LỖI HẸN - Thơ: Ngô Viết Hòa - Nhạc: Nguyễn Hữu Duyên - Ca sĩ Lê Tuyền

Read more…

CHỢ RƯỢU - Thơ: Lê Vinh - Nhạc: Nguyễn Hữu Duyên - Ca sĩ Lê Tuyền

Read more…

ĐOẢN KHÚC YÊU - Thơ Ngô văn Cư - Nhạc Nguyễn Hữu Duyên - Ca sĩ Nguyên Tr...

Read more…

THIÊN ĐƯỜNG CŨ - Thơ Trần Quang Khanh - Nhạc Nguyễn Hữu Duyên - Trình bày: Ca sĩ Kiều Lệ


Read more…

KHI CHIM ÉN BAY VỀ ĐẬU TRÊN TÌNH YÊU VĨNH CỬU - Bài của Ngô Văn Cư



(Đọc TÌNH YÊU VĨNH CỬU của TRẦN THIÊN HƯƠNG)



Một cuốn tiểu thuyết dày dặn gần 600 trang, bìa cứng, trình bày trang nhã với cái tên nghe rất quen thuộc như đã từng gặp ở đâu đó: TÌNH YÊU VĨNH CỬU của Trần Thiên Hương đã nằm trên bàn đọc sách của tôi gần nửa tháng.

Nhưng vì đây là sách được tặng nên phải đọc và sẽ đọc kỹ, đó là thói quen của tôi. Và, tôi đã đọc đi, đọc lại để nhận ra rằng tác giả gởi vào những cuộc tình trai gái là một tình yêu lớn lao: tình yêu quê hương đất nước. 

Sách được chia làm 2 phần:

Khi chim én bay về (Phần 1) và Tình yêu vĩnh cửu (Phần 2) được tái hiện tình yêu và số phận nhiều nhân vật suốt thời gian gần thế kỷ với ba thế hệ trong một gia đình mà Julie Kiều Trang là sợi chỉ xuyên suốt tác phẩm. Người đọc dễ đuối sức khi dõi theo thế giới nhân vật hội đủ mọi tầng lớp xã hội; hội đủ sắc thái tình cảm nhân sinh; đa dạng, đông đảo trong quãng thời gian dài gần thế kỷ.

Phần I: KHI CHIM ÉN BAY VỀ hay MÙA XUÂN LẠI ĐẾN.

Ba nhân vật Chiêu, Jonathan và Julie Kiều Trang trái nghịch nhau về hoàn cảnh, quan điểm, suy nghĩ nhưng họ cuốn vào vòng xoáy của tình yêu trong bối cảnh, không gian của cuộc khởi nghĩa Yên Thế. Lịch sử đã làm cái phông nền cho tình yêu của ba người nẩy nở và từ tình yêu của họ người đọc thấy được những điều lớn lao: tình yêu Tổ quốc, gia đình; khát vọng về hòa bình, độc lập và giữ gì nét văn hóa của dân tộc.

Jonathan, một tổng biên tập có trách nhiệm, chân tình và giàu tình cảm đã thầm yêu Kiều Trang, một nữ ký giả thông minh, sắc sảo. Anh không mệt mỏi theo đuổi nàng nhưng đến lúc ngỡ rằng đã nắm bắt được tình yêu thì mối tình ấy cùng cuộc đời anh đã chìm xuống đáy đại dương. Với Kiều Trang thì chưa chắc đó là tình yêu nam nữ mà là “… một niềm yêu mến vừa len lỏi trong tim nàng, nó chưa hình thành, mới chỉ khiến trái tim nàng hơi rung động.” (trang 130). Cuộc tình ấy kết thúc không có hậu từ lúc nàng nghe trọn lời Jonathan: “Kiều Trang… Tôi yêu em!...”.

Chiêu thì khác. Anh xuất thân từ tầng lớp trung nông, tham gia chống Pháp với tài đúc súng trường nhưng thông minh, ham học hỏi, dũng cảm. Anh được cụ Hoàng Hoa Thám tin cẩn và trọng dụng. Anh có một tình yêu vô cùng lớn lao là yêu tổ quốc; yêu quê hương xứ sở; yêu độc lập. tự do mà không tiếc máu xương, gian khổ. Anh cũng cảm mến Kiều Trang vì sắc đẹp và nét đoan trang nhưng biết “cô ta không bao giờ thuộc thế giới của mình nên cũng quên đi” (trang 185). Nhưng cuộc sống có lối đi riêng của nó nên Chiêu đã gặp lại Kiều Trangtrong lớp học của nàng. Và, tình yêu của anh với nàng bắt đầu nẩy nở; rất logic, không khiên cưởng gượng ép dẫu rằng tưởng chừng như tác giả đã sắp xếp cho hai người gặp nhau.

Julie Kiều Trang sinh ra và lớn lên trong một gia đình quyền quý, hiền lành, đoan trang, thông minh, sắc sảo có việc làm ổn định và thành công trong công việc của mình. Kiều Trang phải đắn đo lựa chọn giữa hai người trai đáng ngưỡng mộ. Một Jonathan “… là người Pháp nhưng anh ta không cầm súng mà cầm bút. Anh ấy biết lẽ phải. Sứ mệnh của anh ta là sang đây là bênh vực lẽ phải.” (Trang 73). 

Một anh Chiêu “có một vóc dáng nam nhi mạnh mẽ, với bờ vai rắn chắc, đôi mắt đen sâu thẳm, sống mũi cao trên khuôn mặt cương nghị. Tất cả toát lên một vẻ đẹp đầy kiêu hãnh” (Trang 184). Cuối cùng “tình yêu đến có bao giờ báo trước, nó có cần điều kiện gì đâu” (Trang 185) nhưng trong thẳm sâu tình cảm, nàng đã lựa chọn con đường trở về với quê hương xứ sở đang còn trong loạn lạc, đói nghèo; khước từ một gia sản lớn và cuộc sống vương giả mà ai cũng ao ước. Sống trong lòng tổ quốc Kiều Trang đã phát sinh và nẩy nở tình yêu với Chiêu. Đó là mổi tình đẹp của hai tâm hồn cùng chí hướng: Phụng sự cho quê hương! Chiêu đã chiếm lĩnh tình cảm Kiều Trang từ lần đầu gặp nhau khiến nàng bồi hồi, xao xuyến trước hành động ngang tàng và bí hiểm của chàng. Kết thúc phần này là cái chết của Chiêu khiến cho cuộc tình Kiều Trang thêm một lần bi thương, một lần nữa lặp lại bi kịch của tình yêu. Vẫn biết “cổ lai chinh chiến kỷ nhân hồi!”, nhưng người đọc vẫn thấy xót xa, hụt hẫng trước mối tình đẹp mà không trọn vẹn. May là còn có cậu bé An…

Dõi theo câu chuyện tình lãng mạn nhưng bi thương của đôi trai tài gái sắc trong bối cảnh đất nước đang bị kẻ thù xâm lược dày xéo, người đọc bắt gặp một mảng lịch sử hào hùng, bi tráng và một nền văn hóa của dân tộc ta cách đây hàng trăm năm. Cuộc tình của Chiêu và Kiều Trang éo le nhưng lại phù hợp với thời đại: Rất riêng tư nhưng thống nhất trong cuộc đấu tranh chống giặc ngoại xâm. Tác giả không hề trực tiếp miêu tả những cuộc chiến giữa nghĩa quân Đề Thám và thực dân Pháp nhưng người đọc vẫn thấy sự khốc liệt của cuộc chiến; sự gian khổ, không nề hy sinh của nghĩa quân; sự bần cùng và thất học của đại đa số người dân… Cũng như người đọc theo dấu chân Kiều Trang thì thấy sự đa dạng, phong phú của các nền văn hóa. Thêm một lý do để ta yêu quý Kiều Trang là người con gái quý phái, có học thức ấy đã đồng cảm, yêu thương, giúp đỡ những mảnh đời bất hạnh, khốn khó đang quằn quại sống dưới chế độ thuộc địa của thực dân Pháp. Kiều Trang như một chiến sĩ trong mặt trận văn hóa mà không trực diện với kẻ thù. Có lẽ nhờ vậy mà tác giả có những trang rất thăng hoa khi kể về mối tình của nàng và Chiêu.

Đọc hết phần I mới chợt nhận ra tiêu đề cho phần này có tính ẩn dụ cao. Hình ảnh chim én báo hiệu mùa xuân đất trời và cũng là mùa xuân của dân tộc lại xuất hiện khi Chiêu bị thương “Đôi mắt anh dần dần khép lại, trong đáy mắt vẫn in hình bóng của nàng cùng bầu trời chim én bay…” (Trang236). Còn Kiều Trang vẫn âm thầm tạo cho mình một mùa xuân tình yêu đôi lứa: Bé An ra đời và ghi dấu một tình yêu vĩnh cửu.


PHẦN II: TÌNH YÊU VĨNH CỬU hay TRONG TRO CÒN LỬA

Khi đã đọc hết phần I, độc giả không thể gấp sách. Bởi “Đời người đâu phải chỉ có một mối tình duy nhất, nếu chỉ một thì người ta còn nói mối tình đầu hay cuộc tình cuối làm gì! Cái chết gieo mầm cho sự sống, và tình yêu cũng không ngoại lệ. Mối tình xưa đã lụi tàn nhưng ngọn lửa yêu đương trong tim vẫn còn âm ỷ cháy…” (Trang 545), và Kiều Trang đã làm chất xúc tác cho tình yêu bùng lên hai thế hệ tiếp theo. Tình yêu tổ quốc và tình yêu trai gái lặp lại trong gia đình Kiều Trang.

Ông An, con trai của Kiều Trang và Chiêu, được tổ chức cài cắm vào lòng địch theo đoàn người miền Bắc di cư vào Nam năm 1954. Anh nối tiếp lòng yêu nước của gia đình, tiếp tục hoạt động cách mạng với kẻ thù mới: Giặc Mỹ. Ông đã làm tốt nhiệm vụ của mình cùng với những đứa con.

Thời đại đã khác nên tư tưởng tình cảm của mỗi người cũng khác nhưng lòng yêu nước vẫn là mẫu số chung cho các thành viên trong gia đình. Bảo Toàn, con của ông An; cháu nội của Kiều Trang, đã chịu xã hội chi phối trở thành Trung úy quân đội Việt Nam Cộng hòa nhưng vẫn giữ được truyền thống yêu nước của gia đình được bà nội Kiều Trang xe duyên cùng cô bác sĩ xuất thân nghèo khó khiến những nhân vật trong tiểu thuyết đa dạng hơn trong các chiến tuyến khác nhau.

Nguyên Anh được sống trong thời kỳ đất nước tái thiết và xây dựng; giặc ngoại xâm không còn nữa. Cô không bị xã hội chi phối nhiều nên có thể tự khám phá cuộc sống; khám phá bản thân; tự đi tìm tình yêu cho mình. Và, cô đã gặp được tình yêu đích thực với Thuyên, người con trai đã trải qua bao sóng gió cuộc đời.

Ba thế hệ của một gia đình, mà Kiều Trang là nhân vật xuyên suốt, đã sống và hoạt động kéo dài qua ba thời kỳ: Chống Pháp, chống Mỹ và xây dựng đất nước, tạo nên những tuyến nhân vật đa cực, đa dạng; đủ mọi tầng lớp trong xã hội thành một dòng chảy liên tục về truyền thống yêu nước vĩnh cửu. Câu chuyện tình yêu và số phận của họ đã gắn liền với lịch sử. Mỗi người có cách nhìn nhận riêng về cuộc sống, về tình yêu nhưng cuối cùng ai cũng nhận ra hạnh phúc nhất là được sống với hiện tại. “Ta đã từng đi qua những niềm đau và cả cay đắng, mãi tìm hạnh phúc ở những nơi xa lắc, nhưng không ngờ rằng hạnh phúc ngay ở đây!”(Trang 555). Thời đại nào thì cuộc sống ấy, không thể khác! Nhưng tình yêu tổ quốc và tình yêu trai gái thì… vĩnh cửu!

KẾT

Hình ảnh những người kháng chiến chống Pháp xuất hiện từ đầu tác phẩm khiến người đọc nghĩ ngay rằng đây là một cuốn tiểu thuyết lịch sử. Còn tôi nghĩ thêm rằng tác giả Trần Thiên Hương đang giải thiêng những huyền thoạitrong lịch sử. Tất cả đều là sự phỏng đoán không chính xác khi đọc hết tác phẩm.

Lịch sử được chắt lọc trong tác phẩm chỉ là cái phông nền cho tác giả cho các nhân vật của mình hoạt động, bộc lộ những phẩm chất yêu nước, yêu người của mình. Mỗi giai đoạn lịch sử, tình yêu có thay đổi cho phù hợp nhưng tựu trung là cống hiến; không nề gian khổ; sẵn sàng hy sinh vì tình yêu. Tôi cho rằng Trần Thiên Hương đã thành công trong việc xây dựng tập thể nhân vật của mình mà trung tâm là nhân vật Julie Kiều Trang. Tình yêu của nàng và con cháu đã mềm hóa lịch sử vốn khốc liệt, tàn khốc, tang thương. Tác giả cũng đã biết chọn lối kể chuyện truyền thống theo thời gian vật lý kết hợp với thời gian đồng hiện để tránh sự cũ mòn theo kiểu tiểu thuyết chương hồi. Tôi tin Trần Thiên Hương sẽ thành công hơn nữa trên con đường văn chương. Còn hạn chế của tác phẩm ư? Người đọc sẽ tìm ra đáp án khi đọc: TÌNH YÊU VĨNH CỬU của Trần Thiên Hương in vào tháng 12/2022 do NXB Hội Nhà văn cấp phép

N.V.C

Read more…

Đàm luận về “Trinh Quán Chính Yếu” (Phần 29): Ngụy Trưng luận đạo trị quốc: Lấy đức làm gốc, pháp luật là bổ trợ

 

 Tranh tường vẽ Đường Thái Tông (ở giữa) niêm đại 642, tại hang số 220, Đôn HoàngCam Túc. ( Wikipedia)


Tác giả: Lưu Như

[ChanhKien.org]

Chúng ta ngày nay thường cho rằng xã hội pháp quyền là xã hội lý tưởng hoàn thiện nhất, nhưng lại không biết rằng pháp quyền mà mất đi cốt lõi nền tảng đạo đức thì sẽ đi đến cùng đường mạt lộ. Hiện tại quy định pháp luật trong xã hội càng ngày càng nhiều, nhưng nhân tâm lại đang càng ngày càng bại hoại, những hiện tượng hỗn loạn trong xã hội xuất hiện không ngừng, cho thấy mặt hạn chế chỉ trị được ngọn mà không trị được gốc của pháp luật. Pháp luật chỉ có thể làm phương tiện phụ trợ cho việc giáo hóa đạo đức. Tư tưởng trị quốc lấy đức làm gốc và bổ trợ bằng pháp luật này đã được miêu tả rõ ràng trong chương “Luận công bình” của [Trinh Quán chính yếu], cho thấy kiến thức anh minh sáng suốt của các Quân vương thần tử Trung Quốc cổ đại. Mà những kiến thức này là được vun bồi từ nền giáo dục truyền thống lấy đạo đức làm trung tâm.

Trong “Luận công bình” đã ghi chép chân thực về việc Ngụy Trưng viết một bản tấu chương lên Đường Thái Tông, trong đó có đoạn phân tích rất rõ ràng quan hệ giữa pháp luật và đạo đức; đọc xong đoạn văn này, chúng ta sẽ hiểu được pháp luật nên được dùng như thế nào và trị quốc như thế nào mới là cao minh nhất. Để độc giả tiện theo dõi, chúng tôi đã chia nguyên văn thành nhiều đoạn để các bạn lĩnh ngộ được cặn kẽ tư tưởng trị quốc của vị hiền thần này.

