành mẫu mực
Ước mơ truyền đạt hướng chu toàn
Tâm tư gởi gắm vui đàn trẻ
Dóng dả trống trường mãi mãi vang.
TÌNH BẠN CÓ MEN
Đầu năm ngồi nhớ chuyện ngày xưa!
Chẳng biết ai người áp dụng chưa?
Nước giếng hai bầu quân lính ngỡ
Rượu ngon một mẻ huyện quan ưa
Bẩm lên cho gặp khi buồn vắng
Bưng đến uống mừng lúc nhặt thưa...
Tình bạn có men câu chuyện thắm
Tinh thần vật chất sánh sao vừa.
T.L
Nhà văn Mỹ O. Henry (1862 - 1910) tên thật là William Sydney Porter. O. Henry làm nhiều nghề, trong đó có nghề bán dược phẩm, thư ký nhà băng, người vẽ sơ đồ thiết kế. Ông từng sáng lập tờ báo hài Rolling Stone (1894 - 1895). O. Henry là nhà văn viết truyện ngắn nổi tiếng, với gần 400 truyện, mang tiếng cười và thông điệp nhân sinh sâu sắc. Truyện ngắn sau đây đề cập đến chức năng thức tỉnh của nghệ thuật đối với con người, dù họ là ai, đồng thời có tính hài hước như phong cách vốn thấy ở O. Henry.
Soapy trăn qua trở lại trên băng ghế ở Madison Square. Khi ngỗng trời kêu quang quác trong đêm, khi phụ nữ không có áo khoác làm bằng lông hải cẩu nép sát vào chồng họ và khi Soapy trăn trở trên băng ghế trong công viên thì bạn biết là mùa đông đang tới thật gần.
Một mảnh giấy khô khốc rớt vào lòng Soapy. Đó là danh thiếp của Jack Frost. Jack rất tốt với những cư dân thường xuyên ở Madison Square và thường đưa ra các cảnh báo tử tế trong các lần viếng thăm hàng năm. Ở các góc đường của ngã tư, anh che gió bấc và trao giấy bồi có ghi các lời cảnh tỉnh cho người phục vụ của tòa lâu đài All Outdoor để người ở đó biết mà chuẩn bị.
Đầu óc Soapy biết rõ sự thật là đã đến lúc anh ta phải quyết định để được vào trung tâm của một ủy ban đáng chú ý là Ủy ban tài sản và phương tiện để được bảo trợ nhờ đó có thể chống lại mùa đông khắt khe đang đến. Và do đó, anh ta trằn trọc trên băng ghế. Ước mơ có được những giấc ngủ ngon vào mùa đông của Soapy không phải là quá ngông cuồng. Trong những ước mơ đó, không có du thuyền đi trên Địa trung hải, không có những đê mê khi ở trên tàu và lướt đi dưới bầu trời phương nam trên vịnh Vensuvia. Có được ba tháng ở tù là thứ mà linh hồn anh ta khát khao. Ba tháng có cơm ăn áo mặc, người xung quanh thì dễ mến và không bị cảnh sát quấy rầy đối với Soapy dường như là điềm chính yếu trong các ước ao.
Đã nhiều năm rồi, bệnh viện Blackwell là khu vực trú đông của anh ta. Anh ta như thế còn may mắn hơn những người bạn New York vô gia cư khác khi họ phải mua vé để được vào Palm Beach và Riviera mỗi khi mùa đông đến, do đó anh ta khiêm tốn sắp xếp cho việc thoát thân hằng năm của mình bằng cách ước mơ được vào tù. Và giờ, mùa đông đã đến. Đêm hôm trước, ba tờ báo lót dưới áo khoác, phủ bụng và chân đã thất bại trong việc chống lại cái lạnh khi anh ta ngủ trên băng ghế gần một vòi nước đang phun ở một khu phố cổ. Do đó hình ảnh nhà tù quẩn quanh trong đầu anh ta. Anh ta khinh thị số thực phẩm nhân danh từ thiện dành cho người vô gia cư trong thành phố. Theo anh ta, luật pháp còn dễ chịu hơn các tổ chức từ thiện. Có vô số các tổ chức từ thiện, các ban ngành thành phố mà anh ta có thể đến để xin chỗ ăn chỗ ở ở mức đơn sơ nhất. Theo Soapy, quà cáp từ thiện rất rắc rối. Vì không phải trả tiền nên bạn phải bẽ mặt khi nhận những ích lợi từ tay các nhà từ thiện. Cũng như Caesar hoạch họe tướng Brutus, mỗi chiếc giường từ thiện, nếu muốn được nằm thì phải tắm rửa, mỗi ổ bánh mỳ nếu muốn được nhận phải qua thẩm vấn cá nhân. Do đó, tốt hơn hãy là khách của pháp luật, chịu luật lệ chi phối và không bị những việc riêng tư của một quí ông nào đó quấy rầy.
