Tôi nhận được giấy mời dự đêm thơ rằm Nguyên tiêu năm Giáp Thìn 2024, tôi không biết có mối liên hệ nào không lại đem đem “Les étoiles” ra đọc như một nghi thức trang trọng. “Les étoiles” là truyện ngắn của đại văn hào Pháp Alphonse Daudet mà tôi yêu thích. Tôi vẫn đọc nó thường xuyên, với ý nguyện là chống lão hóa não bộ, luyện trí nhớ và thu nhận vốn liếng tiếng Pháp được chút nào hay chút nấy.
Bao năm nay tôi vẫn tự học tiếng Pháp theo cách của tôi, đó là học thuộc tác phẩm “Những vì sao” (Les étoiles) bản tiếng Pháp của Alphonse Daudet. Tôi đã học thuộc, trích ghi chép các thì trong đó: Présent de l’indicatif, passé composé, le plus que parfait, future anterieur vân vân và vân vân. Tôi tra sách văn phạm, ghi nhớ thuộc lòng và xem như mẫu để áp dụng vào các bài dịch khác.
Lịch sử học tiếng Pháp của tôi là được hai năm ở trường trung học, sau đó bỏ quên một thời gian dài, nhưng tình yêu tiếng Pháp không phai nhòa trong tôi. Tôi tự rèn luyện tiếng Pháp theo kiểu của tôi, không biết tự bao giờ tôi đọc và hiểu được sách, báo tiếng Pháp. Hình như tôi không giỏi tiếng Pháp, tôi chỉ rành tiếng Việt (expérimenté/ distinctemente), chứ không phải giỏi tiếng Việt. Do vậy tôi vô tình đọc dịch được tài liệu tiếng Pháp. Tôi dịch được tiếng Pháp cũng như tiếng Anh cho công việc mưu sinh của tôi thời chưa có internet. Do vậy tôi nói “Les étoiles” mãi lấp lánh trong hồn tôi theo cách nói tượng hình là vậy. Chứ còn hồ Xuân Hương- Đà Lạt mãi lóng lánh trong mắt tôi là điều có thật. Một lần đến Đà Lạt vào một đêm trăng rằm, cách đây không lâu. Tôi thấy nó hư ảo phản chiếu bóng thành phố khi tôi ngoạn cảnh dạo cảnh đêm kỳ thú. Từ bờ hồ nhìn xuống mặt hồ lóng lánh, vầng trăng dưới nước sáng gấp mấy lần vầng trăng trên trời, tuy lúc ấy đã ô nhiễm khá nặng và biến dạng gấp nhiều lần so với thủa những ông Tây thuộc địa mới khai phá.
Không còn là kiểu thiên nhiên tâm tình tri giao với con người như xưa kia, thủa nhà thơ Quách Tấn, hồi còn là công chức Tòa Công sứ Đà Lạt, ông công nhận rằng: Nước ở các sông hồ khác dù trong, dù sâu đến đâu, sắc xanh cũng có phần lợt lạt, chỉ có nước hồ Xuân Hương là đậm đà màu nước biển. Nhà thơ truyền kinh nghiệm: Khi ngắm hồ phải ngắm ban trưa mới thấy hết cái đẹp. Và ngắm hồ lúc trăng mờ tán sắc sau cơn mưa, khi những mảng sương sà xuống mặt hồ lúc ấy không gian mới hư ảo.
Tôi may mắn rơi vào đúng thời điểm, đúng không gian mà nhà thơ Quách Tấn tỏ bày tâm tư như đã nói trên. Tôi có cảm giác trời đất tan chảy và tôi đứng giữa hư vô. Sương la đà ôm ấp tôi làm cho tôi cảm khoái dễ chịu. Tức cảnh sinh tình, tôi bỗng muốn làm thơ nhưng rặn mãi không ra được câu nào. Tôi chợt nhớ lời Quách Tấn nói về người thơ nên đồng tình, không làm thơ nữa.