Đoạn Thứ nhất:

Thần (Ngụy Trưng tự xưng) nghe nói, về sự cao thượng và sâu dày của đạo đức, không người nào có thể vượt qua Hoàng Đế và Nghiêu Đế; về sự vĩ đại của lòng nhân nghĩa, không người nào có thể so được với Thuấn Đế và Đại Vũ. Nếu muốn kế thừa phong phạm của Hoàng Đế và Đường Nghiêu, đi theo bước chân của Ngu Thuấn và Đại Vũ, thì chỉ có thúc đẩy đạo đức nhân nghĩa, cử hiền tài mà bổ nhiệm, nghe thiện ngôn mà trị lý đất nước. Nếu như không thể tuyển chọn người hiền tài có đạo đức cao thượng, mà đem chính quyền ủy thác cho người thế tục không có kiến thức, bởi vì họ không có tầm nhìn và trí tuệ, sẽ khiến quốc gia mất đi nền tảng gốc rễ. Họ chỉ có thể thực thi pháp luật hà khắc để nhanh chóng khống chế bách tính và thiên hạ, như vậy sẽ tuyệt đối không thể đạt được “vô vi nhi trị” như các vị tiên cổ thánh vương thời xưa. Cho nên quân chủ thánh minh trị lý thiên hạ sẽ lấy việc sửa đổi phong tục [xấu] làm gốc, mà không dựa vào hình phạt nghiêm khắc, chính là thực thi hai chữ “nhân nghĩa”, không có “Nhân” thì không thể triển khai rộng rãi toàn thiên hạ, không có “Nghĩa” thì không thể tự ngay chính bản thân, dùng Nhân để thi ân khắp thiên hạ, dùng Nghĩa để ngay chính bản thân, như vậy các việc chính sự của quốc gia có thể không cần dùng pháp luật nghiêm khắc mà vẫn có thể đạt được thái bình, giáo hóa có thể không cần quá nghiêm khắc mà vẫn có thành tựu. Cho nên mới nói Nhân Nghĩa là căn bản của việc trị quốc, còn hình phạt chỉ là phương pháp phụ trợ trong việc trị quốc. Trong việc trị quốc có thể dùng hình phạt, giống như việc điều khiển xe ngựa là không thể tránh khỏi phải dùng roi để điều khiển nó đi đúng hướng, nếu người dân đều minh tỏ thiện ác, từ đó tự giác đi trên con đường đúng đắn, như thế hình phạt là không còn chỗ đứng trong xã hội nữa; nếu ngựa có thể tự giác băng băng chạy đúng đường, như vậy roi vọt cũng không còn cần nữa. Từ đó có thể thấy rằng, hình phạt không thể khiến cho quốc gia đạt được thái bình từ gốc, đạo lý này là rất minh hiển.

Giải nghĩa đoạn Thứ nhất: Trách nhiệm của người làm vua và người làm cha

Kiến thức của Ngụy Trưng: Ngụy Trưng không hổ là bậc đại nho thông thái cao minh, ông hiểu được trách nhiệm trọng đại của người trí thức chính là lãnh đạo quốc gia, quy chính nhân tâm. Phương pháp dẫn dắt đất nước căn bản nhất chính là lấy đạo đức giáo hóa bách tính, để người dân hiểu được thế nào là đúng sai thiện ác. Nếu lòng người thiện lương tự nhiên sẽ không đi làm việc xấu nữa, quốc gia tự nhiên thái bình, hình phạt bất quá chỉ có thể cưỡng chế quy chính hành vi, nhưng không thể quy chính nhân tâm, vào lúc không ai thấy họ vẫn đi hành ác. Cho nên hình phạt không thể giải quyết tận gốc vấn đề.

Người xưa cho rằng người làm Đế Vương cũng như là cha của thiên hạ, mà bách tính là con dân, trong Tam Tự Kinh có câu “Dưỡng bất giáo, phụ chi quá” (tức là: nuôi mà không dạy, là lỗi của cha), vô luận là một gia đình nhỏ hay một quốc gia lớn thì vẫn là cùng một đạo lý, trách nhiệm giáo dục con cái là trách nhiệm được đặt lên hàng đầu của người làm vua và người làm cha. Người xưa coi việc giáo dục đạo đức, giáo dục nhân phẩm cho con cái quan trọng hơn sự thỏa mãn về vật chất. Do vậy những nho sinh, sỹ phu chân chính, đều phải hiểu được làm sao để trị quốc, làm thế nào để hướng dẫn các hoàng đế đời sau noi theo những tấm gương của các hoàng đế cổ đại như Nghiêu và Thuấn, khuyên răn họ noi theo đạo Nhân Nghĩa của Khổng Tử. Bởi vì nền tảng giáo dục của Khổng Tử chính là đang kế thừa và tuyên dương tinh hoa văn hóa trị quốc mà các Thánh vương thời cổ đại lưu lại, những văn hóa này đều lấy đạo đức làm trung tâm. Nếu rời khỏi những kiến thức này thì sẽ hình thành những pháp luật bất công bất nghĩa (ác pháp) để duy hộ tư dục cá nhân. Mặc dù nhất thời việc lấy ác trị ác này có hiệu quả, nhưng sau đó sẽ trở nên ngày càng tồi tệ hơn. Càng tệ hơn thì hình phạt sẽ càng ngày càng nghiêm khắc, và cuối cùng sẽ đi đến điểm kết.

Cho nên, Ngụy Trưng khuyên Thái Tông trị quốc tuyệt đối không để mất sự thống nhất thiên hạ, không nên dùng pháp luật mà rời bỏ đức, không nên chọn quan mà không xét đến đức. Nếu lấy đức làm gốc, pháp luật là ngọn để giáo hóa dân tâm, khiến cho bách tính hiểu được thiện ác để làm người, đó là trách nhiệm và nghĩa vụ lớn nhất của Hoàng Đế. Để làm được như vậy thì tuyển chọn người hiền năng có đức lớn làm quan là rất trọng yếu. Quản lý một quốc gia là việc quá lớn, đế vương cần phải biết cách nhìn nhận con người và dùng người, từ đó tuyển chọn người có đức có tài để trợ giúp giáo hóa bách tính, cùng nhau thay đổi phong tục, hoàn thành việc tốt lớn nhất này, như vậy chính là cách quản lý thành công nhất, vô vi nhi trị cao minh nhất, cũng chính là đi trên con đường thánh hiền trị quốc, thống lĩnh thiên hạ của các đế vương thời cổ đại. Đây là Vương đạo lấy đức trị quốc thực sự.

Nếu như tuyển dụng người phàm tục không có đức làm quan, tầm nhìn tất nhiên sẽ nông cạn, họ sẽ chỉ tập trung vào cái lợi trước mắt, không nghĩ sâu xa, như thế quốc gia tất sẽ càng trị thì vấn đề xuất hiện càng nhiều; không để ý gì đến đại cục, ác pháp sinh sôi, hậu quả không thể tưởng tượng. Cho nên Ngụy Trưng nói, từ nay không thể quên lời dạy của đức Thánh Vương, khuyên Thái Tông làm theo các vị Thánh Vương, cần biết bản thân mang trách nhiệm làm Đế Vương thì phải nắm chắc hai chữ Nhân Nghĩa, dùng Nhân ban ơn huệ, cảm hóa bách tính; lấy Nghĩa để chính bản thân, trở thành tấm gương, trên làm dưới noi theo. Làm được như vậy tự nhiên sẽ quy chính nhân tâm. Cho nên cần để các vị quan hiền năng cùng đồng tâm đồng trí với Đế Vương hoàn thành sự nghiệp giáo hóa đạo đức của Đế Vương.

Ở một tấu chương khác, Ngụy Trưng gọi đạo trị quốc lấy đạo đức giáo hóa làm gốc này là đồng đức; gọi sự quản lý của bọn gian thần vô đạo là kết đảng, (nguyên văn: phu dĩ thiện tương thành vị chi đồng đức, dĩ ác tương tế vị chi bằng đảng). Đây cũng chính là cốt cách thực sự của văn nhân thời cổ đại, cũng chính là lý do vì sao lại có cách nói “Nhân nhân chí sĩ” (Người có đức nhân và người sĩ có chí). Phàm là người được giáo dục nho giáo truyền thống và thực sự hiểu được chỉ dẫn chân thực của Khổng Tử thì sẽ minh bạch được rằng, sứ mệnh lớn nhất của người đọc sách chính là phải trở thành người quân tử nhân nghĩa, giúp đỡ đất nước truyền bá rộng rãi đạo nhân nghĩa, quy chính đạo đức xã hội trở nên cao thượng. Đây mới là nhiệm vụ trọng yếu của bậc quân vương và thần tử, cũng chính là mục đích căn bản của giáo dục từ xưa tới nay.

Bởi vậy, trong đoạn Thứ hai, Ngụy Trưng tiếp tục lấy cách nói của sách cổ để giúp Đế Vương hiểu được cái gốc trong việc trị quốc là ở chỗ giáo hóa đạo đức. Chớ nên lấy ngọn làm gốc, một mực dựa vào luật pháp để cai trị đất nước.

Dịch từ: https://big5.zhengjian.org/node/250586





Read more…

Nghĩa giải Tam quốc (4): Trương Giác ác dụng Đạo thuật, tôn giáo tà biến

 
Ảnh( pinterest)

Tác giả: Lưu Như

[ChanhKien.org] Tiếp theo phần 3.

Quân “Khăn Vàng” được xác định là giặc trong lịch sử

“Cuối thời Linh Đế, Khăn Vàng nổi lên, châu quận các nơi tự mộ nghĩa binh, Tiên Chủ (chỉ Lưu Bị) dẫn thuộc cấp từ chỗ hiệu úy Trâu Tĩnh thảo phạt giặc Khăn Vàng có công, trở thành huyện úy huyện An Hỷ”. Câu này là trong sách Tam Quốc Chí – Tiên Chủ truyện nói về việc Lưu Bị đánh giặc lập công và được phong chức. Có thể thấy quân Khăn Vàng bị chính sử phán xét là quốc tặc, không phải là nông dân khởi nghĩa như trong sách giáo khoa lịch sử đã bị soán cải của Trung Quốc hiện đại. “Châu quận các nơi tự mộ nghĩa binh” mới là nghĩa binh mà lịch sử thừa nhận, là các tổ chức tự phát trong nhân dân do cơ quan chính phủ ở các châu các quận dán bảng triệu tập, và là nghĩa quân cùng với quan quân đi thảo phạt giặc Khăn Vàng.

Còn một nhánh mà Lưu Bị tổ chức, chính là nghĩa binh triệu tập theo bảng cáo thị của quan phủ. Trong câu chuyện mở đầu của Tam Quốc diễn nghĩa, Lưu Bị được cấp cho địa vị nông dân báo quốc, nghĩa quân hưng khởi, viết rằng ba anh hùng hào kiệt Lưu–Quan–Trương trượng nghĩa đánh giặc mà ‘kết nghĩa vườn đào’. Nếu như đảo lộn địa vị này, thì anh hùng dân tộc thiên cổ mà người ta ca tụng sẽ mất đi ý nghĩa, người dân trăm họ sẽ không yêu mến và kính ngưỡng họ; văn hóa của chúng ta, lý niệm nhân nghĩa làm người cũng sẽ bị nghi ngờ và phủ định. Nếu nhận thức cơ bản về quân Khăn Vàng bị soán cải thì thị phi thiện ác cũng bị điên đảo, người đời sau học đến đoạn lịch sử này sẽ hoài nghi tổ tiên và văn hóa truyền thống của mình, đạo đức tất nhiên sẽ trượt xuống. Người Trung Quốc hôm nay đã là như vậy.

Do đó, khi tác giả viết tiểu thuyết lịch sử, mặc dù là tiểu thuyết, nhưng mục đích cũng mười phần rõ ràng: nếu đã là thông qua hình thức hý kịch vừa học vừa vui để đạt được hiệu quả, truyền đạt giá trị quan ‘nghĩa’, thì đầu tiên nhất định phải minh xác bên nào là nghĩa binh. Đây là việc quan trọng bậc nhất, cũng là tuyệt đối không được thay đổi. Nhân vật và câu chuyện có thể được hư cấu, nhưng cái lý niệm ‘nghĩa’ mà nó biểu đạt là tuyệt đối không được thay đổi, cho nên các nhân vật chủ yếu mà tác giả dùng để hồng dương lý niệm nhân nghĩa như Lưu Bị, hồng dương trung nghĩa như Quan Vũ, Gia Cát Lượng, cũng tất nhiên đại biểu cho bên chính nghĩa.

Vì vậy, chúng ta mới tiến hành diễn giải tường tận, từ bối cảnh của câu chuyện mở đầu ‘kết nghĩa vườn đào’.

Đạo thuật vốn dĩ vô tội, chỉ vì bị dùng với mục đích xấu

Vậy vì sao thủ lĩnh của quân Khăn Vàng là Trương Giác có thể hô mưa gọi gió, còn có thể sử dụng nước phép để trị bệnh cho người ta? Tác giả gửi gắm nguyên nhân, thiện ác chính tà ở trong đó hết sức rõ ràng.

Trong sách viết: “Quận Cự Lộc có ba anh em: một là Trương Giác, hai là Trương Bảo, ba là Trương Lương. Trương Giác vốn trượt tú tài. Khi vào núi hái thuốc, thì gặp một lão nhân, mắt danh, khuôn mặt trẻ, tay nắm gậy lê, gọi Giác vào trong một hang động, truyền cho ba cuốn thiên thư, rồi nói: ‘Sách này gọi là Thái Bình yếu thuật. Ngươi có được nó rồi thì phải thay Trời giáo hóa dân chúng, phổ cứu thế nhân; nếu có lòng khác, thì tất bị ác báo’. Giác lạy hỏi danh tính, thì lão nhân nói: ‘Ta là Nam Hoa lão tiên’. Nói xong thì hóa thành cơn gió đi mất.”

Đoạn này nói rõ, Trương Giác xuất thân ở huyện Cự Lộc, không phải nông dân, mà là thi trượt tú tài. Bản sự hô mưa gọi gió, dùng nước phép trị bệnh của y là do khi vào núi hái thuốc thì gặp được Nam Hoa lão tiên truyền cho ba quyển Thái Bình yếu thuật, nhưng thông tin này vẫn không phải trọng điểm, quan trọng nhất là lão nhân truyền lại rằng: “Ngươi có được nó rồi thì phải thay Trời giáo hóa dân chúng, phổ cứu thế nhân; nếu có lòng khác, thì tất bị ác báo”.

Vì sao câu này lại trọng yếu? Bởi vì đây là lời răn đe Trương Giác, người được nhận thiên thư thì phải thay Trời giáo hóa dân chúng, phổ cứu thế nhân, nếu không sẽ bị ác báo. Đây chính là mục đích của việc truyền thiên thư cho y, để y có được Đạo thuật thần kỳ, có được bản sự siêu thường, tuyệt đối không thể dùng để mưu cầu vinh hoa phú quý cho cá nhân. Rất hiển nhiên, tác giả viết ra lời này chính là đang nói với độc giả: Đạo thuật thần kỳ là có tồn tại, Thần Tiên sẽ lựa chọn người để truyền thụ thiên thư, để người này hiển hiện thần tích ở một mức độ nào đó, giúp người tiêu bệnh giải nạn, từ đó được quần chúng tin cậy, dựa vào đó mà thay Trời tuyên truyền đạo đức giáo hóa, để cho thế nhân nào có đạo đức bại hoại, có thể hiểu đạo lý thiện ác hữu báo, từ đó mà quy chính nhân tâm, trọng đức hành thiện, đạt được mục đích cứu người.

Có nghĩa là, những bản sự siêu thường ấy, các thứ thuật loại của Đạo giáo, nhất định phải dùng vào việc cứu người, cho dù là trị bệnh hay là để cuối cùng cứu nhân tâm đã bại hoại cũng vậy, đều là cứu người. Một khi đi ngược với lời thề, lợi dụng sự sùng bái của tín đồ đối với hiệu quả thần kỳ của Đạo thuật, dùng để đạt được mục đích danh lợi, thì tuyệt đối không có kết cục tốt. Ba anh em Trương Giác vì vậy mà mất mạng.

Các câu chuyện Thần Tiên lưu truyền từ thời cổ, đều cho người ta một nhận thức chung thế này: Thần Tiên truyền cho đệ tử, tuyệt đối không để cho đệ tử mưu cầu vinh hoa phú quý nơi thế gian con người, cho dù là trong Phong Thần diễn nghĩa kể rằng Nguyên Thủy Thiên Tôn lệnh cho Khương Tử Nha hạ sơn phò tá Châu Văn Vương, thuận thiên ý mà hành, thay đổi triều đại, lật đổ Trụ Vương nhà Thương, cũng chỉ có thể giới hạn ở việc xuất sơn phò tá Châu Văn Vương có đức hạnh rõ ràng, vốn được thiên hạ ủng hộ, mà không dùng phương thức cầm đầu các tín đồ tôn giáo, tự mình xưng vương để làm những việc đó. Việc này sẽ không gì hơn ngoài việc làm bại hoại hình tượng của tôn giáo, từ đó biến thành tà giáo. Việc thành lập tôn giáo vốn là để dẫn dắt đệ tử tu Đạo hướng thiện, vốn không cầu bất kể thứ gì của thế gian, Trương Giác rõ ràng đã vi phạm lời răn mà Thần Tiên đã căn dặn lúc đầu, muốn lợi dụng tôn giáo để đoạt lấy chính quyền, đi ngược mục đích ban đầu, thì làm sao có thể không tà biến được, không bị gọi là quốc tặc sao được? Có thể thấy tác giả đang răn đe người ta, rằng Đạo thuật mà thiên thư truyền vốn không có tội, dùng cho ngay chính thì là Thần thuật, dùng vào việc ác thì bị người ta xem là yêu thuật. Các thứ thuật loại, thiện dụng hay ác dụng, đều ở nhân tâm.