Soapy quyết định vào tù và ngay lập tức hành động để hoàn thành ước muốn. Có nhiều cách để thực hiện điều đó. Hành động vui vẻ nhất là tới ăn tối ở một nhà hàng sang trọng sau đó tuyên bố là không có tiền và êm thấm bị bắt giữ giao cho cảnh sát. Một quan tòa biết gia ơn sẽ làm việc còn lại.
Soapy rời băng ghế và bước ra khỏi công viên, băng qua con đường nơi Broadway và Fifth Avenue gặp nhau. Lên khu Broadway, anh ta đứng chần chừ trước một tiệm ăn, nơi hằng đêm người ta bán các thứ thức ăn được lựa chọn kỹ như nho, con tằm và các chất nguyên sinh.
Soapy thấy tự tin với hàng nút từ dưới lên trên của chiếc áo gilê của mình. Anh ta vừa cạo râu, áo khoác thì tươm tất còn chiếc áo gilê đen do một bà soeur tặng trong lễ Tạ ơn thì gọn ghẽ, vừa vặn. Nếu anh ta đến ngồi vào bàn trong tiệm ăn đó thì sẽ không có ai ngờ vực gì khẩu phần thức ăn trên bàn của anh ta cũng sẽ không gây ra mối ngờ nào trong đầu tay hầu bàn. Soapy nghĩ, anh ta sẽ kêu vịt trời quay, một chai Chablis, sau đó là một chai Camembert, một tách cà phê và một điếu xìgà. Điếu xìgà chỉ chừng một đôla. Giá toàn bộ bữa ăn cũng không nhiều đến mức làm tay quản lý tiệm ăn giận sôi người và đương nhiên bữa ăn sẽ làm cho anh ta no vui để bước đến nơi trú đông.
Nhưng khi Soapy bước chân vào cửa tiệm ăn, tay tiếp viên trưởng đổ mắt vào chiếc quần sờn cũ và đôi giày rách của anh ta. Những bàn tay mạnh bạo ngăn anh ta lại, lặng lẽ đẩy anh ta ra đường và do đó cũng ngăn lại sự hủy diệt đê tiện của gã vịt trời nguy hiểm.
Soapy rời Broadway. Dường như đối với anh ta, đường đến nhà tù thèm muốn kia không phải là con đường nhung lụa. Phải nghĩ ra cách khác để được vào tù.
Ở góc đường Sixth Avenue, ánh sáng điện tinh quái chiếu sáng hàng hóa sau một cửa kính, làm cho cái cửa kính ấy trở nên đáng chú ý. Soapy lượm một viên sỏi và ném vào cửa kính. Người ta đổ dồn vào góc đường ấy, có một viên cảnh sát dẫn đầu. Soapy đút hai tay vào túi quần và đứng im, cười với viên cảnh sát.
“Thằng ném đá đang ở đâu?”, viên cảnh sát mạnh giọng hỏi.
“Ông không nghĩ ra là tôi có thể đã ném đá để làm gì à?”, Soapy nói không chút mỉa mai nhưng thân thiện, như là người ta đang chúc may mắn.
Viên cảnh sát từ chối nghĩ rằng Soapy là một nghi can. Kẻ ném đá như thế thường không đứng lại để đôi co với nhân viên công lực. Họ bỏ chạy. Viên cảnh sát thấy có một gã đàn ông ở phía dưới khúc đường đang chạy theo một chiếc xe hơi. Anh ta cầm dùi cui đuổi theo. Soapy phẫn uất bỏ đi sau hai lần thất bại.