Ông nói như sau: Không có cảnh thì khó có thơ, mà cảnh đẹp quá thơ không ra được, vì đứng trước cảnh đẹp cũng như người đẹp người thơ mãi lo tận hưởng cái đẹp, tâm trí đâu mà nghĩ đến thơ. Hơn nữa, người thơ chỉ làm thơ trong lúc thiếu thốn, trong khi cảnh và tình kia đã tràn đầy, lấn chiếm hết ý thơ, thì thôi làm thơ để mà chi.
Tôi trở về với thực tế chống lão hóa và luyện trí nhớ của tôi, tôi mê “Les étoiles”- “Những vì sao” của Daudet, nó mãi lấp lánh như trăng sao chiếu sáng lòng tôi. Tôi mê đoạn văn đáng yêu, du dương như chàng chăn cừu xứ Provence mê cô chủ Stéfannette của mình:
Và trong khi tôi đang cố giải thích cho nàng thế nào là những hôn lễ của các vì sao, thì tôi cảm thấy như có vật gì tươi mát và mịn màng đè nhẹ lên vai tôi. Thì ra đầu nàng, nặng trĩu vì buồn ngủ, đã tựa vào vai tôi với tiếng sột soạt êm ái của những dải đăng ten và mái tóc gợn sóng của nàng. Nàng ngồi yên không nhúc nhích như thế cho đến khi những vì sao bắt đầu lu mờ dần và nhoà đi trong những tia nắng sáng đầu tiên của buổi ban mai.
Còn tôi, tôi nhìn nàng ngủ, trong đáy lòng hơi xao xuyến một chút, nhưng vẫn giữ được sự thanh khiết của tâm hồn, vì đêm sao sáng như thế kia bao giờ cũng đem lại cho tôi những ý nghĩ cao đẹp. Chung quanh chúng tôi, ngàn sao vẫn tiếp tục cuộc hành trình thầm lặng, ngoan ngoãn như một đàn cừu vĩ đại; và đôi lúc tôi có cảm tưởng như một trong những ngôi sao kia, ngôi sao thanh tú nhất, sáng ngời nhất, vì lạc mất đường đã đến tựa vào vai tôi và ngủ giấc yên lành.
N.P
“Người tình Lara” là nhan đề phụ của tiểu thuyết và của phim “Bác sĩ Zhivago” mà tôi đã đọc và đã xem nhiều lần. Tôi thích gọi “Người tình Lara” hơn, bởi trong đời kiếp này tôi có biết bao người tình Lara trong cõi lòng tôi.
*
Tôi vừa đọc xong tiểu thuyết “Bác sĩ Zhivago” của nhà văn Boris Pasternak, sách dày hơn 600 trang, tôi mất một tuần để đọc. Sau đó tôi tìm phim để xem, phim cùng tên của đạo diễn David Lean, phim dài 3 tiếng đồng hồ. Xem phim kích thích niềm say mê, hứng khởi khiến tôi đi tìm bản nhạc viết cho phim “Lara ‘s theme”, tôi nghe nó hàng ngày. Xem, nghe rồi để đó thấy cũng uổng, do vậy tôi review để ghi lại xúc cảm của riêng tôi.
*
Phim “Bác sĩ Zhivago” gắn liền kỷ niệm với tôi là tôi đã xem phim trước năm 1975 tại rạp xi - nê Kim Châu trên đường Độc Lập (nay là Trần Phú) vào năm 1972. Ngày đó khi xem phim này tôi còn rất trẻ, non nớt, chả có chút gì về kinh nghiệm đường đời, nên chỉ để ý đến vẻ thu hút của tài tử và câu chuyện tình lãng mạn là chính. Còn bây giờ tuổi đã lớn xem lại phim mới thấy những chiêm nghiệm thấm thía về định mệnh, về những trái ngang mà con người phải đầu hàng trước số phận.
