THƠ DU DƯƠNG HAY TỤNG CA DU DƯƠNG – Bài của Nguyễn Hữu Quý



Cuộc hội thảo về thơ Nguyễn Quang Thiều do Viện Văn học tổ chức vừa qua theo tôi là một việc bình thường. Không thể không thừa nhận rằng, thơ Nguyễn Quang Thiều đã tạo ra được sự chú ý của người viết, người đọc với những đánh giá trái chiều, khen chê rất khác nhau. Có người chê thơ Thiều đến thậm tệ, mà điển hình có lẽ là nhà thơ Trần Mạnh Hảo và nhà thơ Đỗ Hoàng. Trần Mạnh Hảo không ngần ngại gọi thơ của Nguyễn Quang Thiều là thơ Tân…con cóc và thi sĩ “đáo để” này còn thử làm ra mấy bài “nhái” theo kiểu của kẻ bị chê. Đỗ Hoàng thì gọi thơ Nguyễn Quang Thiều là kiểu thơ vô lối (chắc anh mượn ý của Chế Lan Viên: Nhân loại đi xa chớ có vẽ bày/ Từ ngữ kềnh càng, văn chương vô lối) và anh đã dịch thơ của đương kim Phó Chủ tịch Hội Nhà văn Việt Nam này từ tiếng Việt ra tiếng Việt. Trái với luồng dư luận chê là dòng dư luận khen nức nở thơ Nguyễn Quang Thiều mà tập trung đậm đặc nhất ở trong hội thảo thơ ông vừa rồi. Trong những lời tụng ca, có một ý làm tôi thực sự băn khoăn và nghi ngờ, đó là: thơ Nguyễn Quang Thiều đã tạo ra trường thẩm mỹ mới, khước từ mọi sự véo von nhễ nhại, du dương tội nghiệp…
Từ ý tứ phát biểu trên đây mà suy ra thì thơ Nguyễn Quang Thiều rất mới, rất khác với những gì đã có, đang có ở Việt Nam từ trước tới nay, kể cả dòng thơ kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược của văn học nước ta. Nói như thế cũng có nghĩa: sự véo von nhễ nhại, du dương tội nghiệp là cái có thật, cái đã có trong thơ ca nước nhà ở thì quá khứ, và đương nhiên đã muôn vàn cũ rích cần phải chối bỏ, đoạn tuyệt.
Theo Từ điển tiếng Việt do Viện Ngôn ngữ học biên soạn thì du dương có nghĩa là trầm bổng, ngân vang một cách êm tai. Vậy, thơ du dương theo cách nghĩ của người phát ngôn là gì? Phải chăng là kiểu thơ, giọng thơ lấy âm hưởng ngợi ca làm chủ đạo hay ru ngủ bạn đọc bằng những giai điệu êm ả, dìu dặt. Phải chăng, đấy là các bài thơ thích hợp cho sự ngâm chứ không phải để đọc và tương ứng với hình thức trình diễn ấy là thơ để thuộc, để nhớ đến từng con chữ. Có thái quá và lầm lẫn không trong lời biểu dương hào hứng ấy?
Thực chất, nếu hiểu theo cách đơn giản thì du dương cũng là một loại nhạc tính trong thơ, tôi nghĩ thế. Thơ, chứa trong mình nhiều cung bậc tình cảm, nhiều điệu tâm hồn khác nhau nên nó cũng dữ dội hay dịu êm như con người, chứ sao. Sự trầm bổng, ngân vang của thi ca nếu có cũng chỉ là nhịp điệu, tiết tấu của thơ mà thôi. Nếu đúng vậy thì sự du dương trong thơ có gì phải xấu hổ tội nghiệp đâu. Thơ có thể tiệt tiêu vần nhưng không thể xóa bỏ tiết tấu, nhịp điệu được. Tiết tấu, nhịp điệu chính là đôi cánh của hình ảnh, chi tiết, ngôn ngữ trong hành trình triển khai cảm xúc, ý tưởng của người sáng tác thơ. Tôi nhớ Hữu Thỉnh có những bài thơ, câu thơ giàu nhạc tính và nhờ thế mà nó được nhiều người nhớ, nhiều người thuộc, nhiều người thích. Bài Phan Thiết có anh tôi tràn ngập sự đớn đau da diết là một ví dụ rõ ràng về điều tôi vừa nói hay câu thơ này cũng vậy: Một đời người mà chiến chinh nhiều quá/ Em níu giường níu chiếu đợi anh. Cái sự ngân rung vang vọng trong câu thơ ấy đã rọi chiếu vào nỗi xót xa, nhẫn nhịn thăm thẳm và sức chịu đựng kỳ vỹ của con người Việt Nam. Nếu cũng cái ý ấy, cảm xúc ấy mà viết như thế này: “Hai mươi năm, ba mươi năm, bốn mươi năm, đời người trải qua bao cuộc chiến chinh / Những người đàn bà đất nước tôi níu chiếu, níu giường đợi người trở lại” thì chắc ai cũng bĩu môi chê dỡ. Sẽ là vụng về biết bao khi câu thơ này của Trần Đăng Khoa: Mái gianh ơi hỡi mái gianh/ Ngấm bao mưa nắng mà thành quê hương bị biến thành: “Mái gianh ơi, mái gianh hỡi, ngấm bao nhiêu mưa, ngấm bao nhiêu nắng/ Mà thành quê hương tôi”…Tuy nhiên, là nhà thơ có nghề không ai viết như thế cả. Ở đây, tôi muốn so sánh những câu thơ mang ý tưởng, cảm xúc và hình ảnh như nhau nhưng một bên có tiết tấu âm điệu (đôi lúc êm ái du dương như câu ru) còn một bên không quan tâm tới cái đó thì chất lượng giá trị nghệ thuật sẽ rất khác nhau. Trong ví dụ trên, chất lượng thơ thu hái được quả là một trời, một vực. Tôi nghĩ, đổi mới gì thì đổi, cách tân gì thì cách cũng đừng xem nhẹ sự cô đọng, súc tích cũng như tính nhạc trong thơ. Yêu nhau đến mấy cũng phải sòng phẳng, chứ khen đại, cổ súy thái quá đôi khi sẽ làm hại cho thơ ca dân tộc đấy.
Trong ca dao và thơ lục bát – những thể loại truyền thống của thơ Việt, chấtdu dương khá rõ, bởi kết cấu câu sáu-tám của nó và luật về vần, thanh (bằng trắc) rất nhịp nhàng, dìu dặt và uyển chuyển. Tuy nhiên, khả năng chuyển tải tình cảm, ý nghĩ, sự vật của nó không thua kém thể loại thơ nào mà minh chứng rõ ràng nhất, sinh động nhất là Truyện Kiều của Nguyễn Du, thơ lục bát của Nguyễn Bính và sau này là Nguyễn Duy, Đồng Đức Bốn…Cái sự du dương đầy âm hưởng, âm sắc Việt đó chẳng có gì là kém cạnh, tội nghiệp cả. Tôi biết, Hữu Thỉnh và cả Nguyễn Quang Thiều nữa đã có những du dương đầy xúc động, ấn tượng trong các bài thơ lục bátTrông ra bờ ruộng  Bây giờ đã cuối mùa đông. Đây, du dương Hữu Thỉnh: Mẹ tôi gạt cỏ bước lên/Cỏ dày, cây lúa phải chen nhọc nhằn/ Xòe tay tính tháng tính năm/Tính người, nào biết xa xăm cõi người/Gié thơm ai đã gặt rồi/Đồng quang, bóng mẹ nắng nôi một mình và đây là du dương Nguyễn Quang Thiều: Bây giờ đang cuối mùa đông/Làng bao cô gái lấy chồng đi xa/Chút chiều hoa nắng ngõ nhà/Tôi đi, tôi đứng để mà vu vơ./Bây giờ lấm tấm lộc mơ/Lưa thưa lộc khế, lơ thơ lộc đào/Tình tôi có chút lộc nào/Nẩy xanh qua tiếng thét gào bão mưa/Bây giờ cải đã thành dưa/Làng bao cô gái cũng vừa lớn lên/Ra đường gặp tiếng xưng “em”/Đêm về tôi với ngọn đèn nhìn nhau. Tôi thấy du dương êm dịu mà vẫn hay chứ có gì tội nghiệp đâu nào.
Trong Thơ mới 1930 – 1945, không thiếu những bài thơ, câu thơ trầm bổngdu dương mà tuyệt hay của Thế Lữ, Huy Cận, Xuân Diệu, Nguyễn Bính, Hàn Mặc Tử, Yến Lan, Lưu Trọng Lư…Đó là những bài thơ Nhớ rừng (Thế Lữ),Tràng Giang (Huy Cận), Nguyệt cầm (Xuân Diệu), Chân quê (Nguyễn Bính), Mùa xuân chín (Hàn Mặc Tử), Bến My Lăng (Yến Lan), Tiếng thu(Lưu Trọng Lư)…đến bây giờ đọc lên vẫn hay, vẫn quyến rũ. Một phần của sự hay theo tôi là nhờ vào chất nhạc đầy ắp trong những bài thơ đó.
Trong kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ có những bài thơ, câu thơ hay bởi sự dìu dặt, dịu dàng và có cả những bài thơ hay nhờ cái mạnh mẽ, dữ dội hoặc trộn lẫn cả hai. Trường hợp thứ nhất (tạm gọi thơ du dương) có thể kể đến Thăm lúa của Trần Hữu Thung, Đồng chí của Chính Hữu, Bầm ơi của Tố Hữu, Đêm nay Bác không ngủ của Minh Huệ thời chống Pháp; những Gửi em, cô thanh niên xung phong, Trường Sơn đông, Trường Sơn tây của Phạm Tiến Duật, Cây xấu hổ của Anh Ngọc, Khúc hát ru những em bé ngủ trên lưng mẹ của Nguyễn Khoa Điềm, Tre Việt Nam của Nguyễn Duy, Khoảng trời hố bom của Lâm Thị Mỹ Dạ…thời chống Mỹ. Trường hợp thứ hai (tạm gọi thơ dữ dội) như Đèo Cả của Hữu Loan, Nhớ máu của Trần Mai Ninh thời chống Pháp; Đây Việt Bắc của Trần Dần (sau năm 1954). Trường hợp thứ ba (trộn lẫn cả du dương  dữ dội) có Bên kia sông Đuống của Hoàng Cầm, Màu tím hoa sim của Hữu Loan…thời chống Pháp; Đất nước trong Mặt đường khát vọng của Nguyễn Khoa Điềm, Nấm mộ và cây trầm của Nguyễn Đức Mậu, Lý ngựa ô ở hai vùng đất của Phạm Ngọc Cảnh…thời chống Mỹ…
Dạng thơ tự do, ngắt câu xuống dòng khúc khuỷu, hiện thực trần trụi đã có từ trước, từ lâu. Năm 1946, Trần Mai Ninh đã viết: Ơ, những người/ Đen như mực, đặc thành keo,/ Tròn một củ,/ Hay những người gầy sắt lại/Mặt rẹt một đường gươm/ Lạnh gáy…/Lòng bàn tay/ Khắc ấn chuỗi dao găm./ Chân bọc sắt,/ Mắt khoét thủng đêm dày,/Túi chứa cả Nha Tranghọ bước và cũng từ năm ấy, Hữu Loan đã có những câu: Sau mỗi lần thắng/ Những người lính Đèo Cả/ về bên suối đánh cờ/ Người hái cam rừng/ ăn nheo mắt/ Người vá áo/ thiếu kim/ mài sắt/ Người đập mảnh chai/ vểnh cằm/ cạo râu…/Suối mang bóng người/ soi/những/về/đâu/?!
Như vậy thì kiểu thơ không du dương và trần trụi như Nguyễn Quang Thiều viết: Những ngón chân xương xẩu, móng dài và đen tõe ra như móng chân gà mái…trong bài Những người đàn bà gánh nước sông cũng không có gì mới mẻ đến mức ta phải ngạc nhiên, sững sờ. Vấn đề đáng quan tâm là nó hay hoặc dở? Thơ Thiều có những hình ảnh lạ như: Sông gục mặt vào bờ đất lần đi…, những sự liên tưởng độc như: Những con cá thiêng quay mặt khóc/ Những chiếc phao ngô chết nổi hoặc ý tưởng thâm thúy: Và cá thiêng lại quay mặt khóc/ Trước những lưỡi câu ngơ ngác lộ mồi…Ghi nhận Nguyễn Quang Thiều, theo tôi, là ở những chỗ đấy chứ không phải là sự chối bỏ, khước từ sự véo von nhễ nhại, du dương tội nghiệp như ai đã nói.
Trong cảm nhận của riêng tôi, thì kiểu viết của Nguyễn Quang Thiều chưa phải là sự khai mở cho thơ Việt hiện nay vì nó khá giống với kiểu diễn đạt như thế này: Tôi nghe tiếng thét của những đứa trẻ/ bị bom nổ tung thành nhiều mảnh/ Những quả bom được chỉ dẫn chính xác vào một căn phòng/ trong ngôi nhà bên cạnh/ Ở đó một “mục tiêu” đã sống/ hoặc không sống; vậy đó/ Những xác chết chồng lên nhau/ như thể đang chất trên vai tôi/ Chẳng có chỗ cho phép ẩn dụ/ Chồng xác chết mọc cao lên, cao lên…(Thơ của Bruce Weigl-Mỹ).
Tôi tin vào lòng yêu nguồn cội và thi ca của Nguyễn Quang Thiều cũng như tin vào động lực làm mới thơ rất chân chính của anh nhưng thành công hay chưa thì theo tôi, có lẽ câu trả lời đang ở phía trước.
Đồng Xa, đầu tháng 7 năm 2012
N.H.Q
(Nguồn: nguyenhuuquy.vnweblogs.com)

Read more…

LỜI RU THÊM BUỒN – Truyện ngắn Jeffrey Thai


Em là cô giáo mà tôi quen ở ngôi trường cấp ba nơi tôi đến thực tập. Gọi là "em" chứ em không nhỏ tuổi hơn tôi. Em ra trường trước tôi một năm nên có thể suy ra là em hoặc bằng, hoặc lớn hơn tôi một tuổi. Dẫu vậy, trên thực tế trông tôi già dặn hơn em. Đàn ông mà! Em luôn gọi tôi bằng anh và xưng tên rất dịu dàng, trong khi tôi gọi em bằng tên và vì không lớn hơn em, chỉ dám xưng tôi mà thôi. Trong khoảng thời gian hai tháng thực tập, em và tôi thỉnh thoảng có gặp nhau ở sân trường hay trong phòng họp, nhưng chỉ chuyện vãn với nhau đôi ba câu chuyện bâng quơ nên không hẳn là thân lắm. Mối quan hệ giữa em và tôi chỉ bắt đầu trở nên thân hơn sau khoảng thời gian đó, khi tôi trở về thành phố Tây Đô - nơi tôi đang học, còn em trở về đó hàng tuần để thăm nhà. Vì khoảng cách từ trường về nhà chỉ tốn khoảng hơn nửa tiếng, nếu đi bằng xe lam, nên hầu như tuần nào em cũng về thăm nhà. 