Bên kia đường là một nhà hàng trông không chút tự phụ. Nó bán thức ăn nhiều nhưng rẻ. Chén làm bằng đất sét nung dày, không khí trong nhà hàng bận rộn còn xúp thì loãng và khăn trải bàn thì mỏng. Ở đó, Soapy vẫn mang đôi giày tội đồ và chiếc quần làm lộ tẩy không chút e dè. Anh ta ngồi vào bàn và gọi bò bít tết, bánh kếp, bánh cam vòng và bánh patê. Sau bữa ăn, anh ta ra hiệu cho bồi bàn biết anh ta không có xu nào và là một người lạ.
“Nào, hãy gọi ngay cho cảnh sát”, Soapy nói. “Đừng để một quí ông phải chờ lâu”.
Hai gã bồi bàn đè phía trái đầu anh ta xuống vỉa hè cứng. Anh ta từng chút một vùng dậy, như thợ mộc mở thước và phủi bụi trên quần áo. Việc bắt giữ anh ta lại dường như còn xa vời. Nhà tù cũng quá xa vời. Có một viên cảnh sát đứng trước một nhà thuốc cách đó hai căn nhưng chỉ cười rồi bỏ đi.
Sau khi bước đi qua năm khối nhà, sự can đảm của Soapy cho phép anh ta lại nghĩ đến chuyện làm sao để được bắt giữ. Lần này cơ hội đến và anh ta nông nổi gọi là “dễ”. Một phụ nữ thanh nhã trẻ đang đứng trước một tủ kính chăm chú nhìn bột cạo, giá để mực và cánh cửa hiệu chừng hai yard, có một viên cảnh sát cao to, thái độ rất nghiêm túc đang đứng tựa vào một cột nước. Soapy muốn đóng vai một cái “máy xay” đáng khinh và đáng nguyền rủa. Sự mảnh mai của nạn nhân và viên cảnh sát tận tâm đang ở gần đó làm anh ta tin rằng anh ta sẽ chính thức bị chộp lấy cánh tay và chắc chắn sẽ được vào tù để trú đông.
Soapy chỉnh lại cho thẳng chiếc cà vạt mà các soeur truyền giáo tặng, móc chiếc còng nhỏ ra, đội lệch chiếc mũ chết chóc và len lén đi đến chỗ người phụ nữ trẻ. Anh ta nhìn cô gái và bỗng họ sù sụ rồi cười đểu, trơ tráo khởi động những lời dông dài, hỗn xược và đáng khinh của chiếc “máy xay”. Anh ta nheo mắt nhìn viên cảnh sát đang nhìn anh ta chằm chằm. Người phụ nữ trẻ bước đi vài bước nhưng vẫn chăm chú nhìn món bột cạo. Soapy bước theo và mạnh bạo tới đứng bên cạnh cô, giở mũ ra và nói:
“A, Bedelia đây! Em không muốn đến nhà anh chơi à?”.
Viên cảnh sát vẫn đang chăm chăm nhìn. Người phụ nữ trẻ đưa ngón tay lên ra hiệu và Soapy trên thực tế đang bước đi trên đường vào ốc đảo nhà tù. Anh ta bỗng cảm nhận được sự ấm áp của nó. Cô gái quay ra nhìn anh ta, đưa tay nắm lấy ve áo khoác của hắn.
“Chắc chắn, Mike ạ”, cô nói vui vẻ. “Giá mà anh hắt vào em một xô xà phòng thì em đã nói chuyện với anh sớm hơn, nhưng cảnh sát đang nhìn kìa”.
Với người phụ nữ trẻ là dây trường xuân bám vào cây sồi Soapy, họ đi qua viên cảnh sát và vùng tối. Anh ta dường như thấy rất tự do.
Ở góc đường tiếp theo, anh ta tống khứ người bạn đồng hành và bỏ chạy. Anh ta dừng lại ở khu vực có những con đường rực sáng về đêm, có lời nhạc kịch, có tiếng kinh cầu và ấm áp.