Vu Cát sử dụng Đạo thuật ngay chính, hình thành một ví dụ đối lập

Đạo thuật chỉ có thể dùng cho chính, chỉ có thể phục vụ cho tư tưởng cứu người, trong hồi 29 miêu tả Tôn Sách của Đông Ngô trảm Đạo sĩ Vu Cát, rồi bị Vu Cát đòi mạng mà chết đi, trong đó miêu tả rõ ràng nhất, Đạo nhân Vu Cát cũng trị bệnh cho người như vậy, cũng dùng Đạo thuật Thái Bình, hơn nữa từ không trung vẽ ra con rồng, rồi lấy gan rồng, tạo ra thần tích khiến mưa rơi xuống dày ba thước, giải trừ hạn hán ở địa phương, so với thần tích của Trương Giác thì còn thần kỳ đáng kinh ngạc hơn. Nhưng người này mấy chục năm không hề lợi dụng Đạo thuật để thu nạp môn đồ tại thế gian, chưa từng gây họa cho thế gian, chỉ là một mình hành tẩu làm việc tốt giúp người ta trị bệnh miễn phí, hình thành một hình ảnh đối lập mạnh mẽ với Trương Giác. Trong chương này, tác giả viết cũng là có mục đích, dùng để răn đe thế nhân. Đạo thuật thần tích của Thần Tiên là có tồn tại, chính là xem người dùng nó thế nào, là dùng một cách ngay chính hay dùng làm việc ác. Không thể vì có người dùng làm việc ác mà phủ định sự tồn tại của Thần Tiên và thiên ý, từ đó đi sang cực đoan, trở thành ác đồ vô Pháp vô Thiên, không tin thiện ác báo ứng, Tôn Sách cuối cùng bị Vu Cát đòi mạng, chính là để giảng đạo lý này. Tâm kính Thiên kính Thần là không thể bị dao động, nếu không sẽ có ác báo. Nhưng đồng thời cũng cần phải phân rõ thật giả và chính tà.

Từ khi Trương Giác sáng lập ra Đạo giáo Thái Bình thì đồ đệ ngày càng nhiều, tín đồ có mặt khắp nơi, thế là y khởi lên ý khác, cho rằng đã đắc được lòng dân, không dùng thì quả là đáng tiếc, nên bí mật bàn với hai em là Trương Bảo, Trương Lương để hành sự, muốn đoạt lấy chính quyền nhà Đông Hán. Bọn họ dùng một cách ác ý “Thiên nhân hợp nhất”, cách nói tam tài Thiên-Địa-Nhân mà văn hóa Đạo gia Trung Quốc giảng, Trương Giác tự xưng là Thiên Công tướng quân, Trương Bảo xưng là Địa Công tướng quân, Trương Lương xưng là Nhân Công tướng quân, lôi kéo cả một đội quân làm loạn lên đến 40~50 vạn người, muốn lập ra “Hoàng Thiên” của hắn, xảo ngôn rằng “Trời xanh đã chết, Trời vàng đang lập”. Vì họ buộc khăn vàng quanh trán, nên bị gọi là giặc Khăn Vàng. 

Mắt thấy “thế giặc to lớn, quan quân nản lòng”, đại tướng quân Hà Tiến tấu thỉnh Linh Đế hỏa tốc giáng chiếu, lệnh các nơi đánh giặc lập công; “mặt khác lệnh cho trung lang tướng Lô Thực, Hoàng Phủ Tung, Chu Tuyển, mỗi người dẫn theo lính tinh nhuệ, phân ba đường thảo phạt”.

Cánh quân của Trương Giác đến đánh U Châu, khiến cho thái thú Lưu Yên dán cáo thị chiêu mộ nghĩa binh. “Bảng cáo thị đi đến huyện Trác, thì có một anh hùng trong huyện Trác xuất hiện”. Vị anh hùng này chính là Lưu Bị. Lưu–Quan–Trương đã gặp nhau vào lúc này, mở ra câu chuyện kết nghĩa vườn đào.

Xem tiếp ...

Dịch từ: http://www.zhengjian.org/node/254338

Read more…

Nghĩa giải Tam quốc (3): Mở đầu luận đế vương thất đức

 

(Ảnh Pinterest)

Tác giả: Lưu Như

[ChanhKien.org] Tiếp theo phần 2

Khi tác giả kể về “kết nghĩa vườn đào”, thì nhất định phải kể rõ về bối cảnh mà câu chuyện nảy sinh, tuy vậy quá trình kể rõ đó không giống với các tiểu thuyết của ngày nay, nó rất quan trọng, luận rõ về căn nguyên “trị loạn hưng suy” của đại cục thiên hạ phân lâu tất hợp, hợp lâu tất phân và lai lịch của “Hoàng Cân” (Khăn Vàng) tạo phản. Cách nhìn về lịch sử của ông không hề hàm hồ chút nào. Nếu không làm rõ bộ phận lịch sử quan này thì sẽ không thể nào thực sự lĩnh hội được hàm nghĩa chân chính của câu chuyện.

Do vậy chúng ta trước tiên hãy xem bối cảnh được miêu tả trong nguyên văn. Bởi vì cuốn tiểu thuyết liên quan đến quá trình hình thành cho đến suy vong của ba nước, vậy nên đoạn mở đầu là từ cuối thời nhà Hán. Rất nhiều người là đọc bản phiên dịch sang tiếng bạch thoại hiện đại của Trung Quốc Đại lục, thông thường chỉ có thể thấy được vài câu ngắn ngủi như “Cuối thời Đông Hán, chính trị hủ bại, dẫn tới cuộc khởi nghĩa nông dân Hoàng Cân”. Những thông điệp trọng yếu không chỉ bị xóa đi mất, mà nhận thức về đội quân Hoàng Cân này cũng là trái ngược với tác giả. Thật ra ở trong sách thì quân Khăn Vàng của Trương Giác, bị gọi là giặc Khăn Vàng, không hề được coi là khởi nghĩa nông dân, đây là cách nhìn của tác giả đối với lịch sử. Cho dù chúng ta có lý giải được hay không, thì cũng nên trả lại ý gốc cho tác phẩm. Vậy vì sao tác giả lại có nhận thức như vậy? Trong bối cảnh đã giải thích mười phần rõ ràng. Ai đúng ai sai, nhất định phải hết sức rõ ràng, nếu không Lưu Bị, Quan Vũ và Trương Phi sẽ trở thành các nhân vật phản diện trấn áp nghĩa quân, tuyệt đối không thể nhận được sự yêu mến của đa số người dân trăm họ.

Trong nguyên văn, tác giả trước hết nói rõ về đại cục của thiên hạ, phân lâu tất hợp, hợp lâu tất phân, bắt đầu từ thời Chiến Quốc phân tranh cuối triều nhà Chu, rồi hợp nhất về thời nhà Tần, một mạch nói đến sự phân chia cuối thời Đông Hán, hình thành ba nước. Đây chính là lai lịch của Tam quốc. Nhưng tác giả không hề dừng lại ở hiện tượng bề mặt của sự phân phân hợp hợp, thay đổi triều đại, mà là tiến một bước luận bàn rõ về cái gốc căn bản của việc thiên hạ hợp rồi lại phân.

Hoàng đế thất đức, hợp lâu tất phân

Nguyên nhân là gì? Đó chính là đế vương thất đức thất nghĩa. Do vậy, nguyên văn trực tiếp viết rõ nguyên nhân căn bản của việc nhà Đông Hán suy vong phân thành Tam quốc như sau:

Suy xét nguyên nhân việc nhà Hán từ cuối thời Thái Bình đi vào loạn thế, trước hết phải truy tới hai vua là Hán Hoàn Đế và Hán Linh Đế, chính trị hỗn loạn, là bắt đầu từ hai vị hoàng đế này. Hoàn Đế xa rời hiền thần, giam cầm trung lương, tin dùng hoạn quan, nghĩa là để cho hoạn quan —vốn là những người hầu hạ hàng ngày cho đế vương và hậu phi, là tầng lớp người hầu, không có kiến thức và tài năng trị quốc— thay thế đại thần để trị quốc, nắm giữ quyền lớn của quốc gia. Bọn họ dựa vào quyền lực để mưu lợi riêng, bán quan bán tước, họa loạn triều chính.

Đến thời Linh Đế, trong sách có viết, dù đại thần có muốn quy chính lại triều cương, nhưng cơ mật bị lộ, các đại thần tham dự ngược lại lại bị hoạn quan hãm hại. Từ đó những hoạn quan muốn sao làm vậy, hoành hành bá đạo.

Những lời này, chính là nói về đế vương thất đức, đi ngược với đạo quân vương, do vậy mà thiên hạ mới bị chia rẽ. Vua không tin trung thần, rời xa người thiện lương, biến các đại thần thành bù nhìn, để cho “người hầu” của mình trị quốc, chính là công tư không rõ ràng, thất tín với các đại thần, thất tín với thiên hạ. Dùng người không thích đáng, không thân cận với người lương thiện, do vậy đế vương là có phần trách nhiệm của mình trong đó, việc chưa làm tròn nghĩa vụ của đế vương, là cái bất nhân và bất nghĩa lớn nhất của đế vương. Người hầu của hoàng gia là gia thần của riêng gia đình hoàng đế, chứ không phải là các đại thần trị quốc, để họ trị quốc thì quốc gia không loạn sao được.

Tai họa liên tiếp, thiên tượng cảnh cáo

Chúng ta biết rằng, cổ nhân nói quân quyền Thần thụ, đế vương là thiên tử, là người đứng đầu thay Trời quản lý và dạy dỗ dân chúng, nếu như thất đức, thì sẽ xuất hiện các dị tượng và thiên tai không lành, người ta tin rằng đó là Trời đang cảnh cáo, dùng để khuyên răn đế vương quy chính đạo đức hành vi của mình. Nếu không thì giang sơn khó giữ, thiên hạ đại loạn, Thiên thượng sẽ trừng phạt ông ta. Do vậy, chúng ta thấy được, sau khi tác giả nói rõ về nguyên nhân của phân-hợp, trị-loạn, thì tường tận kể về các loại điềm báo không lành và các loại thiên tai thời Linh Đế. Rất nhiều hiện tượng dị thường theo nhau mà đến, đầu tiên là có rắn xanh rơi xuống ngai vàng của Linh Đế, có giông tố và mưa đá đột ngột, làm hỏng vô số phòng ốc, tiếp đó là động đất ở kinh thành Lạc Dương, bờ biển có sóng thần, còn có gà mái biến thành gà trống, khối khí đen cao mười mấy trượng bay vào cung điện v.v. Đại thần Sài Ung dâng biểu giải thích việc gà mái biến thành gà trống là cảnh cáo việc hoạn quan tham dự chính trị, do đó mà ông đã đắc tội với hoạn quan, phải từ quan về quê. Kể từ đó, Linh Đế lại càng tin dùng hoạn quan hơn nữa. Có 10 viên hoạn quan lộng hành nhất, bị gọi là “thập thường thị”, Linh Đế còn tôn một người lên làm “A Phụ”, tức là kính trọng như phụ thân. Đã đến mức như thế.

Cuối cùng, đối với hậu quả của sự thất đức của Hoàn Đế và Linh Đế, thì tác giả tổng kết một câu như sau: “Triều chính ngày một bại hoại, xa rời chính đạo, dẫn tới nhân tâm của người trong thiên hạ trở nên xấu đi, rất nhiều người do vậy mà nhân cơ hội làm loạn thế gian, dẫn tới đạo tặc nổi lên ở tứ phương, bách tính chịu nạn”. Đây chính là nguồn gốc căn bản của việc ba anh em Trương Giác tụ tập quân Khăn Vàng, rồi dám làm phản. Đồng thời cũng thể hiện rõ cách nhìn của tác giả, quân Khăn Vàng không hề là khởi nghĩa, mà là quân đạo tặc, nhân thời loạn mà mưu đồ đoạt lấy ngôi vua. Mưu đồ hết sức xảo trá.

Do vậy, tiếp đó tác giả viết đến thủ lĩnh của Khăn Vàng là ba anh em Trương Giác, miêu tả rằng anh em bọn họ loạn dùng các thứ thuật loại của Đạo gia, dựa vào hiệu lực thần kỳ giúp người trị bệnh, mà thu hút tín đồ đông đảo, mê hoặc nhân tâm, tạo thành một thế lực lớn mạnh, có đến vài chục vạn người theo, và khởi động loạn Khăn Vàng.

Khi kể rõ về bối cảnh câu chuyện như vậy, thì quan điểm lịch sử đã rõ ràng, phân tích tường tận, cái lý trong con người và sự răn đe từ Thiên thượng hợp lại làm một, chính là để khuyến thiện, khuyên các quân vương trong tương lai đừng thất đức, cần phải hiểu rõ cái nguyên nhân căn bản của hưng suy, trị loạn.

Vậy thần thuật trị bệnh của Đạo gia, vì sao lại bị Trương Giác đoạt được, những thứ thuật loại này của Đạo gia, vốn dĩ có vấn đề không? Tác giả cũng cho thấy kiến giải rõ ràng.

 

Xem tiếp Phần 4

Dịch từ: http://big5.zhengjian.org/node/254337

Read more…

Nghĩa giải Tam quốc (2): Thế nào là ‘nghĩa’?

 

(Ảnh Pinterest)

Tác giả: Lưu Như

[ChanhKien.org] Tiếp theo phần 1

Cái mà Tam quốc diễn nghĩa diễn là ‘nghĩa’, vì vậy câu chuyện kinh điển mở đầu chính là ‘kết nghĩa vườn đào’ giữa Lưu Bị, Quan Vũ và Trương Phi. Tại vườn đào của Trương Phi đã hình thành nên mối quan hệ kết nghĩa huynh đệ không cùng huyết thống. Vậy ‘nghĩa’ này là gì?

Cách hiểu phổ biến nhất về ‘nghĩa’ là chính lý làm người, là đạo lý mà làm người trên thế gian cần tuân theo. Do vậy, ‘nghĩa’ phải đường đường chính chính, ngay thẳng, công bằng, không vị tư, mà vị công, vì người khác mà hành. Chính vì vậy những người xuất thân khác nhau thì cũng có những nghĩa vụ khác nhau, không tự thân nỗ lực làm những việc nên làm thì bị xem là bất nghĩa, điều đó có nghĩa là bạn đã vi phạm nguyên tắc làm người. Dù bạn là ai, ngồi ở vị trí nào thì đều vô tư mà làm tốt những việc cần phải làm, đó chính là trách nhiệm của bạn, không thể trốn tránh, do vậy mới có cách nói rằng việc của mình thì không thể đẩy cho người khác. Tất nhiên cũng có cách nói rằng “chính nghĩa bất dung từ”, tức nếu cần phải gánh vác đạo nghĩa nào đó thì không thể nào từ chối.

Ví dụ, các quân thần, phu thê trong quá khứ đều nhấn mạnh về các nguyên tắc và trách nhiệm mà họ nên tuân theo, vương có vương đạo (nhân nghĩa), thần có thần đạo (trung nghĩa), phu thê diệc nhiên (lòng chung thủy). Bất luận là quân thần hay phu thê, sư đồ bằng hữu hay phụ tử huynh đệ, chị em dâu, mẹ chồng nàng dâu… dù bạn đang trong mối quan hệ nào, với thân phận ra sao đều phải nắm vững đạo lý căn bản về cách làm người này. Các đạo lý làm người mà mỗi bên đều cần tuân thủ, vốn có các nội dung cụ thể khác nhau, nhưng đều thuộc về phạm trù  ‘nghĩa’, đều là ‘nghĩa’. Đặc điểm chung chính là sự ngay chính, vô tư, vị tha, và những việc mà bản thân nên thực hiện, nên gánh vác.

Do đó, người xưa có câu: “huynh đạo hữu, đệ đạo cung”, ý là đạo lý của phận làm anh trai là phải yêu thương, chăm sóc, ân cần với em trai của mình, còn phận làm em trai thì sao, đó là sự biết ơn, tôn trọng, cung kính vị anh trai của mình, thái độ cũng cần tôn kính và cùng san sẻ với người anh trai, đó là nghĩa vụ. Vì thế, khi nói đến tình huynh đệ, có thể ai đó sẽ hỏi: vậy ‘kết nghĩa vườn đào’ của Lưu–Quan–Trương có phải ngụ ý là nghĩa tình huynh đệ này không?