Còn nhớ, do chưa nếm mùi đời nên những hình ảnh thời xã hội chủ nghĩa thể hiện nhiều trường đoạn trong phim, chẳng hạn như cảnh đói kém, cảnh ngay cả bác sĩ còn phải ăn trộm chất đốt cho gia đình…, nó chỉ loáng thoáng qua, nghĩ trong bụng sao mà đời khổ thế, rồi nó trôi tuột đi không để lại dấu vết gì.
Còn bây giờ xem lại, từng thước phim nhắc nhở bao nỗi cay đắng của đời sống, mới thấy cảm phục tác giả và đạo diễn đã lột tả giùm bao cảnh đời éo le, cay nghiệt một cách tài tình hấp dẫn. Hèn chi tác phẩm đã từng bị cấm tại Liên Xô trong một thời gian dài, dù nó đã được trao giải thưởng Nobel Văn Học và phim đã nhận được nhiều giải thưởng quốc tế. Mãi đến năm 1994 (gần 30 năm sau khi ra đời) “Bác sĩ Zhivago” mới được phép trình chiếu ở Nga.
*
Kỷ niệm xưa ào ạt tràn về làm tôi xao xuyến- như những đường link dẫn đến trái tim tôi. Trước hết là bản nhạc bất hủ “Người tình Lara” lời Việt do Phạm Duy phổ nhạc với tiếng hát Thanh Lan, cả lời Anh - Việt. Nghe lại tiếng hát ngọt ngào đó, hồi ức về một thời thanh xuân tràn ngập tâm hồn làm lòng tôi rưng rưng: "Người tình thương nhớ, hãy lắng nghe lời mặn mà/ Dù mùa xuân đã chôn vùi bởi làn tuyết kia/ Ngọn đồi trắng xóa, sẽ có hoa mọc đầu mùa/ Người em yêu hỡi, nhớ thương đời đời chớ phai."
Câu chuyện về cuộc đời của Bác sĩ Zhivago qua những éo le tình ái cùng hai phụ nữ Tonya và Lara quanh cuộc cách mạng Nga năm 1917 thoang thoảng trở đi trở lại trong tôi.
*
Mặc dù lấy bối cảnh xã hội là thời gian diễn ra chiến tranh thế giới thứ nhất, cuộc cách mạng Nga và cuộc nội chiến ở Nga, nhưng phim tập trung đề cập đến số phận con người trong chiến tranh. Vượt lên trên tất cả, Doctor Zhivago vẫn là một câu chuyện tình lãng mạn, đau buồn, bất hạnh, nhưng đẹp đẽ.
Tôi đã từng mê mẩn màn diễn của Julie Christie và Omar Sharif, trong vai cặp tình nhân trong phim, là một trong những câu chuyện tình vĩ đại nhất trong lịch sử làm phim. Tôi còn nhớ ngày ấy nhiều người bật khóc khi xem bộ phim này, tôi không biết họ đang yêu, đã yêu hay đánh mất tình yêu mà sao họ tràn ngập cảm xúc đến vậy.
*
Mới đây tôi xem lại “Bác sĩ Zhivago” trên YouTube. Bộ phim dài hơn 3 tiếng, trong tôi như con tàu hơi nước lao ầm ầm vào quá khứ, đưa các nhân vật trong phim đi khắp nước Nga băng giá. Phim trình bày theo lối kể chuyện xen kẽ nhau hai cảnh đời của Dr Zhivago và Lara cho đến khi hai người yêu nhau rồi xa nhau.
Bao phủ hầu hết toàn bộ không gian phim là cái lạnh lẽo của mùa đông và tuyết trắng. Màu trắng rợn trời đến mức ám ảnh tôi. Màu trắng hùng vĩ lộ ra qua ô cửa con tàu, màu trắng choáng ngợp cả dáng bác sĩ Zhivago mệt mỏi, lạnh lẽo bước khật khưỡng trên sông băng, màu trắng sao mà ác nghiệt. Kèm theo đó là nhạc phim “Lara's Theme” – “Người tình Lara” réo rắt làm nền, thiết tha trong tiếng đàn balalaika mang cho tôi cảm nhận, giữa tuyết trắng, con người chỉ còn là một đốm nhỏ - nhỏ nhoi, đơn độc, bất lực và tuyệt vọng. Tôi phát biểu theo cái biết của tôi, hơn bao giờ hết, cách tạo hình này đã nói lên số phận con người trước cái khắc nghiệt của chiến tranh - nguyên nhân của sự li biệt, loạn lạc.