Phụ nữ mặc áo lông và đàn ông mặc áo khoác rộng bước đi vui vẻ trong gió lạnh. Một nỗi sợ bất ngờ ập đến với Soapy. Anh ta nghĩ vì quá muốn bị bắt giữ nên đã làm cho anh ta không bị bắt giữ. Ý nghĩ này gây hoảng loạn ít nhiều cho anh ta. Khi thấy có một viên cảnh sát bệ vệ đang loanh quanh trước một nhà hát nguy nga, anh ta nghĩ ngay đến việc “gây rối trật tự công cộng”.
Anh ta bắt đầu lấy hết gân hết cốt la thét. Anh ta nhảy nhót, gào rú và làm đủ trò khác, làm rung rinh cả vòm trời.
Viên cảnh sát xoay chiếc dùi cui, quay lưng lại với Soapy và nói với một người đi đường:
“Thằng ở Yale này đang ca ngợi những cái trứng ngỗng nó tặng cao đẳng Hartford. Ồn ào nhưng vô hại. Chúng tôi đã có chỉ thị cứ cho những điều như thế được tồn tại”.
Soapy buồn bã dừng lại việc quấy rối. Sẽ không có viên cảnh sát nào sờ đến anh ta sao? Trong suy tư của anh ta, nhà tù hình như là vùng Arcadia của Hy Lạp cổ đại, không thể vào được. Anh ta gài lại nút chiếc áo khoác mỏng để chống lại cái lạnh.
Tại một cửa hàng bán xìgà, anh ta thấy một người đàn ông đang mồi một điếu xìgà trong ánh sáng lung liêng. Chiếc dù vải silk của ông ta đang được để ở cửa ra vào. Soapy bước vào bên trong, nhìn ngó chiếc dù và từ từ cầm lấy nó, bình thản đi ra. Người đàn ông vội vàng bước theo.
“Chiếc dù là của tôi”, ông ta nghiêm túc nói.
“Ồ, vậy à?”, Soapy cười nhếch mép như khinh bỉ việc ăn cắp vặt. “Ừ, sao không gọi cảnh sát? Tôi lấy nó, lấy dù của ông! Sao không gọi cảnh sát. Có một cảnh sát đang đứng ở góc đường kia kìa”.
Người chủ của chiếc dù bước chậm lại. Soapy cũng thế và có linh cảm rằng may mắn đang đến với mình. Viên cảnh sát tò mò nhìn hai người.
“Đương nhiên”, người đàn ông là chủ chiếc dù nói, “được thôi, ông biết có sự nhầm lẫn rồi đó... Nếu đó là dù của ông, tôi hy vọng ông sẽ bỏ qua cho... Tôi nhặt được nó ở một nhà hàng sáng nay... Nếu ông nhận ra đó là dù ông, tôi hy vọng ông sẽ...”.
“Tất nhiên đó là dù của tôi”, Soapy hằn học nói.
Ông chủ cũ của chiếc dù rút lui. Viên cảnh sát chạy tới giúp một phụ nữ cao, tóc vàng, mặc ào choàng vũ kịch đang băng qua đường trước một chiếc xe hơi đang ở cách cô chừng hai khối nhà.
Soapy đi về phía đông, ngang qua một con đường đang được sửa chữa. Anh ta giận dữ chĩa dù xuống một cái hố. Anh ta lầm bầm chửi những người công nhân đang đội mũ cối và cầm thuổng vì muốn ngã vào cuốc thuổng và các hố họ đang đào. Họ hình như coi anh ta là một ông vua không thể làm điều gì sai quấy.
Cuối cùng Soapy đi đến một con đường ở phía đông không ồn ào và không lấp lánh ánh đèn. Anh ta cúi mặt đi về hướng Madison Square và trở về nhà, dù nhà là một băng ghế công viên, là một bản năng của sự tồn tại.
Nhưng khi đi đến một góc đường yên tĩnh, Soapy bỗng dừng lại. Ở đó có một ngôi nhà thờ cũ, kỳ lạ, có nhiều đầu hồi. Từ chiếc cửa sổ kính màu tím, ánh sáng nhẹ hắt ra và sau cánh cửa có một người đang chơi đàn ống đang nhẹ lướt tay trên các phím để tập luyện cho lễ chủ nhật sắp tới. Tiếng nhạc ngọt ngào vẳng vào tai Soapy làm anh ta đứng dán chặt vào hàng rào sắt cuộn.