Lý do tôi tìm đến nhà em là để nhờ em chuyển giùm tôi mấy cái lá thơ tôi viết cho học trò thực tập của mình. Em ngạc nhiên lắm vì tuần nào cũng thấy một xấp thơ hơn chục cái trên tay tôi. Rồi từ thoáng ngạc nhiên ban đầu, em dần trở nên quen thuộc với điều đó và trở thành người đưa thư giữa "hai đầu nỗi nhớ". Có lẽ sự thương yêu sâu đậm những đứa học trò đầu đời đã là mối đồng cảm liên kết em và tôi. Em nói ngày phải xa chúng, em cũng đã phải mất một thời gian khá lâu mới lấy lại được sự quân bình. Còn với tôi, dẫu đó là một ngày đã được định trước, sự biệt ly vẫn tác động vào lòng tôi thật mạnh và để lại một nỗi hụt hẫng lớn. 

Nỗi hụt hẫng ấy giống như cái cảm giác ta đột nhiên rơi thật nhanh và thật sâu xuống phía dưới, từ một đỉnh hạnh phúc ở trên cao. Rơi xuống và tiếp tục rơi xuống như thế. Bất chấp mọi nỗ lực tuyệt vọng nhằm bám víu thêm một vài giây phút nữa vào thiên đường xúc cảm vừa đánh mất. Đã có nhiều giọt nước mắt tuôn rơi. Đã có nhiều tiếng khóc nghẹn ngào. Không kìm nén được. Vào ngày chia ly ấy, ngoài trời mưa chỉ rơi lất phất thôi nhưng bên trong tôi, có một cơn mưa rất lớn làm ngập lòng. Tôi nhận ra một cái gì đó quá đỗi thân yêu vừa tuột ra khỏi đời mình và có lẽ chẳng bao giờ còn quay trở lại, một cái gì đó quá đỗi quí giá vừa vỡ vụn, tan tác và chẳng bao giờ còn có thể trở lại nguyên vẹn như xưa. 

Nghề giáo nghĩ cũng lạ! Tiền thì không nhiều, nhưng tình thì thật quá bao la. Nói về học trò thì nói đến bao giờ cho hết chuyện, nên những lần gặp gỡ cuối tuần giữa em và tôi cứ ngày càng dài ra. Khi thì ở nhà em, khi thì nơi quán vắng, em và tôi ngày càng trở nên gần gũi nhau hơn nhiều lắm. Và những câu chuyện cứ nối tiếp nhau như trong truyện "Nghìn lẻ một đêm". Em như đắm chìm mê mỏi và say đắm vào trong từng lời tôi nói về những đứa học trò của mình và những kỷ niệm với chúng. Tôi cũng lắng nghe những gì em kể về một năm dạy học vừa qua của em với rất nhiều thú vị. Có lẽ em là người con gái mà tôi có cảm giác thú vị nhất từ trước đến giờ khi cùng trò chuyện. Mái tóc dài dợn sóng, rẽ đôi với ánh mắt to tròn, chăm chú là một hình ảnh ngày càng trở nên thân thương với tôi hơn. Cũng chính ánh mắt đó của em đã phản bội em mà tiết lộ cho tôi biết rằng dường như tôi là những gì mà em đã hằng ấp ủ và chờ trông. Chỉ có điều sâu thẳm trong tận cùng của ánh mắt ấy là một nỗi buồn rất lạ mà cho đến sau nay tôi mới hiểu.

Tôi bắt đầu chú ý hơn đến nỗi buồn ấy trong mắt em kể từ sau hôm em và tôi nói với nhau về mơ ước. Tuổi trẻ thường có nhiều mơ ước và luôn mong mỏi chúng rồi sẽ trở thành hiện thực trong cuộc sống. Với lứa tuổi đôi mươi của mình, tôi cũng thế và nghĩ rằng có lẽ em cũng thế. Nhưng tôi đã rất ngạc nhiên khi em nói với tôi rằng:
- Anh biết không? Đan thích mơ mộng lắm. Đan cứ luôn mơ những mộng ước thật đẹp. Nhưng có điều Đan muốn mơ cứ mãi là mơ thế thôi. 
- Sao thế ? Ai mơ cũng muốn ước mơ của mình thành sự thật mà, sao Đan lại thế?
- Đan cũng không hiểu sao nữa. Đan luôn có một dự cảm không hay về sự thật. Anh biết không, Đan đã từng viết một bài thơ mà trong đó có một câu thơ như thế này: "Có những ước mơ chưa mơ đã thành sự thật!".
- Câu thơ hay và lạ, nhưng buồn quá, Đan à!

 ...
*
*     *



Chỉ còn vài tuần nữa là tôi xong kỳ thi tốt nghiệp đại học. Tôi bắt đầu nghĩ đến chuyện về thăm lại những đứa học trò thực tập của mình. Có lẽ chưa có ai nhớ học trò nhiều như tôi đã nhớ. Chưa có ai viết thơ và nhận thơ của học trò nhiều như tôi đã viết và nhận. Thấy tôi "tương tư" học trò mình như thế, em cứ hay chọc ghẹo tôi hoài. Em hay luôn miệng bảo tôi:
- Anh lãng mạn quá, lãng mạn tràn bờ. 
- Lãng mạn có nghĩa là tràn bờ, đã lãng mạn mà còn tràn bờ nữa thì làm sao mà sống nổi Đan. 

Tôi đáp trả lại với em như thế, biết rất rõ rằng lời của em là lời của thương yêu. Tôi cảm nhận được rằng tình bạn giữa em và tôi đã bắt đầu từ cái lãng mạn đó và cũng phát triển trên cái nền "tràn bờ" đó. 

Tôi đem ý định sẽ cùng em trở về ngôi trường cũ, ghé thăm các học sinh cũ của tôi ra bàn với em. Em vui vẻ nhận lời ngay lập tức, không một phút do dự. Rồi em và tôi mải mê chìm đắm vào trong một giấc chiêm bao. Trong giấc chiêm bao đó, em trong tà áo dài trắng trinh nguyên cùng tôi trên một chiếc xe đạp vượt qua một quãng đường thật dài để tìm về lại khoảng trời nhung nhớ của tôi. Rồi em và tôi sẽ đi lại qua từng con đường phố huyện đong đầy nỗi nhớ, sẽ đến từng nhà để thăm lại từng em học sinh thân yêu của tôi. Ngày về ấy mang cái dáng nét lãng tử huy hoàng của một chàng trai về lại chốn xưa sau những tháng ngày trôi nổi bềnh bồng vô định. Và chàng không chỉ về một mình. Chàng về lại với một chút tin yêu chàng vừa vô tình bắt gặp được đâu đó trên dòng đời phiêu bạt. 

Nhưng giấc chiêm bao ấy, với tôi, đã chỉ muôn đời là một ước mơ. Còn với em, phũ phàng hơn thế, nó là một... niềm đau: Một ước mơ chưa mơ đã thành sự thật. Chỉ đến sau này, tôi mới hiểu hết được những gì em muốn gửi gắm vào câu thơ định mệnh ấy của đời em: "Có những ước mơ chưa mơ đã thành sự thật!" Với em, hai khái niệm "ước mơ" và "sự thật" là hai khái niệm hoàn toàn tương phản và độc lập: "ước mơ" tượng trưng cho những gì đẹp đẽ và "ước mơ" chỉ thực sự là "ước mơ" khi nó còn ở trong mơ; còn "sự thật" lại là hiện thân của những gì chua xót, bi thương và đổ vỡ. Do đó, khi "ước mơ" trở thành "sự thật" có nghĩa là tan rồi, đỗ vỡ rồi một lâu đài trên cát được dựng xây bằng những huyễn mộng. Khi "ước mơ" trở thành "sự thật" có nghĩa: đó là một dấu chấm hết nghẹn ngào, không ai mong đợi, không ai kiếm tìm.

*
*     *

Tôi đến nhà em vào buổi chiều ngay trước ngày dự định của chuyến đi, sau khi vừa xong kỳ thi tốt nghiệp. Em xuất hiện ở bục cửa, tóc hờ hững rối và khuôn mặt đượm buồn. Tôi linh cảm có chuyện gì đó chẳng hay. Ngồi thừ xuống chiếc ghế trước hàng hiên và ra dấu cho tôi ngồi xuống ở một chiếc ghế gần đấy, em tiếp tục buông mình vào trong một sự im lặng thật sâu như thể chẳng còn gì hiện hữu trên cõi đời này. Đợi một lúc lâu, tôi lên tiếng hỏi em với giọng bồn chồn, lo lắng: 
- Sao thế Đan? Có chuyện gì thế Đan?
Em vẫn tiếp tục im lặng như thế thêm một lúc nữa. Cuối cùng, em cất giọng với một giọng nói buồn như tiếng khóc: 
- Ngày mai Đan không thể đi cùng với anh được, anh à! 
Ngỡ ngàng với câu trả lời mà tôi không hề mong đợi ấy, tôi hỏi lại em với giọng đầy thảng thốt: 
- Sao lại thế Đan? Mình đã tính trước từ mấy tuần nay rồi kia mà. 
Em quay đi như để tránh nhìn vào mắt tôi. Có lẽ em không muốn nhìn thấy một nỗi thất vọng vô bờ đang dâng tràn trong ấy. Vẫn với ánh mắt nhìn về một phía khác xa xăm, em cất tiếng thì thào hỏi tôi: 
- Anh còn nhớ Hùng không? 
- Hùng nào? Có phải thầy dạy chung trường với Đan không? 

Em khẽ gật đầu - một cái gật đầu vô hồn, rồi tiếp lời: 
- Phải, anh ạ. Anh ấy và Đan... sắp kết hôn... trong một ngày... rất gần. 
Dường như phải khó khăn lắm, em mới có thể nói nốt câu nói đó. Rồi với một cung điệu thật trầm, em bắt đầu kể về những gì mà em hằng chôn giấu từ bấy lâu nay: 
- Hùng là bạn học chung lớp của Đan kể từ những ngày còn ở Đại Học. Ngày ấy hai đứa cũng khá thân với nhau nhưng chỉ xem nhau như bạn bè thôi. Anh ấy chỉ bắt đầu ngỏ lời yêu Đan kể từ khi hai đứa cùng được phân công về giảng dạy tại trường này. 
Tôi khẽ ngắt lời em để hỏi: 
- Thế rồi Đan có nhận lời không? 
Em trả lời với một giọng điệu thẩn thờ: 
- Đan cũng không nhớ rõ mình đã trả lời như thế nào nữa. Đan chỉ nhớ là mình không chính thức nhận lời, nhưng cũng không từ chối. Hùng và Đan đã quen biết nhau lâu rồi và ảnh luôn quan tâm chăm sóc cho Đan trong suốt những tháng năm đó. Đan đã quen với sự quan tâm và chăm sóc đó đến nỗi Đan cứ tưởng rằng Đan đã phần nào yêu Hùng. Một năm đi dạy xa nhà vừa qua là những tháng ngày xa nhà đầu tiên của Đan. Đan cảm thấy bỡ ngỡ và lẻ loi lắm, và Hùng đã làm một chỗ dựa tinh thần rất vững chắc cho Đan. Thời điểm đoàn anh về thực tập cũng chính là lúc Hùng đã đặt vấn đề hôn nhân với Đan. Đan đã hứa với Hùng là sau khi niên học năm nay kết thúc, Đan sẽ chính thức trả lời cho Hùng biết là Đan có đồng ý hay không.
Khi em nói đến đó, tôi khẽ chen vào hỏi vì thấy em nói cũng đã khá lâu: 
- Và Đan vừa trả lời với Hùng là Đan đồng ý, phải không? 
Em khẽ gật đầu thay cho câu trả lời, trong khi đó thì trong lòng tôi lại dâng đầy bao băn khoăn, trắc ẩn: 
- Nếu Đan đã quyết định như thế rồi thì có gì mà Đan lại có vẻ u sầu đến thế kia? Việc Đan có đi hay không đi vào ngày mai có gì là quá quan trọng đâu? 
Em trả lời, giọng đầy thổn thức: 
- Quan trọng chứ sao không anh? Nó là cả một niềm mơ đối với Đan mà. Đã bao ngày đêm qua Đan thấy mình đắm chìm trong giấc mơ đó. Và lần đầu tiên, Đan cảm nhận được thế nào là hạnh phúc - một thứ hạnh phúc thực sự mà Đan luôn mong mỏi. Nhưng có lẽ Đan không có đủ may mắn để được hưởng thứ hạnh phúc đó. 
Nói đến đây, giọng của em trở nên nghẹn ngào và những giọt lệ bắt đầu trào ra khỏi đôi mắt u hoài của em và lăn dài xuống. Tôi ngỡ ngàng trước những lời bày tỏ mà lần đầu tiên em thố lộ cùng tôi. Với nỗi xót xa dâng ngập lòng, tôi ấp úng hỏi em: 
- Đan nói như thế có nghĩa là... Đan không yêu Hùng sao? Thế thì sao Đan lại chấp nhận lấy Hùng chứ? 
Vừa nuốt những giọt nước mắt đang chảy trên bờ môi, em vừa trả lời với một giọng thật trầm như thể em đang độc thoại với chính bản thân mình: 
- Phải, Đan vừa nhận ra là Đan chưa hề bao giờ yêu Hùng. Và từ trước đến giờ Đan cứ nghĩ rằng hôn nhân đâu cần gì đến tình yêu, cho đến khi... anh xuất hiện trong đời Đan. Hôm qua, khi Hùng đến để nghe câu trả lời của Đan, nhìn sự hồi hộp và mong chờ quá thiết tha của Hùng, Đan đã không thể đành lòng để nói lời từ chối. Phải, anh ơi, Đan vừa thực hiện một quyết định đau lòng: Đan chấp nhận làm một kẻ khổ đau hơn làm một người phản bội. Ôi, uớc mơ của Đan chưa mơ đã trở thành sự thật rồi. 
Vừa dứt những lời cuối cùng, em bật òa lên, ôm mặt khóc nức nở, mái tóc rối bập bềnh trên đôi vai run. Tôi ngồi chết điếng lắng nghe những gì em nói, mỗi lời như cứa vào lòng tôi gây nhức nhối. Tiếng òa khóc của em đánh thức tôi khỏi nỗi ngỡ ngàng quá lớn. Tôi chưa kịp đến bên em để vuốt ve, an ủi thì em đã vụt chạy vào nhà trong và lẫn khuất sau tấm màn cửa. 