“Bác sĩ Zhivago” là câu chuyện không nhuốm màu thời gian, vượt qua kỷ nguyên bối cảnh trong phim và cả thời kỳ bộ phim được phát hành. Các diễn viên Omar Sharif (diễn viên Thổ Nhĩ Kỳ) là nhân vật chính trong phim, thủ vai Yuri Zhivago, một bác sĩ y khoa và là một nhà thơ. Và Julie Christie (Anh) như thể sinh ra là để hóa thân thành người Nga trong cảnh đoạn trường, mặc dù họ chẳng “dính dáng” gì tới nước Nga.
*
Tiểu thuyết “Bác sĩ Zhivago” đã được chuyển thể thành phim năm 1965, do David Lean đạo diễn, tài tử chính là Omar Sharif và Julie Christie, từng được chiếu ở Sài Gòn trong những năm 1970, nhưng ở Nga, mãi đến năm 1994, phim này mới được trình chiếu. Riêng tôi, mãi đến năm 1972 tôi mới được xem tại Đà Nẵng. Nghĩa là phim “Bác sĩ Zhivago” là một phim bán chạy nhất trên khắp thế giới nhưng chỉ tới được nước Nga sau phong trào Perestroika – giống giai đoạn đổi mới ở đất nước ta.
Ấn bản truyền hình Nga “Bác sĩ Zhivago”, mãi đến năm 2006 mới có, do đạo diễn Alexander Proshkin và thủ vai Zhivago là tài tử Oleg Menshikov, được coi là trung thực với tác phẩm của văn hào Pasternak hơn là cuốn phim năm 1965 của đạo diễn David Lean.
N.P
Chú thích ảnh:
Ảnh1: Affich phim “Doctor Zhivago”
Ảnh 2: Nhân vật Lara do Julie Christie thủ vai trong bộ phim dựng từ tác phẩm năm 1965
Ảnh 3: Hai diễn viên Omar Sharif và Julie Christie trong một cảnh phim Bác sĩ Zhivago.
Ảnh 4: Sharif và bạn diễn Julie Christie trong phim “Bác sĩ Zhivago” (1965).
Ảnh 5: Sharif từng nổi tiếng đào hoa, đa tình, luôn qua lại, hẹn hò với các bạn diễn nữ.
Tác giả Mưa
Tôi sinh ra và lớn lên ở Huế. Không biết vì được mang trong mình âm hưởng nên thơ của dòng sông Hương dịu vợi, của thành quách rêu phong cổ kính hay không mà tâm hồn tôi đặc biệt nhạy cảm. Yêu thích thơ văn và đam mê viết, dù câu thơ lời văn không có gì nổi trội. Vậy nhưng tôi đã dành tất cả tấm lòng của mình đặt vào đó. Đối với tôi, thơ là đời, đời chính là thơ. Khi còn hiện hữu trên thế gian này, tôi vẫn mong muốn mình còn được viết, còn được yêu thương, đón nhận và đồng cảm. (Mưa)
ANH VỀ CHƯA
Anh về chưa? Phố phường giờ đã mỏi
Những sân ga hiu hắt bóng con tàu
Đường qua cũ mấy lần mình chẳng tới
Lỗi hẹn mà chẳng thấy lí do đâu
Anh về chưa? Đêm đã vào giấc mộng
Những hôm khuya sương thẫm vai áo người
Trời lạnh quá em vẫn hoài quên ngủ
Trăn trở vì những chuyện rất xa xôi
Anh về chưa? Tuổi đã gầy như tóc
Em thôi mơ xanh thẳm những cau trầu
Thôi da diết thôi buồn, thôi khóc
Khi nhớ về thuở đó lạc mất nhau
Anh về đi đêm lạnh lùng phiến lá
Bài thơ em viết những tiếng u hoài
Loài giun dế ngoài kia dường như đã
Chán chường nhiều khi tụi mình chia hai.