Đêm yên tĩnh, trăng sáng ngời; chỉ có vài ba chiếc xe và vài người đi qua đường; chim sẻ ngái ngủ kêu líu ríu trên các đầu hồi. Trong thoáng chốc, cảnh vật giống như cảnh vật trong một khuôn viên nhà thờ ở thôn quê. Tiếng nhạc thánh ca mà người chơi đàn ống đang chơi làm cho Soapy dán người vào chiếc hàng rào sắt bởi anh ta biết rõ bản nhạc này trong những ngày đời anh ta còn có những thứ như mẹ, hoa hồng, bạn bè, những khát vọng và suy nghĩ thì hãy còn tinh sạch.
Sự pha trộn giữa trạng thái đầu óc tiếp nhận âm nhạc và hình ảnh ngôi nhà thờ thuở xưa bỗng làm thay đổi tâm hồn anh ta một cách tuyệt vời. Anh ta kinh hãi nhìn xuống đáy địa ngục mà anh ta đã ngã vào. Đó là những ngày suy đồi với những ước muốn thấp kém, những hy vọng buồn tẻ, những hành động phá hoại, những động cơ đê hèn - những thứ cùng nhau làm nên sự tồn tại của anh ta.
Và cũng trong phút chốc, trái tim anh ta đã phản ứng lại một cách xúc động với tâm trạng mới. Một xung động mạnh mẽ và ngay tức khắc làm anh ta muốn tranh đấu với số phận gian nan. Anh ta muốn kéo mình ra khỏi bùn lầy, muốn làm một con người mới, muốn khuất phục con quỉ đã nhập vào mình. Hãy còn thời gian và anh ta hãy còn trẻ. Anh ta sẽ làm sống lại những khát khao đẹp cũ và theo đuổi chúng không nao núng. Những nốt thánh ca ngọt ngào và nghiêm trang đã làm trỗi dậy một cuộc cách mạng trong anh ta. Ngày mai, anh ta sẽ vào trung tâm thành phố ồn ào để kiếm việc. Một nhà nhập khẩu lông thú đã từng nhận anh ta vào làm người lái xe. Ngày mai anh ta sẽ đi tìm ông ấy và xin việc. Anh ta sẽ là một ai đó trên đời. Anh ta sẽ...
Soapy thấy có một bàn tay đặt lên trên cánh tay mình. Ngoảnh ra anh ta thấy có một viên cảnh sát mặt bự.
“Ông làm gì ở đây?”, viên cảnh sát hỏi.
“Không làm gì cả”, Soapy nói.
“Vậy thì theo tôi”, viên cảnh sát nói.
“Ông bị phạt tù ba tháng”, quan tòa ở Tòa án cảnh sát phán vào sáng hôm sau.
· Trần Ngọc Hồ Trường dịch từ American great short stories.com
Tiểu thuyết “Chiến tranh và hòa bình” của Lev Tolstoi tôi đã đọc từ hồi còn nhỏ, đến bây giờ hưu trí tôi vẫn còn thích đọc lại- lần thứ bao nhiêu tôi không còn nhớ rõ- để chiêm nghiệm những vấn đề của nhân loại mà Lev đã nêu lên trong đó. Tôi không phải nhà chuyên môn về phân tích bình luận tác phẩm, tôi không phải là nhà lý luận văn học. Tôi chỉ đọc và cảm nhận một tác phẩm dưới mắt nhìn của một độc giả bình thường. Tuy tác phẩm đồ sộ, cao siêu, nhưng tôi không đủ sức quan tâm cái cao siêu, tôi chỉ ghi lại dưới mắt nhìn của tôi, những kỷ niệm của tôi, những nghĩ suy của tôi về “Chiến tranh và hòa bình”.
