Nhà văn Mỹ O. Henry (1862 - 1910) tên thật là William Sydney Porter. O. Henry làm nhiều nghề, trong đó có nghề bán dược phẩm, thư ký nhà băng, người vẽ sơ đồ thiết kế. Ông từng sáng lập tờ báo hài Rolling Stone (1894 - 1895). O. Henry là nhà văn viết truyện ngắn nổi tiếng, với gần 400 truyện, mang tiếng cười và thông điệp nhân sinh sâu sắc. Truyện ngắn sau đây đề cập đến chức năng thức tỉnh của nghệ thuật đối với con người, dù họ là ai, đồng thời có tính hài hước như phong cách vốn thấy ở O. Henry.
Soapy trăn qua trở lại trên băng ghế ở Madison Square. Khi ngỗng trời kêu quang quác trong đêm, khi phụ nữ không có áo khoác làm bằng lông hải cẩu nép sát vào chồng họ và khi Soapy trăn trở trên băng ghế trong công viên thì bạn biết là mùa đông đang tới thật gần.
Một mảnh giấy khô khốc rớt vào lòng Soapy. Đó là danh thiếp của Jack Frost. Jack rất tốt với những cư dân thường xuyên ở Madison Square và thường đưa ra các cảnh báo tử tế trong các lần viếng thăm hàng năm. Ở các góc đường của ngã tư, anh che gió bấc và trao giấy bồi có ghi các lời cảnh tỉnh cho người phục vụ của tòa lâu đài All Outdoor để người ở đó biết mà chuẩn bị.
Đầu óc Soapy biết rõ sự thật là đã đến lúc anh ta phải quyết định để được vào trung tâm của một ủy ban đáng chú ý là Ủy ban tài sản và phương tiện để được bảo trợ nhờ đó có thể chống lại mùa đông khắt khe đang đến. Và do đó, anh ta trằn trọc trên băng ghế. Ước mơ có được những giấc ngủ ngon vào mùa đông của Soapy không phải là quá ngông cuồng. Trong những ước mơ đó, không có du thuyền đi trên Địa trung hải, không có những đê mê khi ở trên tàu và lướt đi dưới bầu trời phương nam trên vịnh Vensuvia. Có được ba tháng ở tù là thứ mà linh hồn anh ta khát khao. Ba tháng có cơm ăn áo mặc, người xung quanh thì dễ mến và không bị cảnh sát quấy rầy đối với Soapy dường như là điềm chính yếu trong các ước ao.
Đã nhiều năm rồi, bệnh viện Blackwell là khu vực trú đông của anh ta. Anh ta như thế còn may mắn hơn những người bạn New York vô gia cư khác khi họ phải mua vé để được vào Palm Beach và Riviera mỗi khi mùa đông đến, do đó anh ta khiêm tốn sắp xếp cho việc thoát thân hằng năm của mình bằng cách ước mơ được vào tù. Và giờ, mùa đông đã đến. Đêm hôm trước, ba tờ báo lót dưới áo khoác, phủ bụng và chân đã thất bại trong việc chống lại cái lạnh khi anh ta ngủ trên băng ghế gần một vòi nước đang phun ở một khu phố cổ. Do đó hình ảnh nhà tù quẩn quanh trong đầu anh ta. Anh ta khinh thị số thực phẩm nhân danh từ thiện dành cho người vô gia cư trong thành phố. Theo anh ta, luật pháp còn dễ chịu hơn các tổ chức từ thiện. Có vô số các tổ chức từ thiện, các ban ngành thành phố mà anh ta có thể đến để xin chỗ ăn chỗ ở ở mức đơn sơ nhất. Theo Soapy, quà cáp từ thiện rất rắc rối. Vì không phải trả tiền nên bạn phải bẽ mặt khi nhận những ích lợi từ tay các nhà từ thiện. Cũng như Caesar hoạch họe tướng Brutus, mỗi chiếc giường từ thiện, nếu muốn được nằm thì phải tắm rửa, mỗi ổ bánh mỳ nếu muốn được nhận phải qua thẩm vấn cá nhân. Do đó, tốt hơn hãy là khách của pháp luật, chịu luật lệ chi phối và không bị những việc riêng tư của một quí ông nào đó quấy rầy.