Tôi ngồi bất động thêm một lúc lâu với cõi lòng tê tái. Biết rằng em sẽ không trở ra nữa, tôi lặng lẽ ra về, lòng trĩu nặng một mặc cảm tội lỗi mơ hồ. Chợt muốn quay lại để bảo với em rằng: "Em ơi, em không có lỗi gì cả. Lỗi là ở những ước mơ - những ước mơ chưa cho em mơ mà đã vội hóa thành sư thật." Muốn vậy mà chẳng thể làm được.

*
*     *


Một năm sau khi ra trường và đi dạy ở vùng, tôi có dịp quay lại Tây Đô. Một người bạn quen cho tôi hay rằng em đã lấy chồng vài ba tháng sau đó. Một lần tình cờ đi ngang qua khúc sông gần nhà em, tôi chợt nghe văng vẳng đâu đó trên sông vang lên những lời hát thật buồn làm tôi chợt thấy nhớ em... da diết:
Lời ru buồn,
nghe mênh mang mênh mang, 
sau lũy tre làng,
khiến lòng tôi xôn xao. 
Ngày lấy chồng em đi qua con đê,
con đê mòn lối cỏ về, 
có chú bướm vàng bay theo em. 
Bướm vàng đã đậu cây mù u rồi, 
lấy chồng sớm làm gì 
để... lời ru thêm buồn.(*)

14/07/2012 
Jeffrey Thai

(*) Lời ca khúc: Sao em nỡ vội lấy chồng của nhạc sĩ Trần Tiến

Read more…

TRỜI KHÔNG – Thơ Nguyễn Như Tuấn


 
Ta nằm dưới cội chiều xưa
Nghe thoi thóp động giọt mưa chín vàng
Theo đời cây cỏ lang thang
Theo chim xuống suối tình tang với dòng
Bay về đậu mái trời không
Sớm ra luân lạc vào đồng chiêm bao
Vườn trăng trắng giấc mộng đào
Trời mênh mông vọng nhạc vào tâm hoa
Lòng chơi ngoài cõi sầu ca
Bốn mùa hơi thở chan hòa bao nhiêu
Bản quê thơm nắng lụa chiều
Bóng cô thục nữ dáng kiều như sương
Ôi em thắm thiết mộng trường
Vào ra nội cỏ lạnh đường tơ xanh
Hồn ta hồ điệp loanh quanh
Uống hơi hương thể ẩn cành thiên nhai
Sống ôi theo bọt mưa dài
Xa đưa lớp lớp bạt ngoài hư vô.

Nguyễn Như Tuấn

Read more…

TIN BUỒN



Nhà báo & nhà văn Lê Xuân Tiến

  Sinh năm 1951 tại Quy Nhơn (Bình Định), công tác tại Báo Sài Gòn Tiếp Thị vừa từ trần lúc 1h08 ngày 18/7/2012 tại Bệnh viện Thống Nhất Sài Gòn.
       Lễ thành phục sẽ tiến hành lúc 14g ngày 18/7 tại nhà riêng 793/39/6 Trần Xuân Soạn, Q7, thành phố Hồ Chí Minh.
       Lễ di quan lúc 13 g ngày 20/7/2012. An táng cùng ngày tại nghĩa trang thành phố Hồ Chí Minh (Củ Chi).
Hương Quê Nhà xin chia buồn cùng gia đình và cầu chúc hương hồn anh sớm được siêu thoát.
                                                                                                          HƯƠNG QUÊ NHÀ

Read more…

KHỎA THÂN – Truyện ngắn Vũ Thị Huyền Trang


Minh họa: Hoàng Đặng

Tôi làm người mẫu vẽ khỏa thân đã được tròn mười năm. Công việc hằng ngày của tôi là đến giảng đường, lột bỏ quần áo và ngồi bất động suốt nhiều tiếng đồng hồ cho sinh viên vẽ. Hàng trăm cặp mắt đổ dồn vào thân thể tôi, có cái nhìn bỏng rát, có cái nhìn buốt lạnh, lại có cái nhìn ơ hờ khiến tôi chỉ muốn biến mình thành tượng đá. Người ta bắt tôi tạo hình đủ mọi tư thế, đủ mọi ánh mắt buồn vui.
Người ta vẽ tôi từ ngày này sang ngày khác nhưng không một ai có thể vẽ nổi những nhịp đập của trái tim tôi nhỏ bé sau lồng ngực trần, không một mảnh vải che. Người ta cũng không thể vẽ được ánh buồn sâu thẳm của tôi đọng sâu trong khóe mắt. Đấy mới là thế giới thật của tôi. Tôi chỉ là một người mẫu khỏa thân, làm công việc đó vì tiền, tôi chẳng biết gì về nghệ thuật. Nhưng đôi khi trước con mắt giễu cợt của những người cầm cọ vẽ, tôi lại thấy thương thay cho nghệ thuật. Bởi họ chỉ tạo ra những xác, vỏ không hồn…





Tôi vốn là một cô gái quê, học xong phổ thông do gia đình không có điều kiện để học tiếp nên tôi theo bạn xuống thành phố kiếm việc làm. Tôi từng trải qua nhiều công việc khác nhau, từ dọn bàn, bán hàng, phát hàng khuyến mại rồi vào làm công nhân trong một khu công nghiệp phía nam thành phố. Tại đó tôi quen một người con trai tên Hùng, vì thương hoàn cảnh gia đình anh mẹ góa con côi mà tôi thường qua lại thăm nom, giúp đỡ. Rồi thì yêu nhau lúc nào không biết, tôi theo về nhà anh ở như vợ chồng mà không cần có một đám cưới nào.
Tôi sinh con được một năm thì chồng bị tai nạn phải nằm bó bột ở nhà. Có con nhỏ nên tôi không thể đi làm, thu nhập của cả gia đình chủ yếu nhờ vào việc buôn bán đồng nát của mẹ chồng, nên cuộc sống càng chồng chất khó khăn. Những ngày sau đó tôi phải để con ở nhà lên thành phố đứng chen chân trong các chợ người chờ việc làm. Chính tại đây tôi đã gặp một người họa sĩ, để rồi được giới thiệu đến với nghề làm mẫu khỏa thân, sau này tôi cứ tự hỏi rằng đó chỉ đơn thuần là một cuộc gặp gỡ tình cờ hay là số phận? Bởi biết bao nhiêu buồn vui, tủi hờn, cay đắng của cuộc đời tôi cũng bắt đầu từ ngày hôm ấy…

Mỗi ngày tôi phải ngồi làm mẫu ít nhất là bốn tiếng, chưa kể vì miếng cơm manh áo mà phải chạy sô từ trường này sang trường khác. Dù đã làm nghề nhiều năm nhưng ngày nào cơ thể tôi cũng rệu rã và đau đớn vì phải ngồi lâu trong một tư thế bất động. Có những lúc tôi cảm thấy các mạch máu như đông cứng lại vào những ngày Đông rét buốt khi may mắn lắm cũng chỉ có một chiếc lò sưởi nhỏ không đủ xua đi cái lạnh thấu xương. Mười năm trong nghề là mười năm tôi biến mình thành tượng. Những bức tượng trong những tư thế khác nhau. Có thể trong con mắt của những sinh viên mỹ thuật, những người nghệ sĩ thì tôi là nguồn cảm hứng cho họ. Nhưng tôi luôn thấy mình đang chết dần chết mòn, mỗi ngày mỗi héo hắt, tàn rạc và trống rỗng.
Tôi thường trở về nhà bằng lem luốc bụi than, bằng những câu chuyện thêu dệt về nghề nghiệp. Suốt bao nhiêu năm dài chồng tôi vẫn tưởng tôi làm công nhân trong một xưởng than. Sau lần tai nạn, chồng tôi tự nhiên sinh ra đổ đốn, hay rượu chè và trở về nhà là lấy cớ đánh đập vợ con. Tôi không còn cảm nhận được tình yêu của chồng từ những cái ghì siết đầy hằn học, biến những cuộc ái ân chồng vợ thành ám ảnh. Mỗi lần bị chồng lột sạch quần áo và lao vào như một kẻ thô bạo, tôi thành ra ghê tởm và căm ghét cơ thể, da thịt của chính mình. Tôi tưởng như mình sinh ra chỉ là vật trang trí hay đồ chơi của người khác mà thôi. Ý nghĩ ấy khiến mỗi khi tôi trút bỏ quần áo ngồi khỏa thân trước mặt hàng trăm cặp mắt khác, tôi không còn thấy ngại ngùng. Nhưng mỗi khi trở về nhà, sục tay vào đống than ven đường, tôi chỉ muốn có thể bôi trát chúng lên mặt mũi và cả tim gan cho đỡ ê chề. Những cảm giác đan xen nhau, mâu thuẫn nhau khiến tôi nhiều lúc như điên loạn.

Tôi vẫn nhớ như in cảm giác của lần đầu tiên trút bỏ quần áo rồi bước ra trước mặt sinh viên. Cảm giác như hàng trăm con mắt đang làm tình trên cơ thể trần trụi của mình. Lúc ấy tôi chỉ biết nuốt nỗi xấu hổ và nhục nhã khi nghĩ về người chồng đau ốm và đứa con thơ.
- Oa! Đến mình là con gái còn không chịu được nữa là…
- Thật là hấp dẫn!
- Bình tĩnh đi nào! Ngày xưa lúc bằng tuổi các em, mỗi lần nhìn mẫu vẽ thầy thường phải chạy đi chỗ khác đấy.


Những tiếng cười rộ lên, tiếng đấm nhau thùm thụp, tiếng cười rúc rích. Rồi thì cũng im bặt chỉ còn lại tiếng của bút chì miệt mài trên giấy. Tiếng gió lùa vào da thịt lạnh buốt và tiếng trái tim mình rệu rã. Rất nhiều ngày tôi đến làm mẫu vẽ trong tâm trạng mệt mỏi như vậy, ngày nào cũng trôi qua trong tiếng thở dài, không có ngày nào đọng lại trong ký ức tôi. Cho đến khi tôi bắt gặp ánh mắt của một cậu sinh viên còn rất trẻ. Ánh nhìn ấy trong sáng đến mức khiến tôi tự nhiên lại thấy xấu hổ trước cậu vô cùng. Dù đã bao nhiêu năm tôi không còn cảm giác ấy nữa. Tên cậu ấy là Quang, cậu sinh viên đã từng nhiều lần ngồi lại bên tôi sau giờ vẽ mẫu. Lần đầu tiên tôi thấy có người muốn lắng nghe tôi nói và khiến tôi có thể bộc bạch được những nỗi buồn thầm kín trong lòng. Chẳng hiểu sao mỗi khi gần Quang, tôi lại thấy mình như bé nhỏ, như cần một bờ vai vững chắc, một chỗ dựa đủ bình yên. Tôi yêu Quang từ khi nào không rõ nữa. Đã có lần tôi hỏi Quang:
- Cậu nghĩ gì về những người làm mẫu vẽ như tôi?
Quang nhìn thẳng vào mắt tôi, nói một cách chân thành:
- Là cái đẹp. Là người mang lại cảm hứng sáng tạo cho nghệ thuật dĩ nhiên là rất đẹp.
- Thật vậy sao? Tôi thì lúc nào cũng nghĩ mình là thứ chẳng ra gì. Mà đúng là chẳng ra gì cả. Ngay cả lòng yêu nghề tôi cũng không có. Hình như tôi chỉ mang lại sự giả dối đến những sinh viên như cậu. Tôi thật sự chẳng hiểu gì về hai từ “nghệ thuật”.
- Điều đó thì có sao đâu. Chị chỉ cần biết rằng nghệ thuật luôn bắt nguồn từ cái đẹp. Mà chị thì rất đẹp. Vậy là đủ rồi.
Từ khi yêu Quang, tôi bắt đầu thấy mọi thứ nhẹ nhàng hơn, thấy yêu nghề của mình bởi có ít nhất một người không nhìn cơ thể khỏa thân của tôi bằng ánh nhìn phàm tục. Tôi yêu luôn cả những bức vẽ của Quang, thấy chúng trở nên đẹp đến thánh thiện. Gương mặt ấy, ánh mắt ấy, nụ cười ấy thực sự đã gieo vào tâm hồn tôi những nốt nhạc tươi vui của cuộc sống. Tôi nhớ những hôm bị chồng đánh cho bầm dập, tôi phải xin nghỉ ở nhà cho vết thâm tím trên cơ thể mờ đi mới dám đến làm mẫu. Nhưng vết bầm tím trên má phải là vẫn còn, các sinh viên khác không ai để ý thấy, hoặc có thấy thì họ cũng chẳng mấy bận tâm. Vì yêu cầu bài vẽ hôm đó, tôi ngồi nghiêng chỉ để lộ một nửa khuôn mặt, bên phía má bị bầm tím được che khuất. Chỉ duy có Quang là cả buổi cứ nhìn bên má phải của tôi với vẻ xót xa. Quang bảo:
- Để người khác làm mình đau là có lỗi với bản thân đấy, chị ạ.
Tôi cười bảo:
- Tôi quen rồi. Cậu lo lắng cho tôi sao?
- Chính vì cái ý nghĩ cam chịu ấy mà người khác mới luôn chà đạp lên mình đấy. Lần sau thì đừng để như thế nữa nhé!
Hết buổi, Quang dúi vào tay tôi tuýp thuốc Hirudoid và dặn tôi nhớ bôi đều. Đấy cũng là lần cuối cùng tôi được gặp Quang. Bởi sau vài ngày không thấy Quang đến giảng đường thì nghe tin cậu đã bị bắt khi cùng một nhóm bạn đi cướp tiệm vàng. Không ai là không bàng hoàng trước tin đó, riêng tôi còn thấy trống rỗng và hoang mang đến lạ. Có rất nhiều câu chuyện thêu dệt xung quanh sự việc của Quang. Người bảo Quang vì bạn mà dại dột, có người lại bảo do bị rủ rê nên sinh tật xấu. Tôi bỏ qua tất cả những phán xét đó bởi trong mắt tôi Quang lúc nào cũng thánh thiện. Ngay cả khi sự thánh thiện ấy đã dính vào tội lỗi thì cũng không có nghĩa rằng tôi không có quyền giữ lại những điều tốt đẹp nhất làm kỷ niệm.
Nhiều năm sau đó tôi vẫn tiếp tục đến giảng đường làm mẫu vẽ dù đã kiếm được việc làm thêm trong quán phở nhỏ, nơi trước kia Quang từng dẫn tôi đến giới thiệu. Tôi sợ nếu không đến phòng vẽ thì những kỷ niệm về Quang sẽ mau chóng nhạt phai theo thời gian và những nỗi lo cơm áo. Tôi cứ chờ đợi trong hy vọng rằng một ngày nào đó Quang sẽ trở về, lại làm vui đời tôi bằng ánh mắt vô cùng thánh thiện. Tôi bỗng nhớ những ngày tôi ngồi khóc sau giờ làm mẫu, Quang trèo lên cây ngọc lan trong góc sân trường hái cho tôi từng vốc hoa nhỏ trắng dỗ dành. Nhớ cả những ngày Đông, Quang mang thêm cho tôi một chiếc lò sưởi bằng than cho đỡ phần giá lạnh. Quang làm tất cả những điều đó bằng sự vô tư, trong sáng của một đứa em thương chị. Chưa bao giờ Quang nhìn tôi như một người làm mẫu tầm thường.
Tôi còn làm mẫu vẽ ở trường Mỹ thuật một thời gian rất dài. Cho đến một hôm tôi bất chợt nghe thấy các sinh viên nói với nhau:
- Nhìn mãi chị người mẫu này chẳng còn thấy có cảm hứng gì hết cả. Ước gì có người mẫu mới nhỉ?
Tự nhiên tôi thấy mình không còn đẹp nữa, không còn sự tự tin mà Quang đã trao cho tôi bằng sự thánh thiện của mình. Tôi đã bỏ nghề từ hôm ấy.
V.T.H.T