Thể hiện cái nghĩa của quân thần

Chúng tôi quay trở lại quan điểm của tác giả. Tác giả viết về Tam quốc là mô tả về toàn bộ quá trình từ khi hình thành đến khi kết thúc của ba vương quốc Ngụy, Thục và Ngô, là sự miêu tả liên tục về những chi tiết thời hoàng kim và thất bại của các vị hoàng đế, những tướng lĩnh, các vị anh hùng hào kiệt. Tác giả triển khai câu chuyện của từng nhân vật chủ chốt một cách chi tiết, để cho mọi người thấy được những thân phận khác nhau đã có những quyết định và lựa chọn như thế nào khi đối diện với địa vị, quyền lực, giàu sang trong thời thế gian nguy nan, loạn lạc. Mỗi một người đều có những chí hướng khác nhau, những nguyên tắc ứng xử khác nhau và mỗi lựa chọn đều là sự khảo nghiệm nhân tâm, đều là sự lựa chọn giữa thiện và ác, cũng chính là lựa chọn giữa nghĩa và bất nghĩa mà người xưa nói đến. Do đó, chúng ta thấy rằng các cuộc chiến tranh vẫn tiếp diễn và các anh hùng từ mọi tầng lớp lại liên tục xuất hiện. Rốt cuộc thì ai đang công tâm báo quốc an dân, và ai là người nhân danh công lý trên bề mặt để rồi thực ra là tìm kiếm ngai vàng địa vị hay quyền lực lợi ích riêng tư? Để mọi người nhìn thấy được những biểu hiện cụ thể của nghĩa và bất nghĩa, tác giả đã viết nên tác phẩm đồ sộ này, và lịch sử quan của tác giả qua đó cũng được thể hiện một cách đầy đủ.

Vì thế, ‘kết nghĩa vườn đào’ xuất hiện ở phần mở đầu và cũng nhất định là có mối liên quan đến những nhân vật trọng yếu và nhân vật chính được tác giả khẳng định. Ba người quả thực là tam vị nhất thể: Lưu Bị là thủ lĩnh, là người đầu não cho các đệ, là nhân vật định hướng; Quan Vũ và Trương Phi là hai cánh tay trái phải đắc lực của Lưu Bị. Do đó, chúng ta có thể thấy được, khi ba người xuất hiện thì Quan Vũ ở bên trái, Trương Phi ở bên phải. Ngoài việc tận hết cái nghĩa huynh đệ, còn biểu hiện sự đồng tâm đồng lòng của nghĩa quân thần. Lưu Bị không quên công tâm mà ái dân kính hiền, làm vị vua nhân nghĩa khoan dung độ lượng, cùng với Quan Vũ là bề tôi, là vị tướng trung nghĩa, đã được triển hiện một cách trọng điểm. Đó là mối quan hệ giữa quân vương và quân thần mà tác giả đánh giá cao và tôn trọng. Tác giả viết ra là để giáo dục các đế vương và văn võ bá quan, cùng bách tính phổ thông trong tương lai.

Do đó, bạn sẽ nhận ra rằng Lưu Bị, người mà sau này sẽ làm vua, trọng điểm là thể hiện chữ ‘nhân’ trong ý nghĩa của nhân vật này, bởi vì có cách nói rằng đạo làm vua phải có nhân nghĩa. Còn Quan Vũ và Trương Phi là hai vị bề tôi, do vậy chủ yếu làm nổi bật hàm nghĩa ‘trung’. Tất nhiên mọi người cũng sẽ dễ dàng hiểu được vì sao bằng hữu thường nhắc đến tín nghĩa, bởi lẽ bằng hữu cốt yếu là biểu hiện cái hàm nghĩa “tín”. Thật ra nhân nghĩa, trung nghĩa, tín nghĩa đều có sự tương quan với nhau và không thể nào tách rời hoàn toàn, nếu tách rời hoàn toàn, thì sẽ xuất hiện cái ngu trung và ngu tín không phân biệt rõ thiện ác, thậm chí có thể dẫn tới “trợ Trụ vi ngược”. Do vậy, người xưa có câu rằng “hiền thần trạch chủ nhi sự” (Tôi hiền chọn chúa mà thờ). Tam quốc diễn nghĩa đã thể hiện nội hàm này một cách đầy đủ trong câu chuyện. Vì thế nhân nghĩa, trung nghĩa và tín nghĩa đều có hàm ý nhấn mạnh riêng. Nói một cách khác, cho dù là nhân, trung hay tín thì đều có nội hàm cơ bản bên trong là “Chính trực vô tư, giữ vững thiện niệm”.

Trong tiểu thuyết, để thể hiện lòng nhân từ của Lưu Bị, nhân vật Tào Tháo được miêu tả là một gian hùng và trái ngược với Lưu Bị. Những người tôn trọng lịch sử thì cho rằng không công bằng với nhân vật Tào Tháo và cảm thấy không phù hợp với lịch sử. Vậy chúng ta xem đây chỉ là cuốn tiểu thuyết và trên thực tế đó đều là xử lý nghệ thuật. Lưu Bị cũng không giống y như nhân vật lịch sử nguyên gốc mà là đại diện cho một tính cách cao quý trong lòng tác giả. Miễn là nhân vật chính được tác giả tạo dựng là chính diện và mục đích cuối cùng là đề cao lòng tốt, đồng thời nhằm mục đích chính là chuyển tải đến mọi người về nội hàm của các chủng loại ‘nghĩa’ khác nhau, dạy con người không chỉ trở thành người có tình mà còn là người trọng nghĩa.

Sau đây, chúng ta sẽ xem chuyện kết nghĩa của Lưu Quan Trương, trước hết cần phải nói rõ bối cảnh lịch sử. Ngày nay, cách giải nghĩa phổ biến ở Trung Quốc Đại lục là cuộc khởi nghĩa Hoàng Cân (Khăn Vàng) là do bối cảnh triều chính mục nát, quan lại tham ô và nhũng nhiễu vào cuối thời Đông Hán. Nhưng thật ra điều này không phù hợp nguyên tác lịch sử. Rốt cuộc như thế nào thì hãy dựa vào nguyên tác để đối chiếu.

Xem tiếp phần 3

Dịch từ: http://big5.zhengjian.org/node/254336

Read more…

Nghĩa giải Tam quốc (1): “Tam quốc chí” và “Tam quốc diễn nghĩa”

 

(Ảnh Pinterest)

Tác giả: Lưu Như

[ChanhKien.org]

Người Trung Quốc khá quen thuộc với hàng trăm nhân vật kinh điển trong lịch sử Trung Quốc như: Gia Cát Lượng, Lưu Bị, Quan Vũ, Trương Phi, đại đa số đều xuất thân từ Tam Quốc Diễn Nghĩa, nhưng nguyên gốc là Tam Quốc Chí, vậy phân biệt hai cuốn sách này như thế nào?

Nói một cách đơn giản, tác phẩm đầu tiên là một cuốn tiểu thuyết, giống như những bộ phim lịch sử với quy mô lớn ngày nay, thuộc về tác phẩm văn học và xuất phát từ lịch sử nhưng không tương đương với lịch sử. Tác phẩm sau được xem là sách về lịch sử và những ghi chép về những sự việc có thật trong lịch sử. Một số người lại hỏi: “Vậy thì Tam Quốc Diễn Nghĩa không hoàn toàn tương đương với lịch sử chân thực, tầm quan trọng của những câu chuyện này là gì?” Trên thực tế rất đơn giản. Mục đích chính của tiểu thuyết lịch sử là truyền tải một cách sinh động và truyền thần, tiết lộ mục đích chính thật sự của một giai đoạn lịch sử cổ đại Trung Quốc được dàn dựng và sắp xếp, đại diện cho lịch sử quan của tác giả, chính là nhìn nhận bộ lịch sử này như thế nào, nhận thức bộ lịch sử này như thế nào, và sau đó thể hiện nhận thức này dưới dạng một cuốn tiểu thuyết.

Việc viết tiểu thuyết của người xưa khác với ngày nay do họ nhận sự giáo dục cũng khác. Những độc giả trong quá khứ được gọi là nho sinh, là nhận nền giáo dục về lòng nhân từ, công bằng, trí tuệ và niềm tin vào Khổng Tử. Chí lớn của những người đọc sách này là tế thế an dân và dạy con người trở thành người tốt. Do đó, hầu hết các tiểu thuyết gia mang chí lớn này sử dụng trí huệ của cả một đời người để hoàn thành tác phẩm của họ, mục đích là để thực hiện giá trị nhân sinh và đóng góp cho xã hội và con người. Do đó, họ không bao giờ viết chỉ để người đọc thấy phấn khích thích thú mà họ viết tiểu thuyết lịch sử để tiết lộ ý nghĩa thực sự của một giai đoạn lịch sử. Điều này có ý nghĩa gì vậy? Chính là vì tác giả đã thấy được nội hàm của văn hoá, muốn lưu lại hình mẫu và giáo huấn cho đời sau, dạy người ta làm sao để làm người cho đúng đắn.

Ví dụ trong bộ Tam Quốc Diễn Nghĩa, toàn bộ cuốn sách tiết lộ rằng lịch sử của Tam Quốc là để lại cho nhân loại một văn hoá làm người-văn hóa liên quan tới chữ “Nghĩa”, nghĩa là dạy con người tuân thủ đạo nghĩ làm người trong nhiều tình huống khác nhau như thế nào. Để thể hiện một cách sống động và truyền thần, các nhân vật lịch sử được xử lý một cách nghệ thuật để làm cho câu chuyện trở nên hấp dẫn, các nhân vật lịch sử được khắc sâu trong lòng người dân, lưu truyên thiên cổ, từ đó mà người ta hiểu được hàm nghĩa thật sự của “Nghĩa”.

Mọi người đã quen thuộc với Quan Vũ bước ra diễn “Vượt năm ải chém sáu tướng”, “Hoa Dung đạo nghĩa thích Tào Tháo”, đối với chủ công là Lưu Bị thì không rời xa, đối với đối thủ là Tào Tháo thì cũng có các câu chuyện như có ân tất báo, vì thế mà được đặt vào vị trí “Nghĩa bạc vân thiên” (có nghĩa khí cao ngút trời). Lưu Bị và Gia Cát Lượng cũng lưu lại cái nghĩa quân thần qua các câu “Tam cố mao lưu”, “Cúc cung tận tụy”.

Do cuốn tiểu thuyết này được mệnh danh Tam Quốc Diễn Nghĩa, cái mà nó diễn chính là một chữ “Nghĩa”, theo quan điểm của tác giả, lịch sử chính là một kịch bản được an bài từ cõi u minh và để lạicho nhân loại nội hàm “Nghĩa” của văn hóa.

Chính vì thế, cuốn tiểu thuyết này chính là được mở đầu từ câu chuyện Kết nghĩa vườn đào của Lưu Quan Trương, giống như những bộ phim nhiều tập hiện đại, nhân vật chính xuất hiện trước, và khi vừa xuất hiện, nhân vật đã thể hiện rõ nét chủ đề “Nghĩa” của tác giả. Chúng tôi sẽ đi theo cái mạch của chữ “Nghĩa” này, đứng từ góc độ của tác giả La Quán Trung để khôi phục sự thật của mỗi câu chuyện kinh điển trong Tam Quốc Diễn Nghĩa.

(Phần 2)

Dịch từ: http://big5.zhengjian.org/node/254335


Read more…

LÒNG TRUNG HIẾU CỦA ĐIÊU THUYỀN - MỘT TRONG TỨ ĐẠI MỸ NHÂN CỦA TRUGN QUỐC

 

Ảnh từ Pinterest

Tác giả: Ngưỡng Nhạc

[ChanhKien.org]

Điêu Thuyền là một trong tứ đại mỹ nhân nổi danh trong lịch sử Trung Quốc. Mặc dù trong chính sử gần như không thể tìm ra ghi chép nào về Điêu Thuyền, nhưng trong các câu chuyện dân gian và các tác phẩm văn học lịch sử lại có khá nhiều câu chuyện liên quan đến nhân vật này. Đại đa số đều cho rằng cô là một người con gái xinh đẹp, đáng thương, xảo quyệt. Tuy nhiên lại không chú ý đến quá trình cô tận trung với nước, tận hiếu với cha…

Bé gái trong am ni cô

Vào cuối những năm Đông Hán, bên ngoài thành Lạc Dương có một am ni cô ít người biết đến. Vào một đêm gió tuyết, một tiểu ni cô đi ra ngoài am và phát hiện một bé gái được bọc trong một tấm da chồn, thấy vậy ni cô liền ôm bé gái vào trong am. Am chủ thấy bé gái trông rất đáng yêu, liền giữ lại nuôi dưỡng. Vì tiếng khóc của bé gái nghe rất đinh tai như thể tiếng ve sầu kêu, lại được bọc trong tấm da chồn, nên vị am chủ liền đặt cho cô cái tên “Điêu Thuyền” (“Điêu” là con chồn, “Thuyền” là con ve)

Tiểu Điêu Thuyền thông minh lanh lợi, lúc ba tuổi đã biết múa hát. Một hôm, phu nhân của quan Tư Đồ Vương Doãn vừa hay đến cúng Quan Âm tại am ni cô để cầu tự, nhìn thấy tiểu Điêu Thuyền đáng yêu lanh lợi, bà vô cùng thích thú ôm cô bé vào lòng chơi đùa. Bà hỏi vị am chủ: ”Cô bé là con nhà ai vậy?”

Am chủ trả lời: “Đứa trẻ này là cô nhi, được am ni cô nhận nuôi từ nhỏ, sau cũng muốn tìm cho nó một nơi chốn khác. Nếu phu nhân yêu mến cô bé, hay là nhận về làm nha hoàn bên cạnh mình để sai bảo”.

Vương phu nhân nghe thấy vậy, thật không cầu mà được, liền vội sai quản gia đem 100 lượng bạc đến cảm tạ am chủ, rồi đưa Điêu Thuyền về phủ. Về đến phủ, Vương Doãn cũng rất vui mừng, ông thấy Điêu Thuyền khí chất siêu phàm, liền đích thân dạy cô đọc kinh sử, giúp cô hiểu được đạo lý đối nhân xử thế, còn tìm thầy dạy nhạc và vũ đạo cho cô. Điêu Thuyền thiên chất thông minh, vừa học đã biết. Thấm thoắt đã mười mấy năm, dù là ca múa đàn hát, ngâm thơ đối ứng, Điêu Thuyền đều thành thạo, cô cũng thường hay đi cùng phu nhân đến am ni cô thuở đầu để tham bái lễ Phật, cảm tạ ơn cứu mạng của am chủ năm đó; nếu được thưởng hoặc được tặng thêm tài vật đều sẽ tăng thêm tiền nhang dầu khi đến lễ Phật.

Khi trưởng thành, Điêu Thuyền không chỉ tinh thông ca múa, thơ văn, mà dung mạo khí chất lại càng xuất chúng, nhan sắc “hoa nhường nguyệt thẹn”. Vợ chồng Vương Doãn xem cô như con đẻ, nhưng Điêu Thuyền biết mình là cô nhi, được vợ chồng Vương Doãn nhận nuôi lại rất mực yêu thương, do đó trong lòng cô luôn nghĩ rằng phải báo đáp ân tình của họ.

Đổng Trác gây họa

Vào cuối thời Đông Hán, Thái thú Hà Đông là Đổng Trác đem đại quân vào kinh thành tranh giành quyền lực, hắn đem vàng và ngựa xích thố mua chuộc dữ tướng Lã Bố làm nghĩa tử (con nuôi), lại bổ nhiệm lượng lớn bè lũ thân tín làm quan, hắn lại tự phong mình làm Thái úy, thao túng triều chính. Dù vậy, Đổng Trác vẫn chưa vừa lòng, muốn tiến thêm một bước phế bỏ vị vua trẻ, mưu hại Hà Thái hậu nhằm soán ngôi vua. Hành vi nào của hắn cũng ngang ngược, tàn ác khiến các chư hầu đều bất mãn. Viên Thiệu, Tào Tháo, Tôn Kiên cùng 18 chư hầu quần hùng rầm rộ khởi binh thảo phạt, triệu tập một triệu hùng sư, nhưng giữa các chư hầu lại nghi kỵ lẫn nhau, khó mà một lòng đoàn kết. Do đó cuộc chiến giữa liên quân và đại quân của Đổng Trác luôn trong thế cầm cự. Lúc này Đổng Trác cậy thế bên cạnh có Lã Bố võ nghệ cao cường làm thị vệ, lại đi khắp nơi hành ác, dung túng binh sĩ cưỡng bức phụ nữ, lạm sát người vô tội, thậm chí công nhiên sát hại đại thần phản đối hắn tại cung đình, cứ như thế triều chính ngày càng bại hoại, văn võ bá quan ai cũng trong vòng nguy hiểm.