TRỞ VỀ
Ngược xuôi bao năm rồi cũng quay về
Soi mình xuống giếng nước mái đình của một thời xưa cũ
Ngủ một giấc thật sâu như lâu rồi không ngủ
Thức dậy nhìn lại đời mình đã được tái sinh.
Vứt hết vinh hoa lợi danh về vin lại nghĩa tình
Bôn ba ngoài kia thấy cuộc đời mệt mỏi
Thấy tháng ngày dài mà lòng mình hoang hoải
Kiếm thật nhiều tiền chết mang đi đâu?
Mình đi qua đời mình bằng cuộc bể dâu
Chẳng đủ hiên ngang để lao ra trời rộng
Chỉ ước giản đơn được bình yên mà sống
Nếm hết khổ đau thèm nhỏ bé trong đời
Nhỏ bé để rồi cứ thế mà rong chơi
Tuổi thơ bao dung cho những lần lầm lỗi
Vấp ngã giữa đời nay quay về nhận tội
Bỏ xứ ra đi là mong sống cho mình.
THÔI THÌ SỐNG CŨNG CẦN VUI
Chỉ là như cái phủi tay
Quanh đi quẩn lại đã đầy mười năm
Chuyện xưa dẫu có thâm trầm
Cũng thành sương khói vết dằm lặng yên
Em về sống cảnh điền viên
Bỏ quên tâm sự bên triền dốc xưa
Bốn mùa tuần tự nắng mưa
Lòng tin đã mỏi, thãi thừa đãi bôi
Chiều hôm ra trước hiên ngồi
Nhìn trời nhìn đất để rồi tự an
Trăm năm giữa chốn non ngàn
Có loài chim lạ những tàn lá xanh
Trong lòng em chẳng còn anh
Thế gian được mất loanh quanh kiếp người
Thôi thì sống cũng cần vui
Chia ly hạnh ngộ người ơi... lẽ thường.
NHẮN NGƯỜI
Đành nói vài câu rất vụng về
Nếu mai, nếu mai này mỏi mệt
Hãy ngồi than thở cho ta nghe
Sông lớn, rừng sâu hay vực thẳm
Biển rộng trời cao cứ vẫy vùng
Còn ta chí ta hèn mọn lắm
Chái bếp hiên nhà cạnh con sông.
M.
XUÂN ƠI - TIẾNG LÒNG
* Mai Hạnh
Xuân đến rồi ư? Đến thật rồi
Chồi xanh cuống lá búp lên ngôi
Sao còn gió thả nhành đông đọng
Lại thấy sương sa nhánh hạ vời
Nỗi nhớ từng trao lời bến đợi
Niềm thương cứ vọng tiếng tình ơi
Trăng thu một mảnh, trôi một mảnh
Lặng lẽ người thơ, lặng lẽ thời.
M.H
XUÂN SAY
* Đinh Lốc
(Ô thước kiều liên hoàn)
Tuần rượu tuần trà thơm ngát xuân
Xuân say chếnh choáng cảm hương rừng
Rừng xinh bướm lượn vờn quanh suối
Suối mát tiên đùa múa dẻo lưng
Lưng cũng rung theo đồi núi ngọc
Ngọc còn lẫn khuất chốn vương cung
Cung nghiêm thiếu nữ ôm chân đế
Đế khoái quên luôn tuổi thất tuần.