Read more…

BẾN ĐẦM(*) – NỖI NHỚ ĐONG ĐẦY - Thơ Hoàng Trọng Quý



 


                   Bến Đầm xanh- màu xanh mặn chát
                   Núi ngửa, mây nghiêng, sóng vỗ bạc đầu
                   Hoàng hôn xuống mặt trời pha sắc đỏ
                   Xương người tù nằm lạnh dưới thung sâu

                             Vết cắt thời gian chạm vào khuôn mặt
                             Người tù khổ sai cõng nỗi nhọc nhằn
                             Lùa lên non khi gà vừa gáy sáng
                             Tiếng búa vang, đau đáu một cánh rừng.

                   Mặt trời lên những thân hình đói lả
                   Áo khổ sai tơi tả rụng rơi đầy
                   Oằn trên lưng những vết hằn nghiệt ngã
                   Bảng số người tù trắng xóa chân mây.

                             Mưa Côn Sơn ào ào như trút nước
                             Người tù ngồi cơn sốt rét rung cây
                             Nước lũ tràn tay buông rơi xuống vực
                             Khóc bạn tù, mơ thấy cánh buồm bay.

                   Có những đêm mưa kết bè vượt ngục
                   Tháng ngày dài giữa sóng gió mênh mông
                   Người nằm lại gửi hồn canh giữ biển
                   Người trở về, rừng gọi lập chiến công.

                             Bến Đầm mưa- chiều mưa buồn tím tái
                             Nghiêng nón cời, nỗi nhớ cứ đầy vơi
                             Người tù khổ sai tạc vào năm tháng
                             Mùa xuân về, sóng dội Bến Đầm ơi!

                              HOÀNG TRỌNG QUÝ
(*)Một địa danh ở Côn Đảo, nơi những người tù chính trị- lao động khổ sai)

Read more…

QUYỂN SÁCH – Truyện ngắn Trương Văn Dân



          Có lẽ cho đến khi nhắm mắt tôi cũng không thể nào tha thứ cho mình. Dù đã bao lần cố tình biện hộ, nhưng chưa bao giờ tôi tìm ra một lý do chính đáng để tự trấn an. Tôi biết mình không phải vô ơn, cũng chẳng bạc tình, nhưng không hiểu sao lại vô tình mắc phải những lỗi lầm  như thế để niềm  ân hận cứ bám  theo và ray rứt không thôi.
          Bao  năm qua, cuộc đời đã trải nhiều thăng trầm dâu bể, tôi đã cố tìm quên. Nhưng mỗi khi ký ức lắng đọng tìm về, tôi lại thấy lòng mình quặn thắt. Nỗi niềm đó ít khi tôi kể lại cho ai, ngay cả với những người thân nhất, nhưng hôm nay không hiểu sao tôi lại viết ra đây. Có thể trong tiềm thức, viết là để giải toả những ẩn ức chìm lắng trong một góc kín đáo nào đó của tâm tư, nhưng  cũng có thể  khởi đi từ một ước mong khiêm tốn là có người đọc nó, để niềm đau của tôi không đến nỗi thành vô ích.
                                                          *                                   
          Khi anh Quang theo học năm đầu khoa báo chí Vạn Hạnh thì đất nước đổi thay. Trong biến loạn 1975, gia đình mất hẳn tin anh. Cả mấy tháng sau đó cũng chẳng ai biết thêm gì. Dù mong manh ý nghĩ là có một điều bất thường nào đó đã đến với anh, nhưng không ai dám nghĩ là mất  anh vĩnh viễn.
          Kinh tế đổi thay, tôi phải bỏ học đi làm để phụ giúp gia đình. Thời gian sau tôi lấy chồng, sinh con đẻ cái. Cuộc sống khá chật vật và khó khăn, nhưng tôi vẫn bền gan phấn đấu, rồi sau đó cũng dần dần ổn định. Thủa ấy không lúc nào là tôi không nghĩ đến Quang, người anh trai mê sách, mê đến nỗi những khi cúp điện lúc nào anh cũng  sẵn một mớ đèn cầy để đốt và đọc thâu đêm. Nhiều hôm bị ba tôi bắt gặp, bảo tắt đèn đi ngủ, anh lại trùm chăn che ánh sáng và đọc tiếp nên có lần bị cháy xém một mảng tóc mà ngày thường anh rất nâng niu. Cuối cùng phải cạo trọc, bị  các bạn gọi là “ đầu đà thi sĩ ”, anh chỉ mỉm cười, không giận, nhưng  suốt mấy tháng liền trên đầu anh lúc nào cũng dán chặt  chiếc mũ vải.
          Anh Quang vui tính và rất hay kể chuyện nên tôi thường quấn quít bên anh. Giọng anh trầm trầm, chậm rãi bắt từ chuyện này sang chuyện khác, chứng tỏ một kiến thức rất dồi dào, thu lượm được qua hàng nghìn trang sách. Thỉnh thoảng anh chen vào những nhận xét tế nhị hoặc nói vài câu pha trò làm tôi cười lên vui vẻ. Nhưng những kỷ niệm  tươi đẹp ấy giờ đã tan rồi. Anh Quang của tôi  đã biến mất như bóng chim tăm cá. Ai biết anh lưu lạc về đâu hay có một bất hạnh kinh khủng nào đã đến với anh?
          Nhưng khi niềm tin và đợi chờ của gia đình sắp kiệt thì lại có thư về. Anh không nói rõ bằng lý do nào đã thoát ra ngoại quốc, chỉ kể là thời gian đầu có qua Mỹ nhưng sau vài tháng anh lại xin chuyển hồ sơ qua Pháp. Trên phong bì có đóng con dấu bưu điện Nice, một thành phố miền nam nước Pháp, nằm trên bờ biển Côte d’Azur, gần vương quốc Monaco. Hôm đó nhà tôi tưng bừng mở hội. Phép lạ đến bất ngờ như một sự hồi sinh.
                                                                   *
                                                                *     *
          Những gói quà và tiền bạc sau đó do anh thường xuyên gửi về đã làm thay đổi cuộc sống của gia đình tôi. Nhờ tháo vát và bén nhạy với tình hình tôi đã mau chóng tạo vốn và bắt đầu thành lập một cơ sở kinh doanh nhỏ. Gặp nhiều may mắn và thuận lợi nên công việc làm ăn của tôi phát triển đều.
          Lúc đầu tôi cũng rất  ái ngại vì công sức của Quang. Tôi định bàn với gia đình khuyên anh ấy nên dành dụm để lo cho mình vì bên ấy đâu có ai thân thích. Nhưng suy đi, tính lại tôi lại thôi. Thời điểm đó cũng chính là lúc người ta vượt biên rất nhiều, ai định cư ở nước ngòai có vài tháng cũng đều gửi hình về, chụp bên cạnh những chiếc xe hơi bóng lộn. Người ta đua nhau kể chuyện dễ  thành công trong xã hội Tây phương, ai cũng có công ăn việc làm và hái ra tiền.
          Thực ra trong thâm tâm tôi cũng chẳng tin những chuyện này. Ba tôi cũng thường bảo là trong xã hội vật chất Âu Tây, muốn có tiền phải trả giá đắt chứ không sao dễ được. Nhưng chồng tôi thì lại nói: “ Anh ấy có trình độ nên chắc dễ thành công hơn người khác- vả lại bên đó bỏ vài trăm quan mỗi tháng thì có nhằm nhò gì!”. Em dâu tôi cũng bảo: “Lo gì - Anh ấy tự động gửi chứ chúng ta có đòi hỏi gì đâu. Vả lại, nếu không dư dả thì chắc anh ấy  đã không gửi đều đều như thế”. Bà chị họ tá túc trong gia đình góp ý: “Cậu ấy biết liệu cơm gắp mắm chứ! Dì đừng lo hão!” Em trai tôi không nói gì. Mẹ tôi chỉ than: “Tội nghiệp thân nó!”. Còn tôi dù chưa thật an tâm, nhưng những lời của của chồng và của em dâu, chị họ đã giúp tôi trấn áp được nỗi lo.
          Đúng ra thì qua những bức thư anh Quang chưa bao giờ than thân trách phận. Thư anh chỉ nói chung chung, còn thì khuyên vợ chồng tôi ăn ở với mẹ cha sao cho có tình có nghĩa, yêu thương nhau, cố gắng làm ăn nhưng phải dành thì giờ để dạy cho con cái học hành, hướng dẫn chúng đi vào con đường tốt. Anh thường nhắc, cái đầu tư lớn nhất là tạo kiến thức và khả năng cho con cái. Dẫu thời thế có đổi thay, tiền bạc địa vị có thể mong manh, đảo lộn, nhưng nếu chúng còn sống thì bản lãnh có được sẽ không bao giờ mất. Nhưng máu kinh doanh đã làm tôi lạc vào mê hồn trận. Nhìn đâu đâu cũng  cảm thấy bị ám ảnh bởi bạc tiền và danh vọng. Tôi xem những lời khuyên của Quang như là những lời nói hão huyền, không thực tế.
          Anh Quang ít nói về mình, về những công việc đang làm. Chỉ thỉnh thoảng, và chỉ thỉnh thoảng thôi, anh mới than buồn vì không có bạn bè để đàm luận văn chương hay tán gẫu chuyện đời. Người Việt nơi anh sống quá ít, sách vở Tây phương anh đọc khá nhiều nhưng rất thèm sách tiếng Việt mà lại khó kiếm, có tiền cũng không dễ gì mua được. Anh ví von như người đã ăn đủ thứ cao lương mỹ vị, nhưng cuối cùng dưa muối quen thuộc đầu đời vẫn là món ưa thích nhất.
          Những dịp tết tôi vẫn thường gửi thiệp chúc mừng anh. Nhiều lần tôi có ý mua vài số báo xuân, bài vở phong phú mà ngày xưa anh rất thích...nhưng cuối năm công việc rất nhiều, chuyện bán buôn, sổ sách, nợ nần vay mượn dập dồn...tôi không có thời gian nên cuối cùng lại quên đi mất. Sau đó nếu có nhớ, thì chỉ đành chép miệng thở dài. “Thôi, chờ dịp khác!”.

          Công việc kinh doanh của tôi mỗi ngày một thêm phát triển nhưng tiền bạc và quà cáp anh Quang vẫn thi thoảng gửi về. Lúc này những món quà ấy không còn cần thiết cho cuộc sống của tôi như xưa nữa, nhưng nhiều năm qua nhận nó đã trở thành một thói quen. Vả lại có mất gì đâu! Tôi mặc nhiên chấp nhận và gần như xem đó là một bổn phận không thoái thoát được của Quang. Thật thế, sau này nghẫm lại tôi vỡ lẽ ra là tất cả những ân huệ ban đầu, những ơn nghĩa thường xuyên, với thời gian người nhận vô tình bạc nghĩa như tôi thường  xem đó chỉ là những điều bắt buộc.
          Tôi sung sướng thả đầu óc mình ngụp lặn trong những toan tính làm ăn và tự hào về những thành đạt của mình. Tôi hãnh diện thấy chồng mình uy nghi trên những chiếc xe đời mới, luôn  cập nhật để nở mặt với đời. Thời buổi này có tiền mà không chưng ra cho thiên hạ lé mắt thì thà không có còn hơn. Tôi không còn thì giờ để lo cho con cái nữa. Chồng tôi thì tương đối rảnh rang. Anh có thừa thì giờ để đi tắm biển, chơi bi da, tennis... và phó thác mọi việc lên vai tôi. Không hiểu sao anh Quang lại biết chuyện này, và có lần khuyên tôi nên sắp xếp cho hợp lý nhưng tôi thấy ở Việt Nam chuyện vợ làm chồng chơi là một chuyện bình thường. Ai cũng thế  mà! Mình cam phận phục tùng chứ có ai bắt buộc đâu. Tuy thế  cũng có lần, trong một bức thư, anh Quang viết bóng gió là tại sao lại có  người  không biết tự ái  và vô trách nhiệm  với vợ con đến thế.

          Mấy năm trước, có lẽ do một chuyện không vừa ý trong gia đình, tôi chợt nhớ đến anh. Nhớ da diết. Tôi bùi ngùi hồi tưởng đến những kỷ niệm  ngày xưa, rồi thấm thía với nỗi buồn ly biệt. Những câu chuyện cũ anh kể cho tôi lại lờ mờ hiện đến, đoạn nhớ đoạn không. Tôi lang thang trên bờ biển một mình rồi chợt nhớ là từ ngày xa cách đến nay tôi chưa hề gửi một món quà dù rất nhỏ cho anh. Cuống cuồng, tôi bươn bả chạy vào hiệu sách, nhưng không biết mua gì. Lâu nay tôi nào có thì giờ rớ vào sách vở nên biết đâu mà chọn. May có cô  bán sách là một tay mê truyện, đã chọn hộ cho tôi bộ tiểu thuyết hai quyển và một tuyển tập truyện ngắn. Tôi hối hả mang về. Đang định viết cho anh một bức thư dài  để gửi kèm thì nhà lại có khách.