Từ ngày nghỉ hưu hơn hai năm nay, trong kế hoạch đọc lại sách xưa lúc cuối đời nhằm học hỏi, tìm đến chốn tâm linh, chuẩn bị cho việc chuyển sang “ngôi nhà vĩnh cửu bên kia thế giới” của mình, tôi ước mơ được đọc lại “Chiến tranh và hòa bình” của Nguyễn Hiến Lê dịch. Sách này tôi đã đọc lúc 15 tuổi, trong một bối cảnh đáng nhớ. Đó là năm 1972, trong những ngày được gọi là “mùa hè đỏ lửa”, lúc ấy trên chiến trường, hai bên – quân đội Việt Nam cộng hòa và quân giải phóng đang giằng co ác liệt ở địa danh mấu chốt Quảng Trị. Đài phát thanh, đài truyền hình liên tục đưa tin máu đổ, thương vong, chết chóc xảy ra hàng ngày để phe mình được cắm cờ trên cổ thành Quảng Trị.
Nhà tôi ở ngay trước chùa Thuận Thành, tôi thường xuyên thấy những quan tài phủ cờ vàng ba sọc đỏ từ chiến trường chở về. Do phần lớn người ta quan niệm chết bom đạn, chết đường chết chợ không được đưa vào nhà. Và phần lớn các gia đình này đều nghèo, nhà chật, thiếu không gian làm tang lễ, vì thế thân nhân cho quàn tại chùa. Phải nói bình quân hàng tuần, tôi đều thấy quan tài, đều nghe tiếng khóc ỉ ôi, kể lể của những người vợ lính còn rất trẻ, với nhiều mái đầu xanh quàng khăn xô trắng xóa đầy nét bi thương.
Tôi đang tuổi thiếu niên nhưng nhìn thấy cảnh ấy, bỗng buồn trong lòng, có khi mai mốt đây mình cũng sẽ rơi vào cảnh huống “Kỷ vật cho em” như những người vợ lính. “Kỷ vật cho em” là bài hát thời thượng, nhạc sĩ Phạm Duy phổ nhạc từ bài thơ của Linh Phương, với tiếng hát Thái Thanh tỉ tê, nỉ non làm tôi thấy rờn rợn:
Em hỏi anh, bao giờ trở lại
Xin trả lời, mai mốt anh về
Anh trở lại có thể bằng chiến thắng Pleime
Hay Đức Cơ, Đồng Xoài, Bình Giã
Anh trở về anh trở về hàng cây nghiêng ngả
Anh trở về, có khi là hòm gỗ cài hoa
Anh trở về trên chiếc băng ca
Trên trực thăng sơn màu tang trắng.
Tuy thế, tôi có không gian riêng, thế giới riêng- đó là sách. Mỗi lần tôi “chui” vào đó tôi thấy như vào thành trì an ổn, không ai phiền nhiễu được mình. Thói quen đó có từ nhỏ, bây giờ ở tuổi hưu trí vẫn còn “đậm đà” trong tôi.
Hồi đó chỉ gọi là đọc “ngấu nghiến” chẳng có định hướng, có mục đích, chương trình gì, nhưng với một ý nguyện là muốn đọc sách văn học để cảm nhận văn phong, nhịp điệu, không khí, cảm xúc của nhân vật hơn là chỉ đọc để nắm nội dung.
Những học trò cùng lứa tôi thủa đó phần lớn say mê vùi đầu vào tác phẩm của Kim Dung để rồi đánh võ mồm. Thường sau khi đọc “Anh hùng xạ điêu”, “Cô gái Đồ Long”, Thần điêu đại hiệp”… chúng kể cho nhau những miếng võ lõm bõm trong sách, hoặc vào võ đường học kỳ được những chiêu của những tài tử xuất hiện nhan nhản trên màn ảnh đại vĩ tuyến thời bấy giờ như Khương Đại Vệ, Lý Tiểu Long, Trần Tinh... thì tôi lại ưa vùi đầu vào loại sách “khó nhằn” của người lớn kiểu như “Chiến tranh và hòa bình”, “Những người khốn khổ”, “Những khẩu đại bác thành Navarra”, “Khóc lên đi ôi quê hương yêu dấu”, có cả loại truyện “sướt mướt” như “Bên dòng sộng Trẹm” chẳng hạn. Chẳng qua là những cuốn này nó có trước mắt tôi, trong tủ sách gia đình.