Lúc này ở trong triều, nguyên lão Tư đồ Vương Doãn thống hận sự trơ tráo vô sỉ của Đổng Trác, lo lắng triều Hán bị hủy trong tay tên giặc này, nhưng khổ nỗi không có thực lực để đối kháng với hắn, vì thế cả ngày buồn rầu ủ dột. Một hôm ông đang tản bộ trong hoa viên thì gặp nghĩa nữ Điêu Thuyền, cô thấy vẻ mặt của cha liền hỏi: “Từ bé con đã nhận được sự yêu thương của cha, thường nghĩ đến việc báo đáp, gần đây thấy cha ủ dột không vui, không biết vì lẽ gì? Nếu có việc cần dùng đến con, con nhất định tận lực làm, muôn chết cũng không từ”. Vương Doãn nghe xong nói: “Bây giờ thiên hạ nơi đâu cũng nguy nan, quốc tặc Đổng Trác âm mưu chiếm ngôi vua, tuy nhiên cả triều văn võ đều bó tay hết cách, e rằng chỉ có con có thể cứu nhà Hán khỏi tay gian tặc. Ta có một kế: Đổng Trác và Lã Bố đều là phường háo sắc, muốn mượn nhan sắc của con khiến hai kẻ phản tặc trở mặt thành thù. Ta tính gả con cho Lã Bố trước, sau đó lại đem con hiến cho Đổng Trác, con ở giữa hai cha con chúng khiêu khích sao cho Lã Bố giết chết Đổng Trác. Nếu có thể như thế, ắt nhà Hán được khôi phục. Chỉ là con sẽ phải chịu thiệt thòi, không biết con có đồng ý không?”

Điêu Thuyền nghe xong kinh hãi thất sắc, vì nữ nhi coi trọng nhất là trinh tiết, cô phải hy sinh trinh tiết phục vụ hai kẻ ác đồ như hổ như sói, mà thế thì vừa làm thê lại làm thiếp, cô lại phải làm sao dùng mỹ nhân kế khiến hai kẻ đó trở mặt nhau đây?! Nếu không cẩn thận tất gây họa cho tính mạng của cả nhà… Điêu Thuyền có chút do dự, nhưng xét sự an nguy của chúng sinh thiên hạ, cô nguyện xả thân tận trung vì nước, tận hiếu vì cha mẹ, sau cùng nhận nhiệm vụ này. Điêu Thuyền từ từ đứng dậy, kiên quyết nói: “Con nguyện vì cha dốc sức, muôn chết không từ!” Sau khi Điêu Thuyền đồng ý, Vương Doãn bắt đầu kế hoạch, ông mời Lã Bố đến nhà làm khách, trong yến tiệc để Điêu Thuyền châm tửu phục vụ Lã Bố, lại múa nhảy cho Lã Bố xem, cứ như vậy Lã Bố dần say mê cô, giữa tiệc Vương Doãn hứa gả Điêu Thuyền cho Lã Bố, Lã Bố vui mừng đồng ý, vội vàng bái tạ. Sau đó Lã Bố nhiều lần qua lại gặp gỡ Điêu Thuyền, tình cảm hai người dần dần nồng đượm. Vương Doãn thấy thời cơ đã đến lại mời Đổng Trác đến nhà đãi tiệc, ông để Điêu Thuyền phục vụ Đổng Trác, Đổng Trác vừa thấy mỹ nhân đã thèm thuồng nhỏ dãi, liền đem Điêu Thuyền cùng về cung ngay trong đêm. Không lâu sau Lã Bố biết chuyện, đến tìm Vương Doãn nói lý lẽ, nhưng Vương Doãn đổ cho Đổng Trác cướp mất con gái, do đó quan hệ giữa Lã Bố và Đổng Trác bắt đầu thay đổi, Điêu Thuyền lại không ngừng khiêu khích khiến cho sự ghen ghét giữa hai người họ càng ngày càng trở nên gay gắt.

Một ngày nọ, nhân lúc Đổng Trác không có mặt, Lã Bố đến nhà Đổng Trác thăm dò Điêu Thuyền đồng thời hẹn cô đến đình Phượng Nghi gặp gỡ, Điêu Thuyền gặp được Lã Bố liền khóc lóc tố khổ bị Đổng Trác chiếm đoạt, Lã Bố đùng đùng nổi ghen. Đúng lúc Đổng Trác về đến phủ phát hiện hai người, hắn phẫn nộ cầm chiếc kích lao thẳng vào Lã Bố, Lã Bố phi thân bỏ chạy được; lúc này quan hệ giữa hai người đã trong thế như nước với lửa. Vương Doãn liền mượn việc này thuyết phục Lã Bố ám sát Đổng Trác. Không lâu sau, Vương Doãn giả ý nói cho Đổng Trác: Hán Hiến Đế quyết nhường ngôi cho hắn, Đổng Trác vì thế vào triều tiếp nhận quần thần chúc mừng. Thừa dịp Vương Doãn bước ra đọc chiếu chỉ thảo tội quốc tặc, lúc này Lã Bố xuất hiện giết chết Đổng Trác tại chổ, đến đây thì quốc tặc bị trừ bỏ.

Tung tích cuối cùng của Điêu Thuyền, người con gái trung hiếu vẹn toàn

Mặc dù mỹ nhân kế của Tư Đồ Vương Doãn thành công, tuy nhiên ông vì bệnh tật giày vò, sau cùng bị thuộc hạ cũ của Đổng Trác làm phản chống lại. Đầu năm Bình Tam (năm 192) Lý Thôi, Quách Dĩ đem hơn 10 vạn đại quân chiếm thành Trường An, giết hại cả nhà Vương Doãn, Lã Bố dẫn đám tàn quân chạy trốn, còn Điêu Thuyền không rõ tung tích. Từ đó, người ta thêu dệt nên rất nhiều câu chuyện liên quan đến cái kết của cô, trở thành huyền án thiên cổ. Dân gian lưu truyền hơn mười câu chuyện, tạp kịch, ở đây người viết chỉ rút ra hai câu chuyện được xem là tương đồng:

Chuyện thứ nhất

Sau khi biết được Vương Doãn bị hại Điêu Thuyền rất đau lòng, ban đầu có ý tự tử theo cha, tuy nhiên cô nghĩ lại: “Ta nhận sự ủy thác của cha nuôi xả thân vì nước, bây giờ cha nuôi bị bọn tặc quân sát hại, thi thể không người chôn cất, ta trước hết phải nhẫn nhục để làm tròn đạo hiếu cuối cùng này”.

Tiếp đó cô thu gom toàn bộ tiền của trong nhà đến am ni cô thuở xưa xin được ở lại, am chủ vui mừng đồng ý, để cô tạm thời lưu lại am thất. Sau khi tình hình ổn định lại, nhờ sự giúp đỡ của am chủ, Điêu Thuyền tìm được thi thể không nguyên vẹn đầu mình hai nơi của Vương Doãn, cô không cầm lòng được đã lớn tiếng bật khóc. Sau đó cô nhớ lại hình dáng cha nuôi lúc còn sống mà tự tay đẽo một khúc gỗ, rồi mua một chiếc quan tài tốt an táng cha nuôi. Sau khi đại nguyện hoàn thành Điêu Thuyền liền xuống tóc tu hành tại am, khi cô hơn 80 tuổi thì không bệnh mà rời đi.

Chuyện thứ hai

Sau khi phản quân của Lý Thôi và Quách Dĩ tấn công vào thành, Lã Bố đem tàn quân tháo chạy đồng thời mang theo Điêu Thuyền. Điêu Thuyền không có lựa chọn nào khác đành ở bên cạnh hắn. Lã Bố dựa vào thế lực các nơi, chiêu binh mại mã trở thành chư hầu một phương. Tuy nhiên Lã Bố chỉ là kẻ có võ công cao cường mà không có tài cầm binh, lại không thay đổi tính hợm hĩnh và phản phúc trước đây, sau cùng bị liên quân của Lưu Bị và Tào Tháo đánh bại và giết chết trong trận Hạ Bì.

Sau khi Lã Bố chết, Quan Vũ vào trấn thủ quan phủ trong thành, đêm hôm đó Quan Vũ nghe thấy tiếng khóc của phụ nữ, ông lần theo tiếng khóc thì phát hiện ra Điêu Thuyền. Quan Vũ thấy thế cho rằng cô giống với Đát Kỷ đều là hồng nhan họa thủy làm nhà Thương diệt vong, muốn đem cô giao cho binh sĩ hành hình. Lúc này Điêu Thuyền khóc than: Tướng quân Tô Văn hiền danh, không ngờ hôm nay muốn lấy mạng tiểu nữ, xin để tiểu nữ nói rõ rồi giết cũng chưa muộn… Cô thuật lại cho Quan Vũ chuyện Vương Doãn vạch ra liên hoàn kế trừ gian thần, sau nói rằng: “Thiếp chỉ là phận nữ nhi tự nguyện từ bỏ trinh tiết cứu quốc, nếu nay nhị tặc đều bị trừ rồi, chết cũng không hối tiếc, tuy nhiên chỉ mong có thể được an táng cùng cả nhà cha nuôi, coi như một chút lòng hiếu kính sau cùng. Quan Vũ nghe xong trong lòng cảm phục, ông hành lễ với Điêu Thuyền bày tỏ tâm ý, tán dương nghĩa cử tận trung tận hiếu của cô. Nói rồi kêu thuộc hạ đem đến 100 lượng bạc tặng cho Điêu Thuyền, Điêu Thuyền sau khi cảm tạ Quan Vũ liền rời đi.

Điêu Thuyền về đến Trường An thăm dò khắp nơi, biết được huyện lệnh Bình Lăng là Triệu Tiễn trong lúc binh mã hỗn loạn không màng sinh tử từ quan an táng Vương Doãn. Điêu Thuyền tìm đến bái tạ Triệu Tiễn. Lại vì cha nuôi thủ hiếu ba năm. Sau đó anh hùng Tào Tháo áp chế quần hùng, nghênh rước Hán Hiến Đế về đến Hứa Xuyên, tình thế dần dần chuyển nguy thành an, Hán Hiến Đế cảm nhớ sự trung trinh của Vương Doãn năm đó, liền làm lễ cải táng cho Vương Doãn tại Phong Quang Hứa Xuyên. Phong cháu trai của ông là Vương Hắc làm An Lạc Đình Hầu. Điêu Thuyền sau khi đại nguyện đã thành lại trở về am ni cô thuở trước, cô đem toàn bộ tài vật mà Quan Vũ tặng giao cho am chủ cảm tạ ơn nuôi dưỡng năm đó. Sau đó cô xuống tóc tu hành trong am, trăm năm sau cô tu thành viên mãn rời khỏi thế gian.

Dịch từ: https://www.zhengjian.org/node/267521


Read more…

LUÂN HỒI KÝ SỰ: THANH PHONG LÃNH NGUYỆT

 
(Ảnh từ Pixabay)

Tác giả: Tiểu Liên

[ChanhKien.org]

Đây là câu chuyện về một cô gái tu thành Quan Thế Âm.

Chúng ta đều biết rằng đảo Hải Nam, Trung Quốc là một vùng đất tuyệt đẹp với rất nhiều điểm du lịch hấp dẫn như: núi Ngũ Chỉ Sơn, sông Vạn Tuyền, đền Ngũ Công, khu du lịch Thiên Nhai Hải Giác, công viên Lộc Hồi Đầu v.v… Các cô gái ở nơi đây cũng rất xinh đẹp, hơn nữa quần đảo nhỏ này lại có nhiều đặc sản như chuối, dừa,… Nhưng vào thời Tống Nguyên, nơi đây lại bị xem là vùng đất yên chướng (vùng đất âm u, ẩm ướt, nhiều bệnh tật). Vì vậy đây cũng là nơi lưu đày những người mắc tội nặng.

Chuyện kể rằng vào thời nhà Nguyên, ở Huệ Châu, Quảng Đông, Trung Quốc có một chàng trai trẻ vốn xuất thân nghèo khó nhưng rất giỏi giang. Anh được một thương nhân để mắt đến và hết lòng giúp đỡ, chẳng bao lâu sau công việc của anh trở nên phát đạt. Vì một lòng muốn làm tốt công việc buôn bán nên anh chẳng mảy may chú tâm đến chuyện thành gia lập thất, cũng có nhiều người mai mối giới thiệu cho anh những cô gái tốt nhưng anh hoàn toàn không để tâm, có lúc lại do công việc thực sự rất bận nên quên cả việc kết thân, nên đến tận năm 30 tuổi mà anh vẫn một thân một mình.

Bấy giờ khi đến Sán Đầu làm ăn, một người bạn giao thương đã giới thiệu cho anh một cô gái có điều kiện tốt về mọi mặt, anh nghe xong liền gượng cười và nói:

– Người ta có điều kiện tốt như vậy còn tôi nay đây mai đó, cũng không có nơi cố định để dừng chân, liệu người ta có thể đợi tôi không? Chẳng giấu gì anh, trước đây tôi cũng nhiều lần định rõ ngày kết thân, nhưng khi có việc giao thương đến đành phải đi ngay, lúc tôi quay về thì họ đã được gả đi cả rồi, có người thậm chí đã có con rồi. ‘Ai bảo anh hễ đi là một mạch mấy tháng tới mấy năm!’, đối phương chế giễu tôi như vậy đó.

– Nhưng hôm nay tôi giới thiệu cho anh một người mà anh sẽ hết sức yên tâm, dù có thành thân được hay không, chỉ cần anh gật đầu thì cô ấy sẽ sắt son chờ đợi, quyết không thay lòng!

– Thật sao? Trên đời này thực sự có người cam tâm chịu cảnh cô đơn phòng không chiếc bóng sao?

Điều này khiến anh vô cùng hứng thú:

– Xin hỏi cô ấy tên gì?

– Hâm Liên.

– Là con gái nhà ai?

– Gia đình rất giàu có nhưng cô ấy sẵn lòng sống cuộc sống nghèo khó và cô độc. Người ta nói rằng cô ấy từ nhỏ đến lớn chưa bao giờ ăn thịt, suốt ngày giam mình trong nhà.

– Cô ấy có bị bệnh gì không?

– Tuyệt đối không, vì anh chưa gặp cô ấy thôi, gặp rồi thì anh sẽ biết. Mặc dù cô ấy rất ít nói, nhưng chỉ cần anh có thể nói chuyện với cô ấy, anh sẽ bị ấn tượng bởi những đạo lý mà không biết cô ấy nghe được từ đâu. Hơn nữa cô ấy còn có một bài thuốc bí truyền độc đáo không biết học được từ đâu, có thể chữa được rất nhiều bệnh nan y. Nói chung bình thường cô ấy rất ít nói. Vì tôi rất thân với nhà cô ấy, nên mấy hôm trước mẫu thân cô ấy có tìm tôi và nói rằng con gái bà bảo là duyên phận hôn nhân đã đến rồi, nhờ tôi tìm giúp cô ấy một người có phẩm cách và tướng mạo tương xứng, tốt nhất là 30 tuổi trở lên. Lúc đó tôi vội hứa với bà nhưng trong lòng thầm nghĩ: biết tìm một người như vậy ở đâu! Nhưng khi tôi vừa nhìn thấy anh thì mới vỡ lẽ, người ấy chính là anh!

– Thật không? – Chàng trai trẻ có phần nghi ngại.

– Nếu anh không tin, thì khi gặp mặt anh sẽ biết. Ngày mai tôi sẽ thu xếp để anh gặp cô ấy.

Sáng sớm hôm sau, thương nhân đưa hai cha con Hâm Liên đến. Sau khi chào hỏi và sắp xếp chỗ ngồi chủ khách xong, phụ thân của Hâm Liên nói: “Hôm qua con gái tôi bảo rằng, người hôm nay gặp mặt chắn chắn là ‘ý trung nhân’ của nó, đây là nhân duyên đời trước tạo thành”. Khi này chàng trai trẻ mới nhìn Hâm Liên một cách tỉ mỉ: đôi mắt lá răm, lông mày lá liễu (chỉ tướng phú quý), môi đỏ chúm chím, mặt như hoa đào tâm như ngọc, tâm tĩnh như nước để lộ vẻ uy nghiêm. Thật sự giống như Bồ Tát từ thiên giới hạ phàm. Trong lòng anh thầm nghĩ, mình đã bao năm vào Nam ra Bắc, cũng đã từng gặp nhiều cô gái xinh đẹp, nhưng chưa từng gặp cô nương nào có phong thái khí chất như vậy!