Đ.L
XUÂN
* Ngô Văn Cư
(Nhất thủ thanh vận trắc)
Xuân đến cùng hoa mang dáng mới
Xuân đem sức mạnh để vươn tới
Xuân vui đất nước lại thêm trang
Xuân đẹp nhân dân đà có lối
Xuân ấm tình thương còn mở mang
Xuân nồng nhân nghĩ nên vun xới
Xuân này khắp chốn mọi người vui
Xuân ngập đỏ trời cờ phất phới.
N.V.C
TIẾC XUÂN
* Lưu Xuân Cảnh
Ở gốc mai vàng rã nhụy hoa
Đời xuân bỏ mặc chuốc thêm già
Đâm chồi giữ hẹn mùa thay lá
Tróc vỏ theo nguyền chỗ lại da
Vội nở rồi khô tàn dễ quá
Nhanh bày lại rũ úa liền qua
Thời gian đã biến quen thành lạ
Rực rỡ chi nhiều sớm để xa!
L.X.C
Tôi lật cuốn tiểu thuyết “Chiếc cầu trên sông Drina” và tôi đã gặp dòng này: Giải Nobel Văn chương năm 1961 được trao cho văn hào, chính trị gia người Nam Tư Ivo Andrić vì “tài năng nghệ thuật sử thi”, cho phép đặt ra những vấn đề và những số phận con người gắn với lịch sử đất nước một cách đầy đủ nhất - theo lý giải của Ủy ban Giải thưởng Nobel của Thụy Điển. Vậy là tôi say sưa với nó, cũng được vài ba ngày, vui sống trong hiện tại. Tôi ghi lại cảm xúc, nghĩ suy sau khi đọc dưới đây.
Nghệ thuật sử thi
Nhà văn Ivo Andic kể chuyện cây cầu trên dòng sông Drina khởi đầu như sau: "Phần lớn dòng chảy của con sông lao qua những hẻm núi hẹp giữa những sườn núi chớn chở hay qua những vực sâu thăm thẳm với những tường đá dựng.
Chỉ ở một vài nơi, bờ sông trải ra hình thành những thung lũng với bờ thoai thoải, một nơi như thế nằm ngay tại tỉnh Viýegrad, ở đó dòng sông bung vỡ thành một dòng uốn cong. Thị trấn Viýegrad nằm hai bên bờ sông và câu chuyện của tôi kể về những mảnh đời ở thành phố này và cây cầu bắc ngang sông Drina."
Đó là chiếc cầu bằng đá mang tên Mehmed Paýa Sokolovic trên dòng sông Drina xanh ngắt, trung tâm của cuốn tiểu thuyết, được ghi chép từ thế kỷ XVI tới năm 1914. Cuốn truyện miêu tả cuộc sống, định mệnh và những mối liên hệ giữa những người cùng thời cư ngụ cùng trên một mảnh đất. Đặc biệt xoáy sâu vào cuộc sống của những người Hồi giáo và Thiên Chúa Giáo Chính Thống sống ở Bosnia và Herzegovina.
Chuyện kể rằng, cuối thế kỷ thứ 4, vua cuối cùng của đế quốc La mã là Theodosius đệ nhất chia lãnh thổ làm hai phần Đông và Tây, giao mỗi phần cho một hoàng tử cai trị, với ranh giới là dòng sông Drina, nay thuộc lãnh thổ Bosnia trên bán đảo Balkans. Dòng sông không chỉ là một biên giới địa lý, mà còn là đường phân thủy của hai dòng văn hóa đông tây nữa. Trên bờ phía đông dòng sông, có một tỉnh nhỏ tên là Visegrad. Đây là nơi đa dạng về văn hóa, chủng tộc và tôn giáo.
Trong khi giới quý tộc theo đạo Hồi, thì giới nghèo theo Thiên chúa giáo La Mã, dân quê theo Chính Thống giáo còn thương buôn là Do Thái. Đế quốc Hồi giáo Ottoman lúc thịnh hành có một quy định đối với các vùng xa, gọi là cống vật bằng máu -huyết cống: thỉnh thoảng quân lính tràn vào phía bờ tây, bắt trẻ trai đưa về làm nô lệ cho giới quý tộc ở thủ đô Istanbul.