Tôi nhớ tôi đã đọc “Chiến tranh và hòa bình” bản dịch của Nguyễn Hiến Lê in lần đầu của Nhà xuất bản Lá Bối, Sài Gòn 1969. Ở tuổi đó, đọc loại sách đó, tôi không nắm được hết nội dụng, tôi chỉ mê sự kiện, mê chi tiết miêu tả của Lev Tolstoi, nhất là tả cảnh chiến tranh. Thời điểm đó ở Đà Nẵng có kênh truyền hình dành riêng cho lính Mỹ (hàng đêm từ 19g đến 23g máy bay Blue Eagle bay ở độ cao ổn định, chở thiết bị vòng vòng trên trời phát sóng xuống mặt đất) có chiếu phim Combat (Chiến đấu), phim này tôi rất khoái, không bỏ bữa nào. Tôi hồi hộp theo dõi hai nhân vật chính là trung sĩ Vic Morrow, trung úy Vic Thompson chuyên tiếp cận hang ổ quân Đức, khiến địch quân nhiều trận nếm mùi thất bại ê chề.
Đọc “Chiến tranh và hòa bình” tôi lại mê miêu tả một trận đánh chi tiết như vậy. Nào là đội kỵ binh, đội pháo thủ, cánh trái, cánh phải, đội phiêu kỵ, đội bộ binh… Lev Tostoi miêu tả rất chi tiết cách bố trí quân, diễn biến trong trận đánh. Nhiều đoạn tôi phải đọc đi đọc lại mấy lần để hình dung vị trí của nhân vật, họ chạy từ chỗ này sang chỗ nọ, diễn biến trận đánh như thế nào (*).
Những cảnh đó, những đoạn văn miêu tả đó là những đoạn văn tôi thích nhất. Rồi có tuổi hơn chút nữa, đọc lại “Chiến tranh và Hòa bình”, tôi nhận ra điều mà những lần trước mình chưa hiểu. Cụ thể là chiều kích tâm linh của cuốn tiểu thuyết qua những chuyện xảy ra trong các phòng khách và trên bãi chiến trường, qua những lời thoại sâu sắc.
Độc giả cụ thể là tôi, mỗi lần đọc lại hiểu thêm về triết học, tôn giáo, hiểu thêm về chân lý, biết phân biệt thêm về tốt xấu và hành động cho phù hợp trong hoàn cảnh thực tế. Có khi lần trước tôi chưa kịp nhận ra, lần này tôi lại thấy Lev Tolsoi đã trình bày chiến tranh như một sự kiện, trong đó tâm hồn con người được tôi luyện, những phẩm chất cá nhân và sự vĩ đại của đất nước được hình thành. Trong từng trận đánh cho ta thấy tất cả những nỗi khủng khiếp của chiến tranh, số lượng khổng lồ các nạn nhân, những nỗi bất công và đau khổ vô cùng tận giáng xuống những con người bình thường.
Mới đây, một lần trú tại khách sạn Đại Nam, một khách sạn nhỏ nhắn, bên bờ biển dạt dào sóng gió trữ tình tại Nha Trang, bất ngờ tôi “gặp lại” “Chiến tranh và hòa bình” bản của Nguyễn Hiến Lê dịch, tái bản in tại Nhà xuất bản Văn nghệ, Thành phố Hồ Chí Minh in năm 2000 (tập 1: 816 trang, tập 2: 778 trang, tập 3: 731 trang, tập 4: 809 trang, cỡ giấy 18 cm).
Tôi vui như bắt được vàng khi nhìn thấy bộ tứ tác phẩm nói trên nằm trên giá sách khá khiêm tốn, nghèo nàn ở sảnh tiếp tân của khách sạn. Vậy là bao nhiêu năm mong ước, tìm kiếm nay bất ngờ gặp lại, nhất là tâm niệm trong những ngày hưu trí cần đọc một loạt tác phẩm kinh điển, qua đó an lòng sống những ngày cuối đời.
Kiểu như bá tước Léon Tolstoi từng gửi gắm trong “Chiến tranh và hòa bình” rằng:
“Hành động của tôi liên quan tới ý chí khác và tùy thuộc vào hợp lực của những ý chí khác không phải của tôi. Hoạt động của ta càng trừu tượng bao nhiêu thì nó càng được tự do bấy nhiêu” (**).