Người bạn giao thương kia thấy anh đang ngẩn ra nhìn bèn nói: “Nếu đã vừa ý vậy ta chọn ngày lành tháng tốt để thành thân có được không?”. “Được được được!”, anh cũng không biết nên nói gì thêm. Hâm Liên cũng nở một nụ cười thật xinh: “Vậy cứ theo lời bá phụ”. Nửa tháng sau tại nhà anh ở Huệ Châu pháo đỏ nổ vang, chiêng trống rộn ràng, Hâm Liên được đón dâu trong những âm thanh tưng bừng náo nhiệt. Sau khi bái thiên địa vào động phòng, đương lúc anh định cùng Hâm Liên “động phòng hoa chúc” thì người nhà đến báo rằng có một vụ làm ăn rất lớn rất đặc biệt cần phải đi ngay trong đêm, không thể để lỡ một khắc, nếu không thương vụ sẽ không thể hoàn thành. Anh vừa nghe xong đã vội mặc lại quần áo rồi lên đường.

Cứ như thế, mỗi lần anh trở về, Hâm Liên nếu không ở nhà họ hàng của anh thì cũng đang ở nơi nhà tranh vách đất nào đó xem bệnh. Chuyện như vậy lặp lại rất nhiều lần. Có lần anh hỏi Hâm Liên: “Lẽ nào nàng không muốn có con?” Hâm Liên đáp lại: “Đến hôm nay có rất nhiều điều thiếp muốn nói rõ với chàng. Thiếp vốn là một La Hán trên thiên giới còn chàng là thị nữ bên cạnh Vương Mẫu Nương Nương. Vì trên thiên giới chàng phạm một lỗi nhỏ mà bị đày xuống phàm trần. Còn thiếp được thiên thượng chọn xuống nhân gian tu hành. Vương Mẫu Nương Nương an bài thiếp đến nhân gian tìm chàng, cùng nhau tu hành, cuối cùng sẽ quay về thiên giới! Chàng có hiểu rõ lời thiếp nói không? Cũng có nghĩa là chàng và thiếp kết hôn không phải để sinh con đẻ cái, mà là để ma luyện chính mình, tu luyện chính mình, nên sau này chàng không cần động đến thiếp, có được không? Vì sao đêm động phòng hôm ấy chàng lại có việc giao thương? Cũng có nghĩa là, chàng chớ tham cảnh sắc nhân gian, buông bỏ cái vui của thế tục, tu hành quay về thiên thượng mới có thể thực sự thoát khỏi khổ nạn chốn nhân gian và thật sự có được điều mỹ hảo chân chính”.

Có thể là cơ duyên tu hành đã đến nên sau khi nghe xong chàng trai lập tức minh bạch được rất nhiều điều. Anh vừa định gọi nương tử, nhưng thấy cách xưng hô này thật nhân tình hoá, bèn nói: “Vậy Hâm Liên, chúng ta nên làm thế nào?” Hâm Liên đáp lời: “Dễ thôi, người ngoài nhìn thì thấy chúng ta ở cùng một nhà, nhưng chúng ta không ai động đến ai, ở nơi thế tục này chúng ta cần tu tốt chính mình, đồng thời cần tích đức hành thiện, quan trọng hơn là, khi gặp phải việc không như ý cần phải nhớ lấy nhẫn nhục làm trọng! Cần làm được không ghen ghét không oán hận! Hết thảy đều được trời định sẵn rồi”.

Anh dần dần cũng bắt đầu tu hành. Trong việc kinh doanh anh làm rất tốt nhưng cái tâm tiền tài vẫn mãi chưa buông bỏ được. Hâm Liên không nói nhiều với anh, vì cô biết rằng sắp tới sẽ có một đại nạn, cái nạn này sẽ giúp anh vứt bỏ chấp trước đối với tiền tài.

Quả nhiên đến nửa năm sau, khi làm một việc kinh doanh lớn anh đã đắc tội với một kẻ vô lại. Tên vô lại này đã câu kết với quan phủ khám xét tịch thu gia sản của anh, rồi áp giải anh đày đến Hải Nam. “Đúng lúc” ấy Hâm Liên đang khám cho một bệnh nhân nghèo khó ở cách đấy hàng trăm dặm. Khi Hâm Liên trở về và nghe tin này, cô đã chủ động lên thuyền đến đảo Hải Nam.

Vì rất nhiều người trong vùng đều biết anh là người như thế nào và cũng biết tên vô lại kia là kẻ xấu xa, nên đến cách Huệ Châu không xa, các sai dịch liền cởi xiềng xích cho anh và “tháp tùng” anh như bạn bè đến đảo Hải Nam.

Khi thuyền vượt biển đến nơi lưu đày thì “đúng lúc” Hâm Liên cũng đến, cô nói với các lính canh: “Cảm ơn các anh trên đường đi đã luôn chiếu cố đến anh ấy, hôm nay các anh đã tích được việc công đức, có thể miễn trừ rất nhiều khổ nạn cho các anh sau này, thậm chí có thể thăng lên thiên giới! Khi các anh trở về nhất định phải hành thiện tích đức, thiện đãi bách tính, đừng bao giờ giúp kẻ ác làm hại một ai!”

Người đứng đầu trong số họ nói: “Lâu nay nghe nói cô hiểu biết đạo lý rất thâm sâu, tôi nghĩ có thể cho chúng tôi ở lại cùng các vị được không, những ác quan ấy chúng tôi không muốn hầu hạ chút nào!”

Hâm Liên đáp: “Tu hành là việc rất khổ, rất cô độc tịch mịch, các anh có chịu được không? Hơn nữa các anh đều có người nhà trên già dưới trẻ, có thể yên tâm ở đây tu hành sao?”

“Việc ấy dễ thôi, chúng tôi cho người quay về báo tin, rằng chúng tôi đã ở bên ngoài xuống tóc tu hành, không quay về nữa”.

Hâm Liên xem chừng cơ duyên tu hành của những người này đã đến, bèn đồng ý với họ. Những lính canh phái một người quay về Huệ Châu nói với ác quan rằng, những người trên đường vượt biển trở về bị chết đuối cả, còn lại mỗi anh, anh muốn đến nhà người họ hàng ở bên ngoài tìm công việc sai lại khác, không muốn làm ở đây nữa. Tên ác quan đồng ý với yêu cầu của anh và còn gửi đến nhà mỗi lính canh “gặp nạn” 22 lượng bạc, xem như một khoản tiền bồi thường. Mọi người đều mắng rằng tên cẩu quan keo kiệt. Tạm thời không nhắc đến hắn.

Khi người lính canh đến nhà những lính canh khác nói rằng họ đã xuống tóc tu hành, nhiều người thân của họ không lý giải được, nhưng cũng có không ít người thấu hiểu. Nhiều người còn muốn anh dẫn họ đi tìm người nhà của mình, và cũng muốn tu hành theo. Trong đó có một gia đình dẫn theo hai đứa trẻ một trai một gái chưa đầy một tuổi đi cùng. Anh chỉ còn cách mang họ quay về đảo Hải Nam. Trên núi Ngũ Chỉ Sơn, Hâm Liên dẫn dắt mọi người cùng nhau tu hành. Sau đó hai đứa bé nghiễm nhiên thành hai đồng tử hầu hạ bên cạnh Hâm Liên. Những lúc rảnh rỗi Hâm Liên thường chữa bệnh giúp người dân địa phương, qua thời gian lâu cô trở nên rất có danh tiếng ở đó.

Tu luyện cần một cái tâm thanh tịnh và ngộ tính cũng cần phải tốt. Trong số họ có những người mà tâm không được thanh tịnh cho lắm và ngộ tính không phải lúc nào cũng được tốt. Còn Hâm Liên cũng dần dần thể ngộ được những pháp lý tại các cảnh giới khác nhau; khi cô có những nút thắt không giải khai được trong tâm, thì khi ở trên núi, hoặc khi trên đường đi chữa bệnh cho người dân, hoặc trong giấc mộng đều thấy được những cảnh tượng điểm ngộ [giải mê], như thế cô càng thêm tinh tấn và cố gắng tiến bước trên con đường tu hành. Riêng phu quân của Hâm Liên cũng lại như thế. Chẳng hạn lúc mới đến anh chưa quen điều kiện ở đây, trong tâm rất khó chịu, một mặt vì tiền tài của anh đã bị tịch thu, mặt khác đối với kẻ vô lại và tên ác quan thì anh vẫn còn ôm giữ tâm oán hận. Lúc này Hâm Liên bèn nói với anh: “Sở dĩ gia sản của chàng bị tịch thu là vì cái tâm tiền tài chàng chưa buông xuống được. Còn tên vô lại kia là đứa con của chàng ở nhiều kiếp trước, vì chàng cả ngày bận rộn việc công, khi đứa bé sinh ra bị mắc bệnh mà không được chữa trị kịp nên đã chết, kiếp này nó đến tìm chàng để đòi nợ”.

Cứ thế trải qua 20 năm, vào một đêm mùa thu thanh phong lãnh nguyệt (gió mát trăng lạnh), Hâm Liên biết rằng con đường tu hành của mình đã kết thúc, bèn tập hợp mọi người và những hàng xóm lân cận lại nói: “Nhân gian rất khổ, không chỉ là những chuyện ân oán không như ý mà còn phải trong lục đạo luân hồi chờ đợi một cách vô cùng khổ sở, nếu không tu hành thì vĩnh viễn sẽ không được siêu thoát, do đó chúng ta phải nhớ rằng: nhất định phải tu hành thật tốt, không được chểnh mảng!…”

Khi cô vừa dứt lời thì trên không trung vang lên tiếng pháp nhạc, sau đó là những cảnh tượng tráng quan thiên nữ trải hoa xuất hiện, hai tiểu đồng tử tự nhiên trở thành người hầu bên cạnh Hâm Liên, họ từ từ bay lên không. Lúc này rất nhiều người ngẩn ra nhìn, cũng có người quỳ xuống cầu xin Hâm Liên nói thêm vài câu. Hâm Liên đưa tay lập chưởng trước ngực, đứng trên bảo toạ liên hoa đang từ từ bay lên, nói:

Vi tu chính quả hạ phàm gian

Triển chuyển luân hồi hứa đa niên

Kim triều tu hành hồi thiên chuyển

Cáo tố chúng sinh sổ chân ngôn:

Nhân gian khổ hải bất trường cửu

Danh lợi ân oán thử trung cầu

Bất liêu bách niên hà năng lưu

Chỉ hữu lưỡng nghiệp tùy thân tẩu

Mê trung tỉnh lai phương giác mộng

Bổn tính tiệm ngộ quy Phật thừa

Tu hành khổ lai tâm khước cam

Lộ đáo tẫn đầu chung phi thăng

Đoạn khứ nhân tình liễu ân oán

Tự tại tiêu dao Pháp vô biên

Từ bi vạn vật minh chân ý

Vĩnh sinh vĩnh nhạc thiên địa huyến

Dịch nghĩa:

Vì tu chính quả mà hạ phàm

Chuyển trong luân hồi biết bao năm

Hôm nay tu thành trở về trời

Nói với chúng sinh mấy chân ngôn:

Nhân gian bể khổ không dài lâu

Danh lợi ân oán truy cầu đó

Sau này trăm tuổi lưu được chăng

Chỉ có hai nghiệp [1] đeo bên thân

Trong mê tỉnh lại biết là mộng

Bản tính tiệm ngộ quy Phật thừa

Tu hành chịu khổ lánh nhàn hạ

Cuối đường tu luyện bay lên trời

Đoạn dứt nhân tình hết ân oán

Tiêu dao tự tại Pháp vô biên

Từ bi vạn vật minh chân ý

Vĩnh sinh vĩnh lạc thiên địa huyến [2]

Lúc ấy có người hỏi: “Thế Pháp hiệu của cô là gì?” Khi này cô chỉ mỉm cười, mang theo hai đồng tử bay lên. Một lúc sau từ trên không trung có tiếng vọng xuống: “Ta vốn là La Hán trên thiên thượng, vì ở đó ta muốn tu đến cảnh giới Bồ Tát, nên nguyện xuống nhân gian tu hành, hơn nữa ta lại cùng lúc hạ giới với một nữ hầu bên cạnh Vương Mẫu Nương Nương bị phạm lỗi. Ở đời này khi ta muốn tu hành xuất thế, một vị nữ Bồ Tát đã đến dạy ta tu hành. Khi ta tu đến một tầng thứ nhất định, bà ấy bảo ta khi tu thành hãy lấy Pháp hiệu là ‘Quan Thế Âm’. Bây giờ ta đã tu thành quả vị Bồ Tát, các vị hãy gọi ta là Quan Thế Âm Bồ Tát’! Các vị nhất định phải tu hành thật tốt, không được chểnh mảng! Nhớ lấy! Nhớ lấy!……”

Nhiều năm sau, rất nhiều người trong số đó đều đã tu thành chính quả, trong đó có cả phu quân của Hâm Liên. Ở đây chúng tôi sẽ không nói chi tiết.

Câu chuyện của cô gái chúng tôi chỉ kể đến đây.

Ghi chú:

[1] hai nghiệp: ở đây chỉ hai chủng thiện nghiệp và ác nghiệp

[2] thiên địa huyến: chỉ nơi cảnh giới vô cùng mỹ hảo tươi sáng, bởi vì tầng tầng không gian trong vũ trụ đều có thiên và địa.

Dịch từ: https://www.zhengjian.org/node/271116

Read more…

CÁCH NHẬP COMMENT TRÊN HƯƠNG QUÊ NHÀ

Đầu tiên, nhấp chuột vào ô Nhập nhận xét của bạn rồi viết comment. Viết xong, nhấp chuột vào ô Tài khoản Google. Sau đó nhấp chuột vào Tên/URL thì sẽ hiện ra 2 ô. Ô phía trên, ghi Họ và tên của bạn. Ô phía dưới, ghi dòng chữ:huongquenha.com

Cuối cùng, nhấp chuột vào ô Tiếp tục và nhấp chuột tiếp vào ô Xuất bản là xong. (Nếu bạn đã có sẵn Tài khoản Google, thì sau khi viết comment, chỉ cần nhấp chuột vào ô Xuất bản là thành công)