          Bẵng đi mấy tháng, khi tình cờ kiểm lại các sổ kinh doanh tôi lại thấy ba quyển sách vẫn nằm yên trong hộc tủ. Tôi vừa định lôi ra bao bì để đi bưu điện thì chuông cửa reo vang. Khi ra mở cửa thì thấy ông Vĩnh Phát. Ông  là một thương gia lớn bậc nhất thị xã, đến thăm và để đề nghị một áp phe. Suốt đêm ấy tôi không tài nào chợp mắt, lòng miên man nghĩ đến những mưu kế làm ăn.
          Cứ thế việc kinh doanh của tôi cứ tiến triển đều và công việc phát triển bao nhiêu tôi lại càng bận rộn bấy nhiêu. Tôi dành hết thì giờ cho công việc và đầu óc không còn chỗ cho những điều vặt vãnh khác. Cơm nước và các việc gia chánh tôi đều phó thác cho người làm. Còn con cái thì năm khi mười hoạ tôi mới ngó ngàng đến và nếu tình cờ thấy chúng xớ rớ thì cũng chỉ hỏi qua loa về chuyện học hành, nhiều khi chưa kịp nghe các câu trả lời nhát gừng của chúng tôi đã thả hồn vào những chuyện làm ăn. Chồng tôi thì vắng mặt suốt ngày. Mới đầu tôi cũng có hỏi nhưng sau cho đó là một thói quen, một chuyện tự nhiên... mà dẫu có cho là bất thường đi chăng nữa thì tôi cũng đâu có thì giờ để quan tâm đến.
          Anh Quang vẫn gửi quà và tiền bạc liên tục cho tất cả mọi người trong gia đình. Chồng tôi khen: “Anh Quang tình cảm thật. Đáng phục! Đâu phải như mấy đứa em nhà anh qua Đức mấy năm mà chả có thư từ gì”. Em trai tôi thường hay im lặng, tính nó ít nói nhưng đứa em dâu và bà chị họ thì cũng khen không tiếc lời: “Anh ấy thật chu đáo, không bỏ sót một ai”, “Người tình cảm như vậy thật hiếm. Hy vọng cậu ấy sẽ kiếm được một cô vợ đảm đang”.
          Phải, cô vợ đảm đang. Quái thật, anh Quang khá lớn tuổi, nhưng anh chưa bao giờ đề cập đến chuyện tình cảm của mình. Và chúng tôi cũng ít khi nhắc nhở, nếu có cũng chỉ hỏi qua loa vì tò mò thôi. Thì giờ đâu! Chuyện mình lo chưa hết, hơi sức đâu lo chuyện bên Tây. Sau này, khi tất cả mọi chuyện đã qua, xét lại lòng mình tôi thấy vô cùng hổ thẹn. Có lẽ có một giai đoạn nào đó trong đời chúng tôi đã có lần thầm mong là anh cứ ở vậy, đừng lập gia đình để có thì giờ lo cho tất cả chúng tôi trong đại gia đình còn kẹt lại bên này.
          Bởi quà cáp và tiền bạc gửi về đều đặn quá nên chúng tôi cứ nghĩ là anh Quang có cơ sở kinh doanh hái ra tiền.Và có lẽ do vậy nên anh không bao giờ dám đề cập đến? Nhưng ba tôi thường trầm ngâm và gạt phăng giả thuyết này: “Thằng Quang là thằng thông minh và tháo vát nhưng không có máu làm ăn. Nó nặng tình  nên hết lòng chứ không có cơ sở gì đâu. Ba nghĩ đó là mồ hôi của nó”. Người ta hay nói “biết con không ai bằng cha” và dù không ai dám cãi vì kính trọng cha, nhưng lũ chị em chúng tôi không đứa nào tin. Lẽ dễ hiểu là chúng tôi không muốn tin điều đó. Vả chăng phải có lý do thầm kín gì nên anh mới dấu kín chuyện làm ăn của mình chứ. Trong các bức thư ngắn ngủi gửi cho anh, chồng tôi còn chỉ cho tôi gợi ý một cách khéo léo là cần nhiều vốn để kinh doanh .
          Thời gian sau, cũng là dịp gần tết, tôi lại tình cờ thấy ba quyển sách nằm chình ình hứng bụi trên góc tủ. Lần này tôi không định viết thư nữa, thôi thì viết vài hàng trên post card để gửi kèm cho anh cũng được. Tôi đóng gói và cột giây cẩn thận, nhưng vừa  ghi tên   người gửi thì  thình lình có khách đến thăm. Bác Tường, giám đốc sở thuế. Công việc làm ăn của tôi xưa nay tiến triển cũng là nhờ công ơn bác.
          Gần năm sau, ba tôi mất bất ngờ sau một cơn bạo bệnh. Anh Quang không về kịp. Lúc đó những người vượt biên chưa được phép về rộng rãi. Anh viết một bức thư thật dài nói lên những bi thương và đau đớn của mình. Trong đó có một câu mà có lẽ suốt đời tôi cũng sẽ không sao quên nổi “Nếu phải đổi mười năm tuổi thọ của anh để một lần từ biệt với  ba anh cũng sẵn lòng”. Rồi sau đó gia đình gần như bặt tin anh. Tôi biết anh đau xót lắm. Trong gia đình anh gắn bó với ba tôi nhất và hay tâm sự với ba như một người tri kỷ. Vắng ba, anh không còn ai để tâm sự nữa. Những vấn đề mà anh quan tâm, về triết lý cao xa, chúng tôi không ai tha thiết nên không biết viết gì cho anh. Anh đã không còn ai để kể lể tâm tình. Điểm tựa vững nhất để anh  bám vào quê hương đã không còn nữa. Thư anh có viết thì cũng chỉ vài hàng ngắn ngủi, gượng ép kể chuyện vặt vãnh khác hẳn nội dung sâu xa như trước. Chỉ một lần duy nhất là anh có than buồn và đề cập đến chuyện nhờ tôi mua giùm một mảnh đất, hay một ngôi nhà thật nhỏ, để lúc già anh có thể được về chết trên quê hương. Anh nói lá rụng phải về cội. Lần ấy tôi xót xa và thương anh vô hạn. Tôi mường tượng hiểu là cái chết của ba đã xáo động cái mặt hồ yên tĩnh như tấm lòng nhạy cảm của anh.
          Rồi những bí ẩn về cuộc đời tình cảm cuả anh cũng được phơi bày. Một hôm thu xếp lại những tồn tại của ba, tôi bắt gặp một phong thư anh viết khá dài. Có lẽ ba tôi đã ngấm ngầm dọ hỏi và như mọi lần, anh đã không ngần ngại tỏ bày với ba những suy tư thầm kín trong ruột gan mình.
          Anh cho biết là anh chưa bao giờ dám nghĩ đến chuyện lập gia đình. Anh không muốn vướng bận vào những ràng buộc nào khác, bởi anh còn có bổn phận phải lo cho những người thân còn kẹt lại Việt Nam. Đời sống bên nhà khó khăn, hiện tại anh là người duy nhất có khả năng  phụ giúp. Anh xem đó như là món nợ tinh thần đối với những người thân, bởi trong lòng không lúc nào xoá bỏ được cái mặc cảm tội lỗi đã bỏ rơi gia đình trong lúc gian nan và biến động kinh khủng nhất. Hãng xưởng bị kiểm kê, nhà cửa, tài sản bị trưng thu, cha già bị giam hãm... chỉ còn  anh là con trai trưởng, chưa dính dấp gì đến chính trị, không tham gia vào chính quyền cũ, bạn bè đông...có thể xoay xở và an ủi gia đình thì lúc đó lại cao chạy xa bay, phó mặc cho mọi người chịu trận. Anh viết cho ba là sẽ không bao giờ dám tạo cho mình một mái gia đình, vì một khi đã quyết định chia ngọt sẻ bùi với người bạn trăm năm, anh không thể đã không mang được gì cho người ta mà lại còn buộc người ta phải trả món nợ của riêng mình...Tôi rơi nước mắt. Quái! cuộc sống đầy những lọc lừa, lường đảo - đời tôi chỉ thấy người ta quịt nợ chứ chưa thấy ai tình nguyện nhận nợ như anh! Tôi giữ kín tâm sự này và chỉ kể lại với đứa em trai mà thôi. Khi nghe chuyện anh nó chỉ yên lặng không nói gì. Nhưng nét buồn hiện lên trên khuôn mặt hiền từ của cậu ấy còn khổ đau hơn những lời bi thiết nhất.
         
          Việc làm ăn của tôi vẫn tiến triển khả quan. Chẳng mấy chốc cơ sở làm ăn của tôi đã trở nên một trong những công ty lớn nhất thành phố. Bạn bè của tôi toàn những kẻ tai to mặt lớn, loại có máu mặt, đầy quyền thế, nhất hô bá ứng. Tôi bận rộn vô cùng. Liên lạc đầu này, giao tế đầu kia, tổ chức việc đầu tư này, thi hành kế hoạch nọ. Tôi làm việc đầu tắt mặt tối mới lo cho xuể những sáng kiến hái ra tiền. Người tôi gầy rạc đi nhưng tôi thật vô cùng mãn nguyện. Tiền vô như nước. Xung quanh tôi bao nhiêu người quanh quẩn, như những vệ tinh bay vòng quỹ đạo. Họ sẵn sàng chờ lệnh tôi và răm rắp tuân hành.
          Dạo đó, đôi khi tôi cũng có nghe một vài tin gián tiếp về Quang. Một người quen sống ở Paris, trong dịp tháng tám đi nghỉ hè ở miền nam có gặp anh Quang. Ông ta nói  lúc này anh  gầy lắm vì phải làm hai việc, vừa tan sở nơi này lại tranh thủ làm thêm buổi tối ở một cơ quan khác. Anh bận bù đầu . Ông ta có mời anh đi ăn cơm nhưng anh không hứa chắc và cuối cùng không đến. Chồng tôi không tin, cho là ông ta ghét nên nói xấu và rủa anh Quang. “Chắc chắn anh ấy có cơ sở làm ăn  chứ đi làm công cho người ta thì sao có thể dư dả để gửi nhiều tiền như thế”. Em dâu tôi cũng cùng một nhận định. Mặc dù thời gian gần đây ở Việt Nam người ta cũng bắt đầu biết những khó nhọc của những đồng hương sống ở nước ngoài, nên tôi nghĩ số tiền anh thường gửi đâu phải là ít ỏi. Nhưng chồng tôi quả quyết: “Khả năng gửi tiền như vậy không thể là của một người  đi làm công. Thằng cha Thanh láo khoét”. Cô em dâu tôi cũng tán đồng: “ Miệng đời thiệt  độc địa! Lâu nay anh ấy cố tình  không tiết lộ  công việc chắc cũng có lý do riêng...”. Tôi thật phân vân.
         
          Rồi một hôm khi tình cờ xếp lại những hồ sơ, giấy má, tôi bắt gặp một gói giấy rơi sau bộ luật pháp kinh doanh trên kệ sách. Gói giấy màu vàng hình chữ nhật, có cột giây gai thành chữ thập. Bên góc trái có ghi tên người gửi. Tên tôi. Lạ quá. Có lẽ tôi đã định gửi mẫu hàng gì cho ai đây rồi bận việc, quên đi. Tôi cố tình moi óc và nghĩ mãi mà không biết mình định gửi cho nhà buôn nào.
          Khi lấy kéo cắt giây thì bên trong hiện ra ba quyển sách. Trời ơi! Tôi bàng hoàng vì cho đến lúc ấy  tôi vẫn chưa gửi  3 quyển sách cho Quang.
          Suốt buổi chiều hôm ấy tôi thẫn thờ như người mất trí. Một chút lương tri còn sót lại và nỗi ân hận đang âm thầm dày xéo lòng tôi. Thôi, thà muộn còn hơn không. Tôi đập đập một góc sách bị mối ăn nham nhở  lên cạnh bàn rồi thay giấy gói lại. Suốt đêm tôi không tài nào chợp mắt, lòng tôi nóng như lửa đốt, chỉ mong đến sáng để gửi sách cho anh. Sáng hôm sau chưa kịp điểm tâm tôi đã đích thân ra bưu điện. Mãi đến khi làm xong thủ tục gửi bảo đảm, lúc về nhà lòng tôi mới hân hoan trở lại.

          Rồi những ngày sau đó, công việc dập dồn đã đưa tôi trở lại cường độ cũ. Tôi quay cuồng trong nhịp điệu đam mê của bạc tiền, danh vọng. Tôi lại quên Quang đi. Nhưng lương tâm của tôi cũng đã ổn rồi, tôi đã gửi sách cho anh và như thế là món nợ tinh thần với anh coi như đã trả xong.

          Cuối năm đó những may mắn của đời tôi bỗng nhiên xoay lưng lại. Sau những đợt đầu tư thất bại vì tình hình thay đổi, cơ sở làm ăn của tôi bắt đầu xuống dốc. Nhưng vố đau đớn nhất của tôi là số lớn vốn liếng dành dụm được lâu nay đã bị chồng tôi lén lút đem nướng  trên chiếu bạc đỏ đen. Lúc  tối cần để xoay xở gỡ gạc tôi lại không còn một xu dự trử. Hạnh phúc gia đình tôi có nguy cơ bị lung lay. Bất hoà và lo nghĩ như một mảng lưới đen ngòm phủ  chụp xuống gia đình tôi.
          Anh Quang lúc này lại bặt tin. Quái! Mấy tháng gửi sách chắc đã đến tay rồi sao anh ấy lại không viết vài hàng để báo cho tôi biết.
          Công việc làm  ăn của tôi  mỗi ngày mỗi thêm bết bát. Gỡ nhỏ, thua nhỏ; gỡ lớn, mất lớn... Chẳng bao lâu cơ sở chỉ còn có nợ. Bạn bè kinh doanh ngày xưa, kẻ xa lánh, người rút vốn, kẻ đòi lại phần hùn. Thậm chí có kẻ còn lợi dụng sự bối rối của tôi để quịt nợ và lường gạt nữa. Còn những tay chân thân tín, như những vệ tinh thình lình mất đi hấp lực, rơi lả tả như lá mùa thu. Tôi bơ vơ và trơ trọi ngay trên chính quê hương mình.

          Đến lúc này tôi mới tha thiết nghĩ đến Quang. Chỉ có anh là điểm tưạ duy nhất còn sót lại của tôi. Vợ chồng tôi bàn tính rồi hội ý viết một bức thư thật lâm ly cầu cứu, mượn anh một số tiền để gầy dựng lại. Nhưng thư đi mà chẳng có tin về. Sốt ruột, chồng tôi nổi cáu: “Bộ thằng chả mất lương tâm rồi sao? Hai mươi năm sống bên đó chắc đã thành Tây lai rồi. Người gì đâu mà bạc bẽo!”. Lòng tôi nhói đau lên, nhưng tôi vẫn im lặng, không một lời biện hộ cho Quang.