Từ một vết thương không kín miệng
Câu chuyện bắt đầu với hình ảnh cậu bé người Serbia bị cướp khỏi bàn tay của người mẹ. Bờ sông Drina chính là điểm chia tay giữa mẹ và con, trước khi đoàn quân lôi đứa trẻ lên yên, quất ngựa phi nhanh, rồi xuống phà qua sông, như đi vào cõi vô tận. Trong tác phẩm “Chiếc Cầu Trên Sông Drina”, Andric tả lại cảnh những bà mẹ chia tay con mình:
"Những bà mẹ này chạy theo các con, vừa chạy vừa kêu khóc, cho tới khi tới bờ sông và đứa nhỏ được đưa xuống phà. Tới đây thì họ kiệt lực và cũng không thể theo qua bên kia sông."
Vĩnh viễn mẹ con chia cách nhau. Những đứa trẻ sẽ trở thành người Hồi giáo và mang tên Thổ. Tại thủ đô, những đứa thông minh, mặt mũi sáng sủa cũng có khi đựơc chọn lựa và huấn luyện để trở thành quân nhân. Một trường hợp vô tiền khoáng hậu xảy ra, vào cuối thế kỷ 16, là một trong các trẻ ấy trở thành tể tướng của đế quốc Ottoman (Thổ Nhĩ Kỳ), tên là Mehmed Paýa Sokolovic.
Vị đại quan ấy dù đã lên đến tột đỉnh danh vọng, vẫn mang trong lòng một vết thương không kín miệng, đó chính là dòng sông Drina ngăn cách ông mãi mãi với người mẹ thân yêu. Chỉ có một cách để hàn gắn vết thương là cho xây một cây cầu nối liền hai bên bờ ngay tại tỉnh Viýegrad.
Cuốn tiểu thuyết lấy chiếc cầu như một sân khấu, mà cũng là một chứng nhân, một sợi chỉ xuyên suốt thời gian hơn 300 năm. Quãng thời gian đó, tại đây - một trong những khu vực đa dạng nhất trên thế giới, luôn có những mâu thuẫn có khi không thể dung hợp nhau, đưa đến sự bùng nổ của thế chiến thứ nhất, khiến cây cầu bị phá hủy một phần.
*
Việc xây dựng cây cầu khởi sự vào năm 1566 và năm năm sau thì hoàn thành, thay thế cho chiếc phà cũ kỹ đưa người qua sông. Lúc cây cầu bắt đầu đựơc xây dựng, nỗi uất ức của những con người đói khát bị đánh đập, hành hạ và lao động khổ sai đã đưa đến tin đồn là thần linh không muốn cây cầu đựơc hoàn thành.
Radisav, người tung tin đồn đó bị bắt, và bị kết tội chết bằng cách đóng nọc.
Hình ảnh kinh hoàng của một con người giống như ngồi trên một cái sào cao ngất dựng bên cầu đã là động lực thúc đẩy những con người bất hạnh lao động nhanh hơn, mạnh hơn và chăm chỉ hơn.
Cây cầu khi đã hoàn thành với cái kapia- giống như cái bốt gác ở giữa một bên cầu, liền trở thành trung tâm sinh hoạt của Viýegrad. Đời sống cứ trôi đi, cứ đổi thay, thế hệ này tiếp theo thế hệ khác như dòng nước chẩy qua chân cầu. Nhưng chính cây cầu thì vẫn còn đó, với mây bay trên cao và nước xanh chảy xiết bên dưới. Cây cầu không nói, không phản ứng mà chỉ ghi nhận.