Số lượt xem tháng trước


-------------------------------------------------------------------------


TÁC GIẢ & TÁC PHẨM
* TÁC GIẢ & TÁC PHẨM * TÁC GIẢ & TÁC PHẨM * TÁC GIẢ & TÁC PHẨM * TÁC GIẢ & TÁC PHẨM---------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------
Ái Nhân (21) Ambrose Bierce (1) ẢNH (58) Anh Ngọc (1) Anh Nguyên (1) Anh Phong (4) Anh Phương (9) âm nhạc (2) âm thanh (1) Ân Thiên (1) Bạch Diệp (5) Bách Mỵ (2) BÀN TRÒN VĂN NGHỆ (87) Bảo Hồ (1) Bảo Lâm (1) Bảo Ninh (2) Bé Hải Dân (1) Bích Ái (3) Bích Lê (4) Bích Ngọc (1) Bích Vân (2) Bình Địa Mộc (3) Bình Nguyên (1) Bình Nguyên Trang (2) binh pháp (1) Bình Tâm (1) Bobby Nam Giang (3) Bùi Anh Sắc (1) Bùi Công Thuấn (1) Bùi Danh Hải Phong (1) Bùi Đức Ánh (66) Bùi Hoài Vân (5) Bùi Huyền Tương (2) Bùi Hữu Phước (1) Bùi Nguyên Bằng (25) Bùi Nhựa (4) Bùi Văn Bồng (5) Bùi Việt Thắng (2) BÚT KÝ (17) Ca Dao (2) Cao Duy Thảo (1) Cao Kim Quy (1) Cao Thị Thu Hà (3) Cao Thọ Thêm (2) Cao Thoại Châu (1) Cao Thu Hà (1) Cao Trọng Quế (1) Cao Văn Tam (5) Cát Du (7) Catherine Mansfield (1) Cẩm Lệ (4) Cẩm Tú Cầu (1) Chàng Cát (1) Chánh Đức (1) CHÀO XUÂN 2014 (1) CHÂN DUNG VĂN NGHỆ SĨ (2) Châu Đoàn (1) Châu Quang Phước (1) Châu Thạch (9) Châu Thường Vinh (1) Chí Anh (1) Chính Đức (1) chủ (1) CHỦ BIÊN (141) Chu Giang Phong (1) Chu Lai (2) Chu Ngạn Thư (10) Chu Trầm Nguyên Minh (16) Chu Vương Miện (1) Chúa Sơn Lâm (1) Cỏ Dại (7) covid 19 (1) Công Nguyễn (1) Cơ Xương (1) Cúc Dương (1) Cuộc thi văn chương (1) CỬA SỔ VĂN HÓA (6) Dạ Ngân (1) Dã Phong Bình (2) Dã Phương (1) Dạ Thảo (2) Dạ Thy (1) Diệp Linh (18) Diệp Uy (1) Dino Buzzati (3) DỌC ĐƯỜNG (29) Du Tử Lê (1) Dung Thị Vân (28) Duy Bằng (1) Duy Phạm (6) Dương Diệu Minh (1) Dương Đăng Huệ (1) Dương Hải Yến (2) Dương Hằng (7) Dương Kim Nhi (4) Dương Kim Thoa (1) Dương Phương Vinh (1) Dương Thành Thái (3) Dương Thị Yến Trinh (2) Dương Xuân Triều (6) Dzạ Lữ Kiều (6) Đàm Lan (17) Đan Ngọc (2) đạo đức (2) Đào Hiền (2) Đào Hữu Thức (2) Đào Khương (2) Đào Minh Hiệp (2) Đào Phạm Thuỳ Trang (82) Đào Quang Bắc (1) Đào Quý Thạnh (1) Đào Thanh Hoà (14) Đào Thị Quý Thanh (1) Đào Thị Thu Hiền (3) Đào Văn Đạt (31) Đào Viết Bửu (7) Đặng Châu Long (1) Đặng Diệu Thoa (1) Đăng Đăng (1) Đăng Huỳnh (1) Đặng Quốc Khánh (8) Đặng Quý Địch (3) Đặng Tấn Tới (2) Đặng Thị Hoa (2) Đặng Thị Xuân (1) Đặng Toán (1) Đăng Trình (1) Đặng Tường Vy (3) Đặng Văn Sử (1) Đặng Việt Trinh (1) Đặng Xuân Xuyến (9) ĐIỂM BÁO (2) Điêu Thuyền (1) Đinh Lốc (2) Đình Thậm (1) Đinh Vương Khanh (4) Đoàn Khương Duy (1) Đoàn Thị Minh Hiệp (4) Đoàn Tình (1) Đoàn Tuyết Thu (1) Đoản văn (1) ĐỌC SÁCH (30) Đỗ Chiến Thắng (6) Đỗ Duy Hoàng (15) Đỗ Hồng Ngọc (5) Đỗ KIm Dung (1) Đỗ Phu (1) Đỗ Quyên (2) Đỗ Tâm Linh (1) Đỗ Tấn Đạt (2) Đỗ Thị Kim Hải (2) Đỗ Trúc Hàn (1) Đỗ Văn Tiến (1) Đỗ Xuân Phương (1) Đức Linh (1) Đức Tiên (3) Elena Pucillo Truong (6) gan jing world (1) Ghi chép (2) Giang Đình (8) Giang Hiền Sơn (6) Giáo dục (1) Guy de Maupassant (1) Hà Đoàn (2) Hạ Ly (1) Hà Nguyên (2) Hà Nhi (1) Hà Nhữ Uyên (2) Hà Phi Phượng (1) Hạ Thi (3) Hà Thị Thu Hằng (1) Hà Tùng Sơn (1) Hải Điểu (1) Hải Miên (3) Hải Phong (2) Hải Thăng (1) Hải Thuỵ (6) Hải Yến (2) Hàm Sơn (1) Hàn Dã Thảo (2) Hàn Du Tử (17) Hàn Hữu Yên (1) Hàn Lâm (1) Hãn Nguyên Nguyễn Nhã (1) Hàn Nguyệt (1) Hàn Phong Vũ (19) Hàn Tín (1) Hạng Vũ (1) Hậu Cốc Ngang (1) Hậu Đậu (1) Hiếu Dũng (1) Hoa Hướng Dương (1) Hoa Mai (2) Hoa Tím Buồn (4) Hoa Tuyết (2) Hoà Văn (10) Hoa Xuyến Chi (1) Hoài Huyền Thanh (53) Hoan Giang (1) Hoàng Anh (6) Hoàng Anh 79 (26) Hoàng Chẩm (53) Hoàng Chẫm (1) Hoàng Đình Quang (2) Hoàng Giao (4) Hoàng Hạ Miên (6) Hoàng Hữu (1) Hoàng Khánh Duy (5) Hoàng Kim (1) Hoàng Kim Chi (1) Hoàng Kim Oanh (2) Hoàng Linh (6) Hoàng Long (2) Hoàng Lộc (8) Hoàng Mẫn (1) Hoàng Minh Tường (2) Hoàng Nghĩa Lược (1) Hoàng Ngọc Xuân (4) Hoàng Nguyên (1) Hoàng Phủ Ngọc Tường (1) Hoàng Thảo Chi (1) Hoàng Thị Bích Hà (1) Hoàng Thị Nhã (8) Hoàng Thị Thu Thủy (2) Hoàng Trang (1) Hoàng Trần (1) Hoàng Trọng Quý (9) Hoàng Trọng thắng (1) Hoàng Tuấn Sơn (1) Hoàng Tuyên (2) Hoàng Vũ Thuật (1) Hoàng Xuân Hiến (1) Hoàng Xuân Niên (1) Hồ Bích Ngọc (4) Hồ Bích Vân (2) Hồ Đắc Thiếu Anh (1) Hồ Hải (2) Hồ Lê Diêm (1) Hồ Nam (1) Hồ Ngọc Diệp (1) Hồ Nhật Quang (1) Hồ Sĩ Duy (1) Hồ Thanh Ngân (10) Hồ Thế Hà (2) Hồ Thế Phất (3) Hồ Thế Sinh (1) Hồ Tĩnh Tâm (1) Hồ Tịnh Thuỷ (21) Hồ Vũ Khánh Linh (1) Hồ Xuân Thu (3) Hội Nhà văn TP. HCM (1) Hồng Hạnh (3) Hồng Liễu (1) Hồng Phúc (8) Hồng Tâm (10) Huệ Triệu (3) HUMICHI (5) Huy Nguyên (15) Huy Vọng (17) Huy Vũ (1) Huyết Kiệt (1) Huỳnh Dạ Thảo (1) Huỳnh Gia (18) Huỳnh Kim Bửu (1) Huỳnh Minh Lệ (2) Huỳnh Ngọc Nga (1) Huỳnh Ngọc Phước (29) Huỳnh Như Phương (1) Huỳnh Thanh Lan (1) Huỳnh Thị Quỳnh Nga (1) Huỳnh Thúy Thúy (1) Huỳnh Văn Diệu (1) Huỳnh Văn Mỹ (1) Huỳnh Văn Yên (1) Huỳnh Xuân Sơn (3) Hương Đêm (1) Hương Đình (4) Hương Quê Nhà (1) Hương Văn (6) Hửu Thỉnh (1) Irina Polianxkaia (1) James Dylan (4) James Joyce (1) Jeffrey Thai (9) Jerry Thu Trà (7) Kai Hoàng (1) Kate Chopin (1) Kha Tiệm Ly (4) Khả Xuân (1) Khán Võ (2) Khảo Mai (1) khoa học (1) Khổng Trường Chiến (3) Khổng Vĩnh Nguyên (1) KỊCH BẢN (1) Kiên Giang (1) Kiến Giang (12) Kiều Huệ (1) Kim Chuông (4) Kim Dung (2) Kim Ngoan (15) Kim Quyên (1) Kim Sơn Giang (22) Kim Tiết (10) Kim Yến (1) Kỳ Nam (2) Ký sự (14) Lã Bố (1) La Hán (1) La Mai Thi Gia (1) Lạc Thảo (1) Lại Ngọc Thư (1) Lam Giang (3) Lan Anh (1) Lan Phương (1) Lan Thanh (1) Lãng Du (6) Lâm Bích Thuỷ (8) Lâm Cẩm Ái (3) Lâm Hạ (11) Lâm Huy Nhuận (1) Lâm Trúc (30) Lâm Xuân Vi (1) Lâu Văn Mua (1) Lê Ân (5) Lê Bá Duy (9) Lê Đình Danh (79) Lê Đức Hoàng Vân (1) Lê Đức Lang (13) Lê Giang Trần (1) Lệ Hằng (3) Lê Hoài Lương (4) Lê Hoàng (2) Lê Hứa Huyền Trân (39) Lê Khánh Luận (1) Lê Minh Chánh (1) Lê Minh Dung (2) Lê Minh Hải (3) Lê Minh Vũ (3) Lê Ngân (3) Lê Ngọc Phái (1) Lê Ngọc Trác (1) Lê Ngũ Nam Phong (11) Lê Nhựt Triết (8) Lê Phương Châu (30) Lê Quang Trạng (23) Lê Sa Long (2) Lê Thanh Hùng (34) Lê Thanh My (8) Lê Thấu (1) Lê Thị Cẩm Tú (6) Lê Thị Hồng Thắm (1) Lê Thị Kim (1) Lê Thị Ngọc Lệ (1) Lê Thị Ngọc Nữ (33) Lê Thị Thu Hiền (1) Lê Thị Xuyên (13) Lê Thiếu Nhơn (15) Lê Thống Nhất (6) Lê Thụy Phương (2) Lê Tiến Dũng (1) Lê Tiến Mợi (6) Lê Trọng Nghĩa (3) Lê Trung Hiếu (1) Lê Tuân (4) Lê Uyên (1) Lê Văn Hiếu (12) Lê Văn Ngăn (3) Lê Vi Thuỷ (1) Lê Vinh (4) Lê Xuân Tiến (1) Lindsay Polak (1) Linh Lan (7) Linh Lan (Quảng Nam) (8) Linh Phương (3) Linh Thy (2) Long Khánh (4) Long Vương (1) luân hồi (1) Lữ Hồng (3) Lư Nhất Vũ (1) Lương Cẩm Quyên (1) Lương Duyên Thắng (3) Lương Đình Khoa (1) Lương Sơn (27) Lưu Ly (6) Lưu Quang Minh (15) Lưu Thành Tựu (1) Lưu Thị Mười (2) Lưu Xuân Cảnh (2) Lý Khánh Vinh (15) Lý Thành Long (1) Lý Thời Miễn (1) M.T.N.H (7) Mã Nhị Lan (1) Mạc Minh (2) Mạc Tố Hồng (1) Mạc Tường (2) Mai Đức Trung (6) Mai Hạnh (1) Mai Kiệm (1) Mai Loan (12) Mai Nhật (2) Mai Thanh (1) Mai Thị Vân (1) Mai Thìn (3) Mai Tuyết (37) Mang Viên Long (63) Marie Hải Miên (4) Mẫu Đơn (1) Mèo Con (1) Mi Thu (1) Miên Đức Thắng (2) Miên Linh (1) Minh Châu (2) Minh Đan (Lọ Lem Đất Võ) (6) Minh Nguyên (15) Minh Nguyễn (3) Minh Nguyệt (15) Minh Nguyệt (NT) (1) Minh Nhân Tông (1) Minh Vy (25) Mỗi tháng một tác giả và một bài thơ hay (2) Mộng Cầm (8) Mộng Nam (1) Mùa Xanh (3) Mưa (1) Mường Mán (1) MỸ THUẬT (6) My Tiên (1) Mỹ Vân (1) Nam Art (2) Nam Cao (1) Nam Thi (17) Năm Bửu (1) Nấm Độc (1) NCCGL (4) Ngàn Thương (33) Ngày Đẹp Tươi (1) nghệ thuật. (1) nghiên cứu (1) Ngọc Bút (8) Ngọc Diệp (35) Ngọc Thịnh (1) Ngô Càn Chiểu (1) Ngô Cự Chính (2) Ngô Diệp (6) Ngô Đình Hải (7) Ngô Hồng Nhung (1) Ngô Liêm Khoan (1) Ngô Minh Trãi (3) Ngô Nguyên Ngiễm (1) Ngô Thị Hoà (1) Ngô Thị Ngọc Diệp (10) Ngô Thuý Nga (30) Ngô Thúy Nga (16) Ngô Thy Học (7) Ngô Văn Cư (52) Ngô Văn Giảng (11) Ngô Văn Khanh (17) Ngô Viết Hòa (2) Nguyễn (1) Nguyễn An Bình (70) Nguyễn An Đình (4) Nguyễn Ánh 9 (1) Nguyễn Bá Nhân (1) Nguyễn Bích Sao Linh (1) Nguyễn Bình (1) Nguyễn Bính Hồng Cầu (2) Nguyên Cẩn (26) Nguyễn Châu (2) Nguyễn Chinh (4) Nguyễn Công Thụ (2) Nguyễn Công Tùng Chinh (1) Nguyễn Cử Tú Quỳnh (2) Nguyên Diệp (1) Nguyễn Dũng (1) Nguyễn Duy Khương (6) Nguyễn Duy Phương (1) Nguyễn Duy Thịnh (3) Nguyễn Đại Duẩn (2) Nguyễn Đặng Mừng (3) Nguyễn Đăng Thanh (20) Nguyễn Đăng Trình (4) Nguyễn Đình Bảng (1) Nguyễn Đình Trọng (1) Nguyễn Đoan Tuyết (25) Nguyễn Đồng Bội Thảo (1) Nguyễn Đức Chính (5) Nguyễn Đức Cơ (1) Nguyễn Đức Mậu (2) Nguyễn Đức Minh (6) Nguyễn Đức Minh Hùng (10) Nguyễn Đức Nhân (1) Nguyễn Đức Phú Thọ (26) Nguyễn Đức Quyền (4) Nguyễn Đức Tấn (6) Nguyễn Đức Tình (4) Nguyễn Gia Long (1) Nguyên Hạ (11) Nguyễn Hải Thảo (2) Nguyễn Hậu (2) Nguyễn Hiếu (8) Nguyễn Hiếu Học (2) Nguyễn Hòa Hiệp (2) Nguyễn Hoài Ân (1) Nguyễn Hoàng Thức (2) Nguyễn Hồng Diệu (1) Nguyễn Huệ (3) Nguyên Hùng (1) Nguyễn Huy (3) Nguyễn Huy (HD) (1) Nguyễn Huy Khôi (1) Nguyễn Huỳnh (1) Nguyễn Hữu Minh (1) Nguyễn Hữu Phú (1) Nguyễn Hữu Quý (2) Nguyễn Hữu Thuần (4) Nguyễn Hữu Trung (2) Nguyễn Khiêm (1) Nguyễn Khoa Đăng (51) Nguyễn Kiều Lam (2) Nguyễn Kiều Phương (3) Nguyễn Kim Hương (7) Nguyễn Kim Thịnh (1) Nguyễn Lam (2) Nguyễn Lương Vỵ (4) Nguyên Minh (1) Nguyễn Minh Dũng (46) Nguyễn Minh Hoà (1) Nguyễn Minh Khiêm (1) Nguyễn Minh Nguyệt (1) Nguyễn Minh Phúc (47) Nguyễn Minh Quang (5) Nguyễn Minh Thuận (9) Nguyễn Minh Toàn (1) Nguyễn Mỳ (1) Nguyễn Mỹ Nữ (3) Nguyễn Nga (14) Nguyễn Nghiêm (3) Nguyễn Ngọc Dũng (1) Nguyễn Ngọc Đặng (1) Nguyễn Ngọc Hà (4) Nguyễn Ngọc Hưng (6) Nguyễn Ngọc Minh Anh (1) Nguyễn Ngọc Thơ (31) Nguyễn Ngọc Tư (5) Nguyễn Nguy Anh (21) Nguyễn Nguyên Phượng (69) Nguyễn Nhật Hùng (4) Nguyễn Như Tuấn (14) Nguyễn Phin (30) Nguyên Phong (1) Nguyễn Phú Yên (8) Nguyễn Phượng (2) Nguyễn Phương Dung (2) Nguyễn Quang Quân (8) Nguyễn Quang Tâm (2) Nguyễn Quang Tuấn (1) Nguyễn Quân (2) Nguyễn Quốc Ái (1) Nguyễn Quốc Bảo (1) Nguyễn