Để từ đó đừng có mạnh miệng nói rằng, già rồi muốn làm gì cũng được “Vouloir c’est pouvoir”. Trên tinh thần đó, tôi đã đóng cửa phòng suốt hai ngày thứ bảy và chủ nhật tại khách sạn, say mê đọc “Chiến tranh và hòa bình” bản dịch của Nguyễn Hiến Lê mà tôi đã đọc hồi còn nhỏ, mặc cho mọi người trong đoàn du lịch vui chơi, tắm biển, ngao du thiên đường Vinpearl.
Người ta nói “vùi đầu vào trang sách” thật đúng với hình ảnh tôi lúc này. Tôi vui mừng gặp lại Natasha với vũ điệu bình dân Nga dưới ánh trăng, Natasha có tâm hồn, tươi sáng, cởi mở, hồn nhiên, hành động luôn theo tình cảm, rất tận tâm, rất yêu người, yêu đời, tuy có lúc nhẹ dạ, lầm lỗi nhưng không làm cho tôi ghét mà trái lại làm cho tôi thêm thương.
Tôi cảm nhận sâu xa điều mà Tolstoi nói: “Những cái tôi viết đây không phải tôi bịa ra đâu, tôi đã đau đơn rút từ trong ruột tôi ra đấy”. Tôi đã lấy bút high- light gạch dưới một đoạn văn để nghiền ngẫm: “Một hôm ông lại Novgorod mua đất, ghé một quán trọ ở Arzamas để nghỉ đêm, thấy phòng vuông vức như chiếc quan tài, tường trắng như khăn tang, đồ đạc bằng gỗ đỏ như máu. Nửa đêm ông bừng tỉnh tưởng như nghe thấy thần chết gọi mình, không ngủ lại được nữa, nằm xuống cầu nguyện. Sáng hôm sau vội vàng về nhà, khi thấy hai tháp ở cổng, ông mừng rơn: thoát chết”.
Qua đoạn văn trên tôi thấy dường như đâu đó, tôi cũng đã từng rơi vào tâm trạng này. Tôi phục lăn Tolstoi tả cảnh chết. Tôi xem đó như hành trang, như bước chuẩn bị để thanh thản, không bối rối khi đương đầu với nó nay mai. Có thể là kinh nghiệm cái chết trước cái chết của bá tước Bezoukhov, cái chết của Andres, cái chết đau đớn, ghê sợ, oán hờn của Lise, cái chết của lão công tước Bolkonski luôn nghiêm khắc với con…
N.P
(*) Nhân đây tôi nói rõ, tôi không thích đọc sách trên internet nên gì thì gì tôi cũng tìm mua cho được bản in giấy. Tôi hay dừng lại giữa chừng để suy nghĩ khi đọc sách, có khi đó chỉ là những suy nghĩ linh tinh bên ngoài. Trước mỗi đoạn văn khiến tôi thích thú, tôi thường đọc đi đọc lại hai ba lần. Khi quá trình này đang diễn ra, tôi không cảm thấy phiền lòng mà thấy thú vị. Điều này chỉ có sách in trên giấy là thích hợp.
(**) Trích bài viết “Vài lời về cuốn Chiến tranh và hòa bình” của bá tước Leon Tolstoi
CÁCH NHẬP COMMENT TRÊN HƯƠNG QUÊ NHÀ
Đầu tiên, nhấp chuột vào ô Nhập nhận xét của bạn rồi viết comment. Viết xong, nhấp chuột vào ô Tài khoản Google. Sau đó nhấp chuột vào Tên/URL thì sẽ hiện ra 2 ô. Ô phía trên, ghi Họ và tên của bạn. Ô phía dưới, ghi dòng chữ:huongquenha.com
Cuối cùng, nhấp chuột vào ô Tiếp tục và nhấp chuột tiếp vào ô Xuất bản là xong. (Nếu bạn đã có sẵn Tài khoản Google, thì sau khi viết comment, chỉ cần nhấp chuột vào ô Xuất bản là thành công)