          Rồi một hôm tôi nhận được một bưu phẩm từ thành phố Nice. Mừng rú lên. Đó là một gói giấy có cột giây gai. Nhưng lạ quá, tên người gửi lại đề tên tôi. Khi đọc mảnh giấy gửi kèm  của bưu  điện tôi mới biết điạ chỉ gửi cho Quang không còn người nhận nữa.
          Thế là thế nào ?
          Tôi không biết làm gì hơn là chờ đợi. Nhưng tin Quang một lần nữa lại bặt vô âm tín. Chồng tôi nóng ruột, nổi khùng: “Nhất định là thằng chả làm ăn khấm khá nên đi mua villa rồi. Mới  nghe hỏi tiền nên  làm bộ trả sách về để  dàn cảnh cho dễ trốn đó thôi. Bộ chả tưởng lấy vải thưa mà che mắt thánh được à? Đúng là đồ ích kỷ và vô trách nhiệm!”.  Lòng tôi  hoang mang và vô cùng  bối rối.

                                                          *
                                               
         
          Người đàn bà dừng lại như để lấy giọng, nhưng mãi thật lâu vẫn không thấy bà lên tiếng. Tôi sốt ruột nhưng không dám giục, kiên nhẫn chờ bà đọc nốt phần cuối câu chuyện.

          - Thú thật viết đến đây chị như không còn can đảm viết thêm. Bao nhiêu năm dâu bể đã qua, nhưng cứ mỗi lần ngẫm lại, lòng chị lại buốt đau như có ai vừa cắt từng khúc ruột. Chị đã muốn đốt đi những trang giấy và chôn kín tâm sự trong lòng, nhưng thời gian đâu có phải là dòng suối giảm  đau.

          “Sau đó thì tôi nhận được tin Quang. Nhưng lần này lại không do anh viết. Tin đó qua trung gian một người bạn Pháp mà tôi nghĩ là một người bạn gái rất yêu anh. Trên trang thư có lấm tấm những vòng tròn bằng đồng xu có lẽ đó là những giọt nước mắt giờ đã khô dòn. Người mà tôi nhờ  phiên dịch  khó khăn lắm  mới đọc được những  giòng  chữ nguệch ngoạc  và  run rẩy trên trang giấy mỏng.
          Đầu mùa đông năm ấy anh Quang bị sưng phổi nên phải vào bệnh viện. Tháng sau khi đã tạm bình phục, bác sĩ khuyên anh nên ăn uống và nghỉ ngơi điều độ, cấm hẳn việc làm ban đêm, sợ đi khuya về lạnh có thể làm bệnh tình tái phát.
          Nhưng anh vẫn bướng bỉnh không nghe. Ra viện anh phải thuê một căn nhà nhỏ  và thiếu tiện nghi hơn vì vốn liếng dành dụm đã chi phí thuốc men, nên không thể trang trải tiền thuê căn nhà cũ vốn không lấy gì sang cả lắm.  Anh vẫn tiếp tục đi làm hai việc để  gửi tiền về phụ giúp chúng tôi. Sức khoẻ anh suy sụp  và vơi  dần như cái chai bị nứt. Một đêm tháng giêng, khi tan việc thì đã khuya, anh lái xe về nhà, phần mệt  mỏi, phần sương mù , trong một  cơn buồn ngủ xe lao vào cột điện, lăn mấy vòng rồi bốc lửa. Bị cột thắt bỡi giây an toàn, xác anh bị cháy thành than.”

          Đọc đến đây bà Trâm cuốn tròn quyển nhật ký cho vào túi xách rồi  đăm đăm nhìn vào khoảng không trước mặt. Dưới những lọn tóc chớm bạc đang bay bay lòa xòa trên trán  là đôi mắt vô hồn, sâu thăm thẳm. Tôi yên lặng cảm thông nỗi thống khổ của bà. Lòng tôi xót xa trước những cảnh ngộ trớ trêu của những kiếp người. Thời gian mong manh hữu hạn nhưng hình như chúng ta không dành cho cuộc sống, cứ mãi chạy theo những ảo ảnh hão huyền và lầm lạc. Rồi đến khi mất mác, dẫu  ân hận vô bờ cũng không làm sao kéo lại.

          Sau  tiếng thở dài, tôi tò mò hỏi:
          - Vậy quyển sách gửi đi cuối cùng chị vẫn còn giữ?
          - Vâng, chị sẽ  giữ mãi, để tự nhủ lòng mình.
          - Thưa chị, quyển tiểu thuyết  đó tên gì?
          -  “ Một tấm lòng vàng”
          Tôi thấy bà lấy khăn chặm hai giòng nước mắt vừa ứa ra hai bên má, rồi sau tiếng thở dài bà chép miệng: “Dù sau này có ai thông cảm và tha thứ cho tôi, nhưng chính tôi lại không thể tự tha cho mình được.”

Milano, 1998
T.V.D


Vài hàng cuối truyện :
Thưa chị…, câu chuyện mà chị chỉ “viết cho riêng mình”, không muốn cho người đời thóc mách, 8 năm sau “bị” em biên tập lại. Dĩ nhiên là em có thay đổi tính danh và chỉnh lại một vài chi tiết. Nhớ lời chị dặn trong chuyến về thăm Vũng Tàu năm 1990, nên dù hoàn  tất đã lâu nhưng em vẫn để yên bản thảo trong hộc tủ.“ Chị “phải” đọc cho em nghe, nếu không chắc sê nổi điên. Nhưng xin em đừng kể lại cho ai .”
Bây giờ dưới lớp bụi thời gian,15 năm qua đã là chứng nhân biết bao thay đổi.  Bác gái và chị đều đã qua đời vì bạo bệnh và những người liên quan đã không còn ai sống ở Việt Nam nữa. Chồng chị và các cháu được gia đình bảo lãnh qua Canada, gia đình người em trai sinh sống ở Na Uy còn người chị họ về sau lấy một Việt kiều và hiện giờ định cư ở Mỹ…
Dù không quên lời dặn và không muốn phản bội niềm tin mà chị đã gứi gắm cho mình, nhưng lúc này thì em  lại nghĩ rằng câu chuyện trên trang nhật ký đó, trên thực té nó chẳng phải là của riêng ai, mà là một cách sống có thực  của một thời, của một giai đọan khó khăn và tình người đảo lộn, nên quyết định gửi bản thảo cho một tạp chí văn chương. Em hy vọng là ở bên  kia thế giới chị cũng sẵn sàng chia xẻ với suy nghĩ của em, còn nếu không thì em ngàn lần xin linh hồn chị thiêng liêng thứ lỗi. (tháng 8-2006)



                                                                                                                                                                       
Read more…

CÁCH NHẬP COMMENT TRÊN HƯƠNG QUÊ NHÀ

Đầu tiên, nhấp chuột vào ô Nhập nhận xét của bạn rồi viết comment. Viết xong, nhấp chuột vào ô Tài khoản Google. Sau đó nhấp chuột vào Tên/URL thì sẽ hiện ra 2 ô. Ô phía trên, ghi Họ và tên của bạn. Ô phía dưới, ghi dòng chữ:huongquenha.com

Cuối cùng, nhấp chuột vào ô Tiếp tục và nhấp chuột tiếp vào ô Xuất bản là xong. (Nếu bạn đã có sẵn Tài khoản Google, thì sau khi viết comment, chỉ cần nhấp chuột vào ô Xuất bản là thành công)