Quốc Đông (1) Nguyễn Quy (2) Nguyên Tâm (1) Nguyễn Tấn Thuyên (3) Nguyễn Thái An (3) Nguyễn Thái Dương (6) Nguyễn Thái Huy (35) Nguyễn Thành Công (48) Nguyễn Thành Giang (22) Nguyễn Thanh Hải (1) Nguyễn Thanh Huyền (8) Nguyễn Thanh Mừng (1) Nguyễn Thánh Ngã (1) Nguyễn Thành Nhân (18) Nguyễn Thanh Tuấn (7) Nguyễn Thanh Xuân (2) Nguyễn Thế Kiên (1) Nguyễn Thế Kỷ (1) Nguyễn Thị Ánh Huỳnh (2) Nguyễn Thị Bích Phượng (2) Nguyễn Thị Cẩm Thuỳ (3) Nguyễn Thị Chi (2) Nguyễn Thị Diệu Hiền (3) Nguyễn Thị Hải (1) Nguyễn Thị Hằng (7) Nguyễn Thị Hậu (1) Nguyễn Thị Hồng Đào (10) Nguyễn Thị Huệ (1) Nguyễn Thị Kim Huệ (2) Nguyễn Thị Mây (127) Nguyễn Thị Ngọc Hải (1) Nguyễn Thị Ngọc Sen (2) Nguyễn Thị Như Tâm (3) Nguyễn Thị Phụng (27) Nguyễn Thị Thanh Bình (6) Nguyễn Thị Thành Nhân (1) Nguyễn Thị Thanh Toàn (1) Nguyễn Thị Thanh Xuân (1) Nguyễn Thị Thu Ba (23) Nguyễn Thị Thu Hiền (1) Nguyễn Thị Thu Hoài (1) Nguyễn Thị Thu Thuý (3) Nguyễn Thị Thùy Linh (3) Nguyễn Thị Tiết (3) Nguyễn Thị Tuyết (1) Nguyễn Thị Việt Hà (39) Nguyễn Thị Xuân Hương (14) Nguyễn Thu Hằng (1) Nguyễn Thủy (4) Nguyễn Thúy Ngân (13) Nguyễn Thuý Quỳnh (2) Nguyễn Thường Kham (3) Nguyễn Thượng Trí (2) Nguyễn Tiến Đường (8) Nguyễn Trần (1) Nguyễn Trí Tài (40) Nguyễn Trọng Luân (2) Nguyễn Trung (1) Nguyễn Trung Nguyên (1) Nguyễn Tuyển (4) Nguyễn Văn Ân (68) Nguyễn Văn Bút (6) Nguyễn Văn Công (2) Nguyễn Văn Cường (CCK) (4) Nguyễn Văn Hiến (5) Nguyễn Văn Hoà (5) Nguyễn Văn Hòa (2) Nguyễn Văn Học (55) Nguyễn Văn Ngọc (1) Nguyễn Văn Thanh (1) Nguyễn Văn Thành (1) Nguyễn Văn Thảo (17) Nguyễn Văn Toan (1) Nguyên Vi (1) Nguyễn Việt Hà (2) Nguyễn Vinh (1) Nguyễn Vĩnh Bình (3) Nguyễn Xuân Cảm (3) Nguyễn Xuân Dương (1) Nguyễn Xuân Khánh (1) Nguyễn Xuân Thuỷ (1) Nguyễn Xuân Thủy (1) Nguyễn Xuân Tư (3) Nguyệt Linh (5) Nguyệt Quế (1) Ngưng Thu (44) Nhã Ngọc (1) Nhã Thiên (7) nhà Thương (1) Nhân Hậu (2) NHÂN VẬT (1) Nhật Nguyệt Xuân Hương (1) Nhật Quang (17) Nhất Sinh (1) Nhật Vũ (1) Nhi Hạ (1) NHỚ THUỞ ẤU THƠ (37) Như Hoài (4) NHỮNG ÁNG VĂN HAY VỀ LÀNG QUÊ VIỆT NAM (7) NHỮNG NGƯỜI BẠN ĐÂT THỦ (6) NHỮNG NGƯỜI THỰC HIỆN HQN (5) Nông Quốc Lập (2) NP phan (1) Nửa Đời hư (1) NỬA THÁNG MỘT TÁC GIẢ VÀ MỘT BÀI THƠ HAY (38) nước (1) O. Henry (1) P.N. Thường Đoan (1) Pearl (1) Phạm Ánh (34) Phạm Anh Xuân (3) Phạm Bá Nhơn (2) Phạm Cao Hoàng (1) Phạm Đình Nghi (1) Phạm Hổ (1) Phạm Hữu Hoàng (20) Phạm Kiều Hưng (1) Phạm Lâm (1) Phạm Lê Tường Vi (1) Phạm Minh Dũng (14) Phạm Minh Hiền (9) Phạm Minh Thuận (10) Phạm Mỹ (1) Phạm Ngân (3) Phạm Như Vân (1) Phạm Phan Hòa (1) Phạm Phương Lan (1) Phạm Quỳnh An (1) Phạm Thái Ba (4) Phạm Thị Hải Dương (9) Phạm Thị Liên (1) Phạm Thị Mỹ Liên (30) Phạm Thị Phương Thảo (3) Phạm Thuý (6) Phạm Trần Ái Linh (4) Phạm Trung Tín (2) Phạm Tuấn Vũ (29) Phạm Tử Văn (21) Phạm Văn Phương (16) Phạm Văn Thạnh (1) Phạm Vũ (1) Phan Anh (12) Phan Cung Việt (1) Phan Đức Nam (1) Phan Hoài Thương (1) Phan Hoàng (2) Phan Huỳnh Điểu (1) Phan Hữu Lý (1) Phan Khanh (2) Phan Mai Thư Nhã (6) Phan Nam (20) Phan Quỳnh Như (1) Phan Sửu (1) Phan Tấn Lược (6) Phan Thanh Cương (2) Phan Thị Huỳnh Trang (2) Phan Tiên Phát (1) Phan Tình (1) Phan Trang Hy (25) Phan Văn Bình (1) Phan Văn Thạnh (1) Phan Văn Thuần (3) Phan Vĩnh (1) phần 1 (1) phần 2 (1) phần 3 (1) phần 4 (1) Phiêu Vân (1) Phong Dương (2) Phong Điệp (1) Phỏng vấn (7) Phú Ngọc (1) Phú Quang (3) Phú Xuân (8) Phùng Gia Lộc (1) Phùng Hiếu (10) Phùng Hiệu (1) Phùng Hoàng Chương (1) Phùng Phương Quý (7) Phụng Thiên (1) Phùng Văn Khai (1) Phước Vũ (1) Phương Phương (10) Phương Uy (5) Quan Thế Âm (1) Quảng Ngọc (1) Quảng Ngôn Lê Ngữ (1) Quang Thám (1) Quang Tuấn Dũng (9) Quốc Hùng (2) Quốc Tuyên (1) quy luật dịch (1) Quỳnh Lệ (1) Quỳnh Nga (16) Quỳnh Trâm (1) Rason Helmandollar (1) Raymond Carver (1) Raymond Thư (1) Rêu (Cao Hoàng Từ Đoan) (13) SÁCH BẠN VĂN (71) SARAH HALL (1) SINH NHẬT (1) Song Ninh (11) Sông Hương (11) Sông Lam (1) Sông Song (8) Sơn Tịnh (2) Sơn Trần (15) Sruthi Thekkiam (1) Stephen Crane (1) T.T.Hiếu Thảo (22) Tạ Nghi Lễ (1) Tạ Thị Hoa (14) Tam quốc diễn nghĩa (4) TẢN VĂN (230) TẠP BÚT (624) Tạp chí Văn Mới (1) TẠP CHÍ VN BÌNH DƯƠNG (11) Tashi Dawa (1) Tâm Lãng (1) Tâm Nhiên (2) Tấn Hòa (1) Tần Khánh (4) Tân Vương Huy (1) TẬP SAN ÁO TRẮNG (39) Tập san Văn học nghệ thuật Hương Quê Nhà (1) Tây bá hầu Cơ Phát (1) Tây Du Ký (1) Tây Sơn bi hùng truyện (2) Thạch Anh (2) Thạch Cầu (1) Thạch Đà (7) Thạch Lam (1) Thạch Sene (5) Thái An Khánh (2) Thái Hoà (1) Thanh Bình Nguyên (27) Thành Dũng (1) Thanh Hải (1) Thanh Huyền (2) Thanh Lương (2) Thanh Minh (4) Thanh Phong (1) Thanh Sơn (1) Thanh Thảo (3) Thanh Trắc Nguyễn Văn (42) Thanh Tùng (7) Thành Văn (3) Thạnh Văn (1) Thanh Xuân (2) Thảo Nguyễn (1) Thâm Tâm (1) Thần Y (1) Thi Ngọc Lan (1) Thiên Ân (1) Thiên Di (5) Thiên Sơn (1) Thiên Thần Áo Trắng (7) Thiên Tôn (10) Thiên Trần (1) Thiệp chúc mừng năm mới (4) Thiệp chúc Tết (3) Thiệp mừng (3) Thông báo (1) Thơ (3149) Thơ Lê Nhựt Triết (1) THƠ MỜI HOẠ (7) THƠ PHỔ NHẠC (106) Thời sự Văn nghệ (6) Thu Dung (3) Thu Hằng (1) Thu Hiền (1) Thu Hoài (1) Thu Nga (1) Thuận Thảo (8) Thuận Yến (1) Thục Minh (7) Thuỳ Anh (13) Thuỵ Du (1) Thụy Du (3) Thuỳ Dương (1) Thùy Dương (1) Thủy Điền (1) Thuỳ Nhân (1) Thư cảm ơn (1) Thư ngỏ (1) THƯ NGỎ CỦA HQN (2) Thư tin (285) THƯ VIỆN TÁC GIẢ (1) Tiểu luận (4) Tiểu Mục Đồng (1) Tiểu Nguyệt (5) Tiểu thuyết (107) Tiêu Tương (1) Tin buồn (2) TIN VĂN (2) Tịnh Bình (19) Tịnh Minh Tiến (2) Tô Hồng Phương (1) Tô Kiều Ngân (1) Tố Mai (3) Tô Minh Yến (21) Tôn Nữ Hỷ Khương (2) Tôn Thất Út (2) Tôn Tư Mạc (1) Tống Ngọc Hân (1) Tống Xuân Tám (1) Trà Bình (4) TRABATHA (1) Trác Phi (1) Trang Linh (1) Trang Lộc (1) Trang Thơ Chào Xuân Mậu Tuất 2018 (1) TRANG THƠ CHỦ NHẬT (528) Trang Thơ Đón Xuân Đinh Dậu 2017 (1) TRANG THƠ ĐƯỜNG LUẬT (17) Tranh ảnh (3) Trầm Mặc (4) Trần Anh Dũng (1) Trần Bảo Định (4) Trần Băng Khuê (1) Trần Biên Thùy (1) Trần Dần (1) Trần Duy Đức (17) Trần Dzạ Lữ (4) Trần Định (1) Trần Đình Sử (2) Trần Đoàn Luận (1) Trần Đức ÁI (2) Trần Đức Hiển (1) Trần Đức Tín (1) Trần Hà Nam (4) Trần Hoàng Vy (2) Trần Hồng Vân (5) Trần Huiền Ân (2) Trần Huy Minh Phương (2) Trần Hữu Du (1) Trần Hữu Hội (17) Trần Kim Đức (5) Trần Kim Loan (2) Trần Kim Quy (1) Trần Lê Sơn Ý (2) Trần Linh Chi (1) Trần Long Thạch (1) Trần Lưu (1) Trần Mai Hường (11) Trần Mạnh Hảo (1) Trần Minh Nguyệt (16) Trần Năm (1) Trần Ngọc Hồ Trường (4) Trần Ngọc Mỹ (11) Trần Nguyên Hạnh (6) Trần Nhã My (2) Trần Như Luận (3) Trần Nhương (1) Trần Phù Nam (1) Trần Quang Dũng (4) Trần Quang Khanh (12) Trần Quang Lộc (1) Trần Quang Ngân (10) Trần Quốc Tiến (8) Trần Quốc Toàn (1) Trần Quốc Việt (1) Trần Tâm (7) Trần Thái Hưng (5) Trần Thanh Hải (3) Trần Thành Nghĩa (1) Trần Thế Nhân (13) Trần Thị Bích Thu (1) Trần Thi Ca (9) Trần Thị Cổ Tích (2) Trần Thị Huệ (1) Trần Thị Huyền Trang (3) Trần Thị Mai (1) Trần Thị Ngọc Hồng (1) Trần Thị Thanh (5) Trần Thị Thắng (1) Trần Thị Thương Thương (4) Trần Thị Trúc Hạ (1) Trần Thị Uyên (8) Trần Thiện (3) Trần Thiện Tuấn (1) Trần Thoại Nguyên (2) Trần Thuận (7) Trần Thúy Lành (6) Trần Thuỳ Trang (1) Trần Thư (1) Trần Thương Nhiều (1) Trần Trọng Hưng (2) Trần Trọng Tân (1) Trần Trọng Vũ (2) Trần Tuấn Anh (2) Trần Tuấn Thanh (10) Trần Vạn Giã (2) Trần Văn Bạn (16) Trần Văn Nhân (5) Trần Văn Thiên (1) Trần Việt (1) Trần Viết Dũng (11) Trần Võ Thành Văn (24) Triết học (2) Triều Âm (2) Triều Châu (1) Triều La Vỹ (2) Triệu Lam Châu (1) Triệu Từ Truyền (30) Trịnh Bửu Hoài (106) Trịnh Duy Sơn (2) Trịnh Hoài Linh (5) Trịnh Huy (4) Trịnh Thuỳ Mỹ (1) Trịnh Tuyên (1) Trịnh Viết Hiền (1) Trịnh Viết Hiệp (1) Trịnh Yến (2) Trọng Mật (2) trụ vương (1) Trúc Giang (4) Trúc Lập (1) Trúc Linh Lan (2) Trúc Thanh Tâm (12) Trúc Thuyên (3) trung quốc (1) Trung Trung Đỉnh (1) Trung Y (1) Truong Nguyen (1) Truyện dài (10) TRUYỆN DỊCH (17) Truyện ký (2) TRUYỆN NGẮN (1173) TRUYỆN VỪA (14) Trương Công Tưởng (16) Trương Diễm Phiến (1) Trương Đình Phượng (8) Trương Đình Tuấn (3) Trương Hồng Phúc (14) Trương Huỳnh Như Trân (2) Trương Lan Anh (1) Trương Nam Chi (5) Trương Thanh Cường (2) Trường Thắng (65) Trương Thị Thanh Tâm (22) Trương Thị Thúy (2) Trường Thịnh (6) Trương Tri (2) Trương Văn Dân (21) Trương Viết Hùng (1) TTM (1) Tuấn Nguyễn (7) Tuấn Quỳnh (3) Tuệ Mỹ (1) Tuti (2) Tuỳ bút (2) TÙY BÚT (120) Tuyết Nhung (2) Tuyết Vân (1) tứ đại mỹ nhân (1) Tường Vi (1) TX (1) Út Lãng Tử (1) Uyên Khuê (2) Uyên Minh (1) Uyển Phan (1) Vạn Lộc (1) Vành Khuyên (1) Văn (2483) Văn Công Mỹ (2) văn hóa truyền thống (5) Văn học nước ngoài (13) Văn Lưu (1) Văn Nguyên (1) Văn Nguyên Lương (7) Văn Nhược Ba (1) Văn Thạnh (2) Văn Thành Lê (1) Văn Thắng (23) Văn Trọng Hùng (1) Vân Đồn (3) Vân Giang (12) Vân Khanh (2) Vân Phi (32) Vân Tùng (2) Vi Ánh Ngọc (2) Vi Quốc Hiệp (1) Victor Remizov (1) VIDEO CLIP (2) Viễn Trình (25) Việt Quỳnh (1) Việt Trang (1) Việt Trương (1) Vĩnh Sơn (7) Vĩnh Thông (43) Vĩnh Tuy (21) Võ Bá Cường (1) Võ Chân Cửu (17) Võ Chí Nhất (3) Võ Công Liêm (1) Võ Diệu Thanh (18) Võ Dõng (1) Võ Đông Điền (4) Võ Hà (1) Võ Hạnh (2) Võ Mỹ Cát (1) Võ Ngọc Thọ (4) Võ Như Văn (3) Võ Thị Nga (13) Võ Thị Thu Thủy (1) Võ Thuỵ Như Phương (15) Võ Văn Hoa (1) Võ Văn Luyến (1) Võ Xuân Phương (3) Vũ Bình Lục (1) vũ đạo (1) Vũ Đình Huy (9) Vũ Đình Liên (1) Vũ Đình Minh (1) Vũ Đình Nguyệt (2) Vũ Đình Thung (2) Vũ Đức Trọng (1) Vũ Hạ (1) Vũ Hạnh (3) Vũ Hùng (2) Vũ Miên Thảo (5) Vũ Thành An (1) Vũ Thị Huyền Trang (115) Vũ Thụy Khuê (8) Vũ Trọng Quang (1) Vũ Trọng Tâm (2) Vũ Trọng Thanh (1) Vương Doãn (1) Vương Hạnh (1) Vương Hoài Uyên (4) Vương Tâm (3) Xanh Nguyên (4) Xuân Đài (1) Xuân Phong (6) Xuân Phương (1) Xuân Tiến (20) Ý Thu (3) Yên Kha (7) Ziken (2)
-------------------------------------------------------------------------
+ 817 TÁC GIẢ CÓ BÀI ĐĂNG TRÊN HƯƠNG QUÊ NHÀ
-------------------------------------------------------------------------