Những chú bé vẫn ra bờ sông ngồi câu cá nơi mà cha anh đã từng ngồi câu trứơc đây. Rồi chú lớn lên, đi qua cầu để bước vào một cuộc sống khác. Có khi không bao giờ trở về, cũng có khi lê bước mỏi trở lại cây cầu với gánh nặng của đời sống và tuổi tác trên vai. Nhưng cây cầu thì vẫn thế, đá vẫn lên nứơc sáng bóng và nước sông vẫn cứ sủi bọt khi đụng vào chân cầu.
*
Chiếc cầu vẫn còn đó đời đời
Là tâm điểm trong tiểu thuyết mang tính sử thi, cây cầu danh tiếng này mang tên vị Tổng trấn Mehmed Paša Sokolović và được xây dựng trong thời gian 1571-1577. Với chiều dài gần 180m và có 11 vòm xây bằng vữa, đây là một kiệt tác kiến trúc thế kỷ 16 thời Đế quốc Ottoman. Chứng kiến những thăng trầm của đất nước, cầu Mehmed Paša Sokolović đã thực sự “khóc cười theo vận nước nổi trôi”.
Nó từng bị phá hỏng 3 vòm cầu trong Đệ nhất Thế chiến, và toàn bộ 5 vòm cầu trong Thế chiến thứ hai. Cầu cũng đã phải chịu nhiều lần nước lụt, lũ khắc nghiệt. Cho dù đã đuợc tu sửa, nhưng thời gian và chiến tranh khắc nghiệt đã làm mất đi nhiều nét huy hoàng của một công trình kiến trúc rực rỡ thời Phục Hưng tại Bosnia. Năm 2007, UNESCO đã đưa cây cầu vào danh sách di sản văn hóa như một sự vinh danh xứng đáng dành cho di tích này.
N.P
*
Xúc cảm của tôi
Tôi đọc “Chiếc cầu trên sông Drina” từ hồi còn rất nhỏ, lúc đó tâm trạng mau xúc động một cách dễ dãi của tuổi bé thơ, có nhiều đoạn làm tôi rơm rớm nước mắt. Tiểu thuyết gồm 25 chương mà theo tôi mỗi chương là một truyện ngắn, tập họp của một chuyện dài đa dạng và vô thường như chính đời sống và lịch sử. Dòng sông Drina vẫn trôi đi và cây cầu vẫn đứng đó, ghi nhận bao chuyện buồn vui của kiếp người. Tôi nhớ hoài đoạn văn nhà cầm quyền hành hình một người cầm đầu toán phá cầu để phản đối chế độ hà khắc, áp chế người dân đi làm cầu.
Người ta trói ngửa người bị hành hình trên đất, lấy một cây nọc dài quá thân người, vót nhọn, đầu bọc đồng, cứ thế từ từ đóng từ hậu môn xuyên qua các bộ phận nội tạng, đến khi cây nọc ló ra khỏi cổ phía sau nạn nhân. Người ta dựng thân hình đó lên bêu giữa chợ để mọi người nhìn thấy mà sợ, không dám nổi loạn. Hồi đó đọc đến đoạn này tôi lướt qua, không dám đọc, tôi nghĩ làm sao lại có loại người tê liệt cảm xúc, vô cảm, tàn nhẫn đến vậy. Hay là họ bị đánh thuốc mê để đan tâm làm cái việc không ai dám làm ấy.
CÁCH NHẬP COMMENT TRÊN HƯƠNG QUÊ NHÀ
Đầu tiên, nhấp chuột vào ô Nhập nhận xét của bạn rồi viết comment. Viết xong, nhấp chuột vào ô Tài khoản Google. Sau đó nhấp chuột vào Tên/URL thì sẽ hiện ra 2 ô. Ô phía trên, ghi Họ và tên của bạn. Ô phía dưới, ghi dòng chữ:huongquenha.com
Cuối cùng, nhấp chuột vào ô Tiếp tục và nhấp chuột tiếp vào ô Xuất bản là xong. (Nếu bạn đã có sẵn Tài khoản Google, thì sau khi viết comment, chỉ cần nhấp chuột vào ô Xuất bản là thành công)