Số lượt xem tháng trước


-------------------------------------------------------------------------


TÁC GIẢ & TÁC PHẨM
* TÁC GIẢ & TÁC PHẨM * TÁC GIẢ & TÁC PHẨM * TÁC GIẢ & TÁC PHẨM * TÁC GIẢ & TÁC PHẨM---------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------
Ái Nhân (21) Ambrose Bierce (1) ẢNH (58) Anh Ngọc (1) Anh Nguyên (1) Anh Phong (4) Anh Phương (9) âm nhạc (2) âm thanh (1) Ân Thiên (1) Bạch Diệp (5) Bách Mỵ (2) BÀN TRÒN VĂN NGHỆ (87) Bảo Hồ (1) Bảo Lâm (1) Bảo Ninh (2) Bé Hải Dân (1) Bích Ái (3) Bích Lê (4) Bích Ngọc (1) Bích Vân (2) Bình Địa Mộc (3) Bình Nguyên (1) Bình Nguyên Trang (2) binh pháp (1) Bình Tâm (1) Bobby Nam Giang (3) Bùi Anh Sắc (1) Bùi Công Thuấn (1) Bùi Danh Hải Phong (1) Bùi Đức Ánh (66) Bùi Hoài Vân (5) Bùi Huyền Tương (2) Bùi Hữu Phước (1) Bùi Nguyên Bằng (25) Bùi Nhựa (4) Bùi Văn Bồng (5) Bùi Việt Thắng (2) BÚT KÝ (17) Ca Dao (2) Cao Duy Thảo (1) Cao Kim Quy (1) Cao Thị Thu Hà (3) Cao Thọ Thêm (2) Cao Thoại Châu (1) Cao Thu Hà (1) Cao Trọng Quế (1) Cao Văn Tam (5) Cát Du (7) Catherine Mansfield (1) Cẩm Lệ (4) Cẩm Tú Cầu (1) Chàng Cát (1) Chánh Đức (1) CHÀO XUÂN 2014 (1) CHÂN DUNG VĂN NGHỆ SĨ (2) Châu Đoàn (1) Châu Quang Phước (1) Châu Thạch (9) Châu Thường Vinh (1) Chí Anh (1) Chính Đức (1) chủ (1) CHỦ BIÊN (141) Chu Giang Phong (1) Chu Lai (2) Chu Ngạn Thư (10) Chu Trầm Nguyên Minh (16) Chu Vương Miện (1) Chúa Sơn Lâm (1) Cỏ Dại (7) covid 19 (1) Công Nguyễn (1) Cơ Xương (1) Cúc Dương (1) Cuộc thi văn chương (1) CỬA SỔ VĂN HÓA (6) Dạ Ngân (1) Dã Phong Bình (2) Dã Phương (1) Dạ Thảo (2) Dạ Thy (1) Diệp Linh (18) Diệp Uy (1) Dino Buzzati (3) DỌC ĐƯỜNG (29) Du Tử Lê (1) Dung Thị Vân (28) Duy Bằng (1) Duy Phạm (6) Dương Diệu Minh (1) Dương Đăng Huệ (1) Dương Hải Yến (2) Dương Hằng (7) Dương Kim Nhi (4) Dương Kim Thoa (1) Dương Phương Vinh (1) Dương Thành Thái (3) Dương Thị Yến Trinh (2) Dương Xuân Triều (6) Dzạ Lữ Kiều (6) Đàm Lan (17) Đan Ngọc (2) đạo đức (2) Đào Hiền (2) Đào Hữu Thức (2) Đào Khương (2) Đào Minh Hiệp (2) Đào Phạm Thuỳ Trang (82) Đào Quang Bắc (1) Đào Quý Thạnh (1) Đào Thanh Hoà (14) Đào Thị Quý Thanh (1) Đào Thị Thu Hiền (3) Đào Văn Đạt (31) Đào Viết Bửu (7) Đặng Châu Long (1) Đặng Diệu Thoa (1) Đăng Đăng (1) Đăng Huỳnh (1) Đặng Quốc Khánh (8) Đặng Quý Địch (3) Đặng Tấn Tới (2) Đặng Thị Hoa (2) Đặng Thị Xuân (1) Đặng Toán (1) Đăng Trình (1) Đặng Tường Vy (3) Đặng Văn Sử (1) Đặng Việt Trinh (1) Đặng Xuân Xuyến (9) ĐIỂM BÁO (2) Điêu Thuyền (1) Đinh Lốc (2) Đình Thậm (1) Đinh Vương Khanh (4) Đoàn Khương Duy (1) Đoàn Thị Minh Hiệp (4) Đoàn Tình (1) Đoàn Tuyết Thu (1) Đoản văn (1) ĐỌC SÁCH (30) Đỗ Chiến Thắng (6) Đỗ Duy Hoàng (15) Đỗ Hồng Ngọc (5) Đỗ KIm Dung (1) Đỗ Phu (1) Đỗ Quyên (2) Đỗ Tâm Linh (1) Đỗ Tấn Đạt (2) Đỗ Thị Kim Hải (2) Đỗ Trúc Hàn (1) Đỗ Văn Tiến (1) Đỗ Xuân Phương (1) Đức Linh (1) Đức Tiên (3) Elena Pucillo Truong (6) gan jing world (1) Ghi chép (2) Giang Đình (8) Giang Hiền Sơn (6) Giáo dục (1) Guy de Maupassant (1) Hà Đoàn (2) Hạ Ly (1) Hà Nguyên (2) Hà Nhi (1) Hà Nhữ Uyên (2) Hà Phi Phượng (1) Hạ Thi (3) Hà Thị Thu Hằng (1) Hà Tùng Sơn (1) Hải Điểu (1) Hải Miên (3) Hải Phong (2) Hải Thăng (1) Hải Thuỵ (6) Hải Yến (2) Hàm Sơn (1) Hàn Dã Thảo (2) Hàn Du Tử (17) Hàn Hữu Yên (1) Hàn Lâm (1) Hãn Nguyên Nguyễn Nhã (1) Hàn Nguyệt (1) Hàn Phong Vũ (19) Hàn Tín (1) Hạng Vũ (1) Hậu Cốc Ngang (1) Hậu Đậu (1) Hiếu Dũng (1) Hoa Hướng Dương (1) Hoa Mai (2) Hoa Tím Buồn (4) Hoa Tuyết (2) Hoà Văn (10) Hoa Xuyến Chi (1) Hoài Huyền Thanh (53) Hoan Giang (1) Hoàng Anh (6) Hoàng Anh 79 (26) Hoàng Chẩm (53) Hoàng Chẫm (1) Hoàng Đình Quang (2) Hoàng Giao (4) Hoàng Hạ Miên (6) Hoàng Hữu (1) Hoàng Khánh Duy (5) Hoàng Kim (1) Hoàng Kim Chi (1) Hoàng Kim Oanh (2) Hoàng Linh (6) Hoàng Long (2) Hoàng Lộc (8) Hoàng Mẫn (1) Hoàng Minh Tường (2) Hoàng Nghĩa Lược (1) Hoàng Ngọc Xuân (4) Hoàng Nguyên (1) Hoàng Phủ Ngọc Tường (1) Hoàng Thảo Chi (1) Hoàng Thị Bích Hà (1) Hoàng Thị Nhã (8) Hoàng Thị Thu Thủy (2) Hoàng Trang (1) Hoàng Trần (1) Hoàng Trọng Quý (9) Hoàng Trọng thắng (1) Hoàng Tuấn Sơn (1) Hoàng Tuyên (2) Hoàng Vũ Thuật (1) Hoàng Xuân Hiến (1) Hoàng Xuân Niên (1) Hồ Bích Ngọc (4) Hồ Bích Vân (2) Hồ Đắc Thiếu Anh (1) Hồ Hải (2) Hồ Lê Diêm (1) Hồ Nam (1) Hồ Ngọc Diệp (1) Hồ Nhật Quang (1) Hồ Sĩ Duy (1) Hồ Thanh Ngân (10) Hồ Thế Hà (2) Hồ Thế Phất (3) Hồ Thế Sinh (1) Hồ Tĩnh Tâm (1) Hồ Tịnh Thuỷ (21) Hồ Vũ Khánh Linh (1) Hồ Xuân Thu (3) Hội Nhà văn TP. HCM (1) Hồng Hạnh (3) Hồng Liễu (1) Hồng Phúc (8) Hồng Tâm (10) Huệ Triệu (3) HUMICHI (5) Huy Nguyên (15) Huy Vọng (17) Huy Vũ (1) Huyết Kiệt (1) Huỳnh Dạ Thảo (1) Huỳnh Gia (18) Huỳnh Kim Bửu (1) Huỳnh Minh Lệ (2) Huỳnh Ngọc Nga (1) Huỳnh Ngọc Phước (29) Huỳnh Như Phương (1) Huỳnh Thanh Lan (1) Huỳnh Thị Quỳnh Nga (1) Huỳnh Thúy Thúy (1) Huỳnh Văn Diệu (1) Huỳnh Văn Mỹ (1) Huỳnh Văn Yên (1) Huỳnh Xuân Sơn (3) Hương Đêm (1) Hương Đình (4) Hương Quê Nhà (1) Hương Văn (6) Hửu Thỉnh (1) Irina Polianxkaia (1) James Dylan (4) James Joyce (1) Jeffrey Thai (9) Jerry Thu Trà (7) Kai Hoàng (1) Kate Chopin (1) Kha Tiệm Ly (4) Khả Xuân (1) Khán Võ (2) Khảo Mai (1) khoa học (1) Khổng Trường Chiến (3) Khổng Vĩnh Nguyên (1) KỊCH BẢN (1) Kiên Giang (1) Kiến Giang (12) Kiều Huệ (1) Kim Chuông (4) Kim Dung (2) Kim Ngoan (15) Kim Quyên (1) Kim Sơn Giang (22) Kim Tiết (10) Kim Yến (1) Kỳ Nam (2) Ký sự (14) Lã Bố (1) La Hán (1) La Mai Thi Gia (1) Lạc Thảo (1) Lại Ngọc Thư (1) Lam Giang (3) Lan Anh (1) Lan Phương (1) Lan Thanh (1) Lãng Du (6) Lâm Bích Thuỷ (8) Lâm Cẩm Ái (3) Lâm Hạ (11) Lâm Huy Nhuận (1) Lâm Trúc (30) Lâm Xuân Vi (1) Lâu Văn Mua (1) Lê Ân (5) Lê Bá Duy (9) Lê Đình Danh (79) Lê Đức Hoàng Vân (1) Lê Đức Lang (13) Lê Giang Trần (1) Lệ Hằng (3) Lê Hoài Lương (4) Lê Hoàng (2) Lê Hứa Huyền Trân (39) Lê Khánh Luận (1) Lê Minh Chánh (1) Lê Minh Dung (2) Lê Minh Hải (3) Lê Minh Vũ (3) Lê Ngân (3) Lê Ngọc Phái (1) Lê Ngọc Trác (1) Lê Ngũ Nam Phong (11) Lê Nhựt Triết (8) Lê Phương Châu (30) Lê Quang Trạng (23) Lê Sa Long (2) Lê Thanh Hùng (34) Lê Thanh My (8) Lê Thấu (1) Lê Thị Cẩm Tú (6) Lê Thị Hồng Thắm (1) Lê Thị Kim (1) Lê Thị Ngọc Lệ (1) Lê Thị Ngọc Nữ (33) Lê Thị Thu Hiền (1) Lê Thị Xuyên (13) Lê Thiếu Nhơn (15) Lê Thống Nhất (6) Lê Thụy Phương (2) Lê Tiến Dũng (1) Lê Tiến Mợi (6) Lê Trọng Nghĩa (3) Lê Trung Hiếu (1) Lê Tuân (4) Lê Uyên (1) Lê Văn Hiếu (12) Lê Văn Ngăn (3) Lê Vi Thuỷ (1) Lê Vinh (4) Lê Xuân Tiến (1) Lindsay Polak (1) Linh Lan (7) Linh Lan (Quảng Nam) (8) Linh Phương (3) Linh Thy (2) Long Khánh (4) Long Vương (1) luân hồi (1) Lữ Hồng (3) Lư Nhất Vũ (1) Lương Cẩm Quyên (1) Lương Duyên Thắng (3) Lương Đình Khoa (1) Lương Sơn (27) Lưu Ly (6) Lưu Quang Minh (15) Lưu Thành Tựu (1) Lưu Thị Mười (2) Lưu Xuân Cảnh (2) Lý Khánh Vinh (15) Lý Thành Long (1) Lý Thời Miễn (1) M.T.N.H (7) Mã Nhị Lan (1) Mạc Minh (2) Mạc Tố Hồng (1) Mạc Tường (2) Mai Đức Trung (6) Mai Hạnh (1) Mai Kiệm (1) Mai Loan (12) Mai Nhật (2) Mai Thanh (1) Mai Thị Vân (1) Mai Thìn (3) Mai Tuyết (37) Mang Viên Long (63) Marie Hải Miên (4) Mẫu Đơn (1) Mèo Con (1) Mi Thu (1) Miên Đức Thắng (2) Miên Linh (1) Minh Châu (2) Minh Đan (Lọ Lem Đất Võ) (6) Minh Nguyên (15) Minh Nguyễn (3) Minh Nguyệt (15) Minh Nguyệt (NT) (1) Minh Nhân Tông (1) Minh Vy (25) Mỗi tháng một tác giả và một bài thơ hay (2) Mộng Cầm (8) Mộng Nam (1) Mùa Xanh (3) Mưa (1) Mường Mán (1) MỸ THUẬT (6) My Tiên (1) Mỹ Vân (1) Nam Art (2) Nam Cao (1) Nam Thi (17) Năm Bửu (1) Nấm Độc (1) NCCGL (4) Ngàn Thương (33) Ngày Đẹp Tươi (1) nghệ thuật. (1) nghiên cứu (1) Ngọc Bút (8) Ngọc Diệp (35) Ngọc Thịnh (1) Ngô Càn Chiểu (1) Ngô Cự Chính (2) Ngô Diệp (6) Ngô Đình Hải (7) Ngô Hồng Nhung (1) Ngô Liêm Khoan (1) Ngô Minh Trãi (3) Ngô Nguyên Ngiễm (1) Ngô Thị Hoà (1) Ngô Thị Ngọc Diệp (10) Ngô Thuý Nga (30) Ngô Thúy Nga (16) Ngô Thy Học (7) Ngô Văn Cư (52) Ngô Văn Giảng (11) Ngô Văn Khanh (17) Ngô Viết Hòa (2) Nguyễn (1) Nguyễn An Bình (70) Nguyễn An Đình (4) Nguyễn Ánh 9 (1) Nguyễn Bá Nhân (1) Nguyễn Bích Sao Linh (1) Nguyễn Bình (1) Nguyễn Bính Hồng Cầu (2) Nguyên Cẩn (26) Nguyễn Châu (2) Nguyễn Chinh (4) Nguyễn Công Thụ (2) Nguyễn Công Tùng Chinh (1) Nguyễn Cử Tú Quỳnh (2) Nguyên Diệp (1) Nguyễn Dũng (1) Nguyễn Duy Khương (6) Nguyễn Duy Phương (1) Nguyễn Duy Thịnh (3) Nguyễn Đại Duẩn (2) Nguyễn Đặng Mừng (3) Nguyễn Đăng Thanh (20) Nguyễn Đăng Trình (4) Nguyễn Đình Bảng (1) Nguyễn Đình Trọng (1) Nguyễn Đoan Tuyết (25) Nguyễn Đồng Bội Thảo (1) Nguyễn Đức Chính (5) Nguyễn Đức Cơ (1) Nguyễn Đức Mậu (2) Nguyễn Đức Minh (6) Nguyễn Đức Minh Hùng (10) Nguyễn Đức Nhân (1) Nguyễn Đức Phú Thọ (26) Nguyễn Đức Quyền (4) Nguyễn Đức Tấn (6) Nguyễn Đức Tình (4) Nguyễn Gia Long (1) Nguyên Hạ (11) Nguyễn Hải Thảo (2) Nguyễn Hậu (2) Nguyễn Hiếu (8) Nguyễn Hiếu Học (2) Nguyễn Hòa Hiệp (2) Nguyễn Hoài Ân (1) Nguyễn Hoàng Thức (2) Nguyễn Hồng Diệu (1) Nguyễn Huệ (3) Nguyên Hùng (1) Nguyễn Huy (3) Nguyễn Huy (HD) (1) Nguyễn Huy Khôi (1) Nguyễn Huỳnh (1) Nguyễn Hữu Minh (1) Nguyễn Hữu Phú (1) Nguyễn Hữu Quý (2) Nguyễn Hữu Thuần (4) Nguyễn Hữu Trung (2) Nguyễn Khiêm (1) Nguyễn Khoa Đăng (51) Nguyễn Kiều Lam (2) Nguyễn Kiều Phương (3) Nguyễn Kim Hương (7) Nguyễn Kim Thịnh (1) Nguyễn Lam (2) Nguyễn Lương Vỵ (4) Nguyên Minh (1) Nguyễn Minh Dũng (46) Nguyễn Minh Hoà (1) Nguyễn Minh Khiêm (1) Nguyễn Minh Nguyệt (1) Nguyễn Minh Phúc (47) Nguyễn Minh Quang (5) Nguyễn Minh Thuận (9) Nguyễn Minh Toàn (1) Nguyễn Mỳ (1) Nguyễn Mỹ Nữ (3) Nguyễn Nga (14) Nguyễn Nghiêm (3) Nguyễn Ngọc Dũng (1) Nguyễn Ngọc Đặng (1) Nguyễn Ngọc Hà (4) Nguyễn Ngọc Hưng (6) Nguyễn Ngọc Minh Anh (1) Nguyễn Ngọc Thơ (31) Nguyễn Ngọc Tư (5) Nguyễn Nguy Anh (21) Nguyễn Nguyên Phượng (69) Nguyễn Nhật Hùng (4) Nguyễn Như Tuấn (14) Nguyễn Phin (30) Nguyên Phong (1) Nguyễn Phú Yên (8) Nguyễn Phượng (2) Nguyễn Phương Dung (2) Nguyễn Quang Quân (8) Nguyễn Quang Tâm (2) Nguyễn Quang Tuấn (1) Nguyễn Quân (2) Nguyễn Quốc Ái (1) Nguyễn Quốc Bảo (1) Nguyễn Quốc Đông (1) Nguyễn Quy (2) Nguyên Tâm (1) Nguyễn Tấn Thuyên (3) Nguyễn Thái An (3) Nguyễn Thái Dương (6) Nguyễn Thái Huy (35) Nguyễn Thành Công (48) Nguyễn Thành Giang (22) Nguyễn Thanh Hải (1) Nguyễn Thanh Huyền (8) Nguyễn Thanh Mừng (1) Nguyễn Thánh Ngã (1) Nguyễn Thành Nhân (18) Nguyễn Thanh Tuấn (7) Nguyễn Thanh Xuân (2) Nguyễn Thế Kiên (1) Nguyễn Thế Kỷ (1) Nguyễn Thị Ánh Huỳnh (2) Nguyễn Thị Bích Phượng (2) Nguyễn Thị Cẩm Thuỳ (3) Nguyễn Thị Chi (2) Nguyễn Thị Diệu Hiền (3) Nguyễn Thị Hải (1) Nguyễn Thị Hằng (7) Nguyễn Thị Hậu (1) Nguyễn Thị Hồng Đào (10) Nguyễn Thị Huệ (1) Nguyễn Thị Kim Huệ (2) Nguyễn Thị Mây (127) Nguyễn Thị Ngọc Hải (1) Nguyễn Thị Ngọc Sen (2) Nguyễn Thị Như Tâm (3) Nguyễn Thị Phụng (27) Nguyễn Thị Thanh Bình (6) Nguyễn Thị Thành Nhân (1) Nguyễn Thị Thanh Toàn (1) Nguyễn Thị Thanh Xuân (1) Nguyễn Thị Thu Ba (23) Nguyễn Thị Thu Hiền (1) Nguyễn Thị Thu Hoài (1) Nguyễn Thị Thu Thuý (3) Nguyễn Thị Thùy Linh (3) Nguyễn Thị Tiết (3) Nguyễn Thị Tuyết (1) Nguyễn Thị Việt Hà (39) Nguyễn Thị Xuân Hương (14) Nguyễn Thu Hằng (1) Nguyễn Thủy (4) Nguyễn Thúy Ngân (13) Nguyễn Thuý Quỳnh (2) Nguyễn Thường Kham (3) Nguyễn Thượng Trí (2) Nguyễn Tiến Đường (8) Nguyễn Trần (1) Nguyễn Trí Tài (40) Nguyễn Trọng Luân (2) Nguyễn Trung (1) Nguyễn Trung Nguyên (1) Nguyễn Tuyển (4) Nguyễn Văn Ân (68) Nguyễn Văn Bút (6) Nguyễn Văn Công (2) Nguyễn Văn Cường (CCK) (4) Nguyễn Văn Hiến (5) Nguyễn Văn Hoà (5) Nguyễn Văn Hòa (2) Nguyễn Văn Học (55) Nguyễn Văn Ngọc (1) Nguyễn Văn Thanh (1) Nguyễn Văn Thành (1) Nguyễn Văn Thảo (17) Nguyễn Văn Toan (1) Nguyên Vi (1) Nguyễn Việt Hà (2) Nguyễn Vinh (1) Nguyễn Vĩnh Bình (3) Nguyễn Xuân Cảm (3) Nguyễn Xuân Dương (1) Nguyễn Xuân Khánh (1) Nguyễn Xuân Thuỷ (1) Nguyễn Xuân Thủy (1) Nguyễn Xuân Tư (3) Nguyệt Linh (5) Nguyệt Quế (1) Ngưng Thu (44) Nhã Ngọc (1) Nhã Thiên (7) nhà Thương (1) Nhân Hậu (2) NHÂN VẬT (1) Nhật Nguyệt Xuân Hương (1) Nhật Quang (17) Nhất Sinh (1) Nhật Vũ (1) Nhi Hạ (1) NHỚ THUỞ ẤU THƠ (37) Như Hoài (4) NHỮNG ÁNG VĂN HAY VỀ LÀNG QUÊ VIỆT NAM (7) NHỮNG NGƯỜI BẠN ĐÂT THỦ (6) NHỮNG NGƯỜI THỰC HIỆN HQN (5) Nông Quốc Lập (2) NP phan (1) Nửa Đời hư (1) NỬA THÁNG MỘT TÁC GIẢ VÀ MỘT BÀI THƠ HAY (38) nước (1) O. Henry (1) P.N. Thường Đoan (1) Pearl (1) Phạm Ánh (34) Phạm Anh Xuân (3) Phạm Bá Nhơn (2) Phạm Cao Hoàng (1) Phạm Đình Nghi (1) Phạm Hổ (1) Phạm Hữu Hoàng (20) Phạm Kiều Hưng (1) Phạm Lâm (1) Phạm Lê Tường Vi (1) Phạm Minh Dũng (14) Phạm Minh Hiền (9) Phạm Minh Thuận (10) Phạm Mỹ (1) Phạm Ngân (3) Phạm Như Vân (1) Phạm Phan Hòa (1) Phạm Phương Lan (1) Phạm Quỳnh An (1) Phạm Thái Ba (4) Phạm Thị Hải Dương (9) Phạm Thị Liên (1) Phạm Thị Mỹ Liên (30) Phạm Thị Phương Thảo (3) Phạm Thuý (6) Phạm Trần Ái Linh (4) Phạm Trung Tín (2) Phạm Tuấn Vũ (29) Phạm Tử Văn (21) Phạm Văn Phương (16) Phạm Văn Thạnh (1) Phạm Vũ (1) Phan Anh (12) Phan Cung Việt (1) Phan Đức Nam (1) Phan Hoài Thương (1) Phan Hoàng (2) Phan Huỳnh Điểu (1) Phan Hữu Lý (1) Phan Khanh (2) Phan Mai Thư Nhã (6) Phan Nam (20) Phan Quỳnh Như (1) Phan Sửu (1) Phan Tấn Lược (6) Phan Thanh Cương (2) Phan Thị Huỳnh Trang (2) Phan Tiên Phát (1) Phan Tình (1) Phan Trang Hy (25) Phan Văn Bình (1) Phan Văn Thạnh (1) Phan Văn Thuần (3) Phan Vĩnh (1) phần 1 (1) phần 2 (1) phần 3 (1) phần 4 (1) Phiêu Vân (1) Phong Dương (2) Phong Điệp (1) Phỏng vấn (7) Phú Ngọc (1) Phú Quang (3) Phú Xuân (8) Phùng Gia Lộc (1) Phùng Hiếu (10) Phùng Hiệu (1) Phùng Hoàng Chương (1) Phùng Phương Quý (7) Phụng Thiên (1) Phùng Văn Khai (1) Phước Vũ (1) Phương Phương (10) Phương Uy (5) Quan Thế Âm (1) Quảng Ngọc (1) Quảng Ngôn Lê Ngữ (1) Quang Thám (1) Quang Tuấn Dũng (9) Quốc Hùng (2) Quốc Tuyên (1) quy luật dịch (1) Quỳnh Lệ (1) Quỳnh Nga (16) Quỳnh Trâm (1) Rason Helmandollar (1) Raymond Carver (1) Raymond Thư (1) Rêu (Cao Hoàng Từ Đoan) (13) SÁCH BẠN VĂN (71) SARAH HALL (1) SINH NHẬT (1) Song Ninh (11) Sông Hương (11) Sông Lam (1) Sông Song (8) Sơn Tịnh (2) Sơn Trần (15) Sruthi Thekkiam (1) Stephen Crane (1) T.T.Hiếu Thảo (22) Tạ Nghi Lễ (1) Tạ Thị Hoa (14) Tam quốc diễn nghĩa (4) TẢN VĂN (230) TẠP BÚT (624) Tạp chí Văn Mới (1) TẠP CHÍ VN BÌNH DƯƠNG (11) Tashi Dawa (1) Tâm Lãng (1) Tâm Nhiên (2) Tấn Hòa (1) Tần Khánh (4) Tân Vương Huy (1) TẬP SAN ÁO TRẮNG (39) Tập san Văn học nghệ thuật Hương Quê Nhà (1) Tây bá hầu Cơ Phát (1) Tây Du Ký (1) Tây Sơn bi hùng truyện (2) Thạch Anh (2) Thạch Cầu (1) Thạch Đà (7) Thạch Lam (1) Thạch Sene (5) Thái An Khánh (2) Thái Hoà (1) Thanh Bình Nguyên (27) Thành Dũng (1) Thanh Hải (1) Thanh Huyền (2) Thanh Lương (2) Thanh Minh (4) Thanh Phong (1) Thanh Sơn (1) Thanh Thảo (3) Thanh Trắc Nguyễn Văn (42) Thanh Tùng (7) Thành Văn (3) Thạnh Văn (1) Thanh Xuân (2) Thảo Nguyễn (1) Thâm Tâm (1) Thần Y (1) Thi Ngọc Lan (1) Thiên Ân (1) Thiên Di (5) Thiên Sơn (1) Thiên Thần Áo Trắng (7) Thiên Tôn (10) Thiên Trần (1) Thiệp chúc mừng năm mới (4) Thiệp chúc Tết (3) Thiệp mừng (3) Thông báo (1) Thơ (3149) Thơ Lê Nhựt Triết (1) THƠ MỜI HOẠ (7) THƠ PHỔ NHẠC (106) Thời sự Văn nghệ (6) Thu Dung (3) Thu Hằng (1) Thu Hiền (1) Thu Hoài (1) Thu Nga (1) Thuận Thảo (8) Thuận Yến (1) Thục Minh (7) Thuỳ Anh (13) Thuỵ Du (1) Thụy Du (3) Thuỳ Dương (1) Thùy Dương (1) Thủy Điền (1) Thuỳ Nhân (1) Thư cảm ơn (1) Thư ngỏ (1) THƯ NGỎ CỦA HQN (2) Thư tin (285) THƯ VIỆN TÁC GIẢ (1) Tiểu luận (4) Tiểu Mục Đồng (1) Tiểu Nguyệt (5) Tiểu thuyết (107) Tiêu Tương (1) Tin buồn (2) TIN VĂN (2) Tịnh Bình (19) Tịnh Minh Tiến (2) Tô Hồng Phương (1) Tô Kiều Ngân (1) Tố Mai (3) Tô Minh Yến (21) Tôn Nữ Hỷ Khương (2) Tôn Thất Út (2) Tôn Tư Mạc (1) Tống Ngọc Hân (1) Tống Xuân Tám (1) Trà Bình (4) TRABATHA (1) Trác Phi (1) Trang Linh (1) Trang Lộc (1) Trang Thơ Chào Xuân Mậu Tuất 2018 (1) TRANG THƠ CHỦ NHẬT (528) Trang Thơ Đón Xuân Đinh Dậu 2017 (1) TRANG THƠ ĐƯỜNG LUẬT (17) Tranh ảnh (3) Trầm Mặc (4) Trần Anh Dũng (1) Trần Bảo Định (4) Trần Băng Khuê (1) Trần Biên Thùy (1) Trần Dần (1) Trần Duy Đức (17) Trần Dzạ Lữ (4) Trần Định (1) Trần Đình Sử (2) Trần Đoàn Luận (1) Trần Đức ÁI (2) Trần Đức Hiển (1) Trần Đức Tín (1) Trần Hà Nam (4) Trần Hoàng Vy (2) Trần Hồng Vân (5) Trần Huiền Ân (2) Trần Huy Minh Phương (2) Trần Hữu Du (1) Trần Hữu Hội (17) Trần Kim Đức (5) Trần Kim Loan (2) Trần Kim Quy (1) Trần Lê Sơn Ý (2) Trần Linh Chi (1) Trần Long Thạch (1) Trần Lưu (1) Trần Mai Hường (11) Trần Mạnh Hảo (1) Trần Minh Nguyệt (16) Trần Năm (1) Trần Ngọc Hồ Trường (4) Trần Ngọc Mỹ (11) Trần Nguyên Hạnh (6) Trần Nhã My (2) Trần Như Luận (3) Trần Nhương (1) Trần Phù Nam (1) Trần Quang Dũng (4) Trần Quang Khanh (12) Trần Quang Lộc (1) Trần Quang Ngân (10) Trần Quốc Tiến (8) Trần Quốc Toàn (1) Trần Quốc Việt (1) Trần Tâm (7) Trần Thái Hưng (5) Trần Thanh Hải (3) Trần Thành Nghĩa (1) Trần Thế Nhân (13) Trần Thị Bích Thu (1) Trần Thi Ca (9) Trần Thị Cổ Tích (2) Trần Thị Huệ (1) Trần Thị Huyền Trang (3) Trần Thị Mai (1) Trần Thị Ngọc Hồng (1) Trần Thị Thanh (5) Trần Thị Thắng (1) Trần Thị Thương Thương (4) Trần Thị Trúc Hạ (1) Trần Thị Uyên (8) Trần Thiện (3) Trần Thiện Tuấn (1) Trần Thoại Nguyên (2) Trần Thuận (7) Trần Thúy Lành (6) Trần Thuỳ Trang (1) Trần Thư (1) Trần Thương Nhiều (1) Trần Trọng Hưng (2) Trần Trọng Tân (1) Trần Trọng Vũ (2) Trần Tuấn Anh (2) Trần Tuấn Thanh (10) Trần Vạn Giã (2) Trần Văn Bạn (16) Trần Văn Nhân (5) Trần Văn Thiên (1) Trần Việt (1) Trần Viết Dũng (11) Trần Võ Thành Văn (24) Triết học (2) Triều Âm (2) Triều Châu (1) Triều La Vỹ (2) Triệu Lam Châu (1) Triệu Từ Truyền (30) Trịnh Bửu Hoài (106) Trịnh Duy Sơn (2) Trịnh Hoài Linh (5) Trịnh Huy (4) Trịnh Thuỳ Mỹ (1) Trịnh Tuyên (1) Trịnh Viết Hiền (1) Trịnh Viết Hiệp (1) Trịnh Yến (2) Trọng Mật (2) trụ vương (1) Trúc Giang (4) Trúc Lập (1) Trúc Linh Lan (2) Trúc Thanh Tâm (12) Trúc Thuyên (3) trung quốc (1) Trung Trung Đỉnh (1) Trung Y (1) Truong Nguyen (1) Truyện dài (10) TRUYỆN DỊCH (17) Truyện ký (2) TRUYỆN NGẮN (1173) TRUYỆN VỪA (14) Trương Công Tưởng (16) Trương Diễm Phiến (1) Trương Đình Phượng (8) Trương Đình Tuấn (3) Trương Hồng Phúc (14) Trương Huỳnh Như Trân (2) Trương Lan Anh (1) Trương Nam Chi (5) Trương Thanh Cường (2) Trường Thắng (65) Trương Thị Thanh Tâm (22) Trương Thị Thúy (2) Trường Thịnh (6) Trương Tri (2) Trương Văn Dân (21) Trương Viết Hùng (1) TTM (1) Tuấn Nguyễn (7) Tuấn Quỳnh (3) Tuệ Mỹ (1) Tuti (2) Tuỳ bút (2) TÙY BÚT (120) Tuyết Nhung (2) Tuyết Vân (1) tứ đại mỹ nhân (1) Tường Vi (1) TX (1) Út Lãng Tử (1) Uyên Khuê (2) Uyên Minh (1) Uyển Phan (1) Vạn Lộc (1) Vành Khuyên (1) Văn (2483) Văn Công Mỹ (2) văn hóa truyền thống (5) Văn học nước ngoài (13) Văn Lưu (1) Văn Nguyên (1) Văn Nguyên Lương (7) Văn Nhược Ba (1) Văn Thạnh (2) Văn Thành Lê (1) Văn Thắng (23) Văn Trọng Hùng (1) Vân Đồn (3) Vân Giang (12) Vân Khanh (2) Vân Phi (32) Vân Tùng (2) Vi Ánh Ngọc (2) Vi Quốc Hiệp (1) Victor Remizov (1) VIDEO CLIP (2) Viễn Trình (25) Việt Quỳnh (1) Việt Trang (1) Việt Trương (1) Vĩnh Sơn (7) Vĩnh Thông (43) Vĩnh Tuy (21) Võ Bá Cường (1) Võ Chân Cửu (17) Võ Chí Nhất (3) Võ Công Liêm (1) Võ Diệu Thanh (18) Võ Dõng (1) Võ Đông Điền (4) Võ Hà (1) Võ Hạnh (2) Võ Mỹ Cát (1) Võ Ngọc Thọ (4) Võ Như Văn (3) Võ Thị Nga (13) Võ Thị Thu Thủy (1) Võ Thuỵ Như Phương (15) Võ Văn Hoa (1) Võ Văn Luyến (1) Võ Xuân Phương (3) Vũ Bình Lục (1) vũ đạo (1) Vũ Đình Huy (9) Vũ Đình Liên (1) Vũ Đình Minh (1) Vũ Đình Nguyệt (2) Vũ Đình Thung (2) Vũ Đức Trọng (1) Vũ Hạ (1) Vũ Hạnh (3) Vũ Hùng (2) Vũ Miên Thảo (5) Vũ Thành An (1) Vũ Thị Huyền Trang (115) Vũ Thụy Khuê (8) Vũ Trọng Quang (1) Vũ Trọng Tâm (2) Vũ Trọng Thanh (1) Vương Doãn (1) Vương Hạnh (1) Vương Hoài Uyên (4) Vương Tâm (3) Xanh Nguyên (4) Xuân Đài (1) Xuân Phong (6) Xuân Phương (1) Xuân Tiến (20) Ý Thu (3) Yên Kha (7) Ziken (2)
-------------------------------------------------------------------------
+ 817 TÁC GIẢ CÓ BÀI ĐĂNG TRÊN HƯƠNG QUÊ NHÀ
-------------------------------------------------------------------------