Soapy quyết định vào tù và ngay lập tức hành động để hoàn thành ước muốn. Có nhiều cách để thực hiện điều đó. Hành động vui vẻ nhất là tới ăn tối ở một nhà hàng sang trọng sau đó tuyên bố là không có tiền và êm thấm bị bắt giữ giao cho cảnh sát. Một quan tòa biết gia ơn sẽ làm việc còn lại.
Soapy rời băng ghế và bước ra khỏi công viên, băng qua con đường nơi Broadway và Fifth Avenue gặp nhau. Lên khu Broadway, anh ta đứng chần chừ trước một tiệm ăn, nơi hằng đêm người ta bán các thứ thức ăn được lựa chọn kỹ như nho, con tằm và các chất nguyên sinh.
Soapy thấy tự tin với hàng nút từ dưới lên trên của chiếc áo gilê của mình. Anh ta vừa cạo râu, áo khoác thì tươm tất còn chiếc áo gilê đen do một bà soeur tặng trong lễ Tạ ơn thì gọn ghẽ, vừa vặn. Nếu anh ta đến ngồi vào bàn trong tiệm ăn đó thì sẽ không có ai ngờ vực gì khẩu phần thức ăn trên bàn của anh ta cũng sẽ không gây ra mối ngờ nào trong đầu tay hầu bàn. Soapy nghĩ, anh ta sẽ kêu vịt trời quay, một chai Chablis, sau đó là một chai Camembert, một tách cà phê và một điếu xìgà. Điếu xìgà chỉ chừng một đôla. Giá toàn bộ bữa ăn cũng không nhiều đến mức làm tay quản lý tiệm ăn giận sôi người và đương nhiên bữa ăn sẽ làm cho anh ta no vui để bước đến nơi trú đông.
Nhưng khi Soapy bước chân vào cửa tiệm ăn, tay tiếp viên trưởng đổ mắt vào chiếc quần sờn cũ và đôi giày rách của anh ta. Những bàn tay mạnh bạo ngăn anh ta lại, lặng lẽ đẩy anh ta ra đường và do đó cũng ngăn lại sự hủy diệt đê tiện của gã vịt trời nguy hiểm.
Soapy rời Broadway. Dường như đối với anh ta, đường đến nhà tù thèm muốn kia không phải là con đường nhung lụa. Phải nghĩ ra cách khác để được vào tù.
Ở góc đường Sixth Avenue, ánh sáng điện tinh quái chiếu sáng hàng hóa sau một cửa kính, làm cho cái cửa kính ấy trở nên đáng chú ý. Soapy lượm một viên sỏi và ném vào cửa kính. Người ta đổ dồn vào góc đường ấy, có một viên cảnh sát dẫn đầu. Soapy đút hai tay vào túi quần và đứng im, cười với viên cảnh sát.
“Thằng ném đá đang ở đâu?”, viên cảnh sát mạnh giọng hỏi.
“Ông không nghĩ ra là tôi có thể đã ném đá để làm gì à?”, Soapy nói không chút mỉa mai nhưng thân thiện, như là người ta đang chúc may mắn.
Viên cảnh sát từ chối nghĩ rằng Soapy là một nghi can. Kẻ ném đá như thế thường không đứng lại để đôi co với nhân viên công lực. Họ bỏ chạy. Viên cảnh sát thấy có một gã đàn ông ở phía dưới khúc đường đang chạy theo một chiếc xe hơi. Anh ta cầm dùi cui đuổi theo. Soapy phẫn uất bỏ đi sau hai lần thất bại.
Bên kia đường là một nhà hàng trông không chút tự phụ. Nó bán thức ăn nhiều nhưng rẻ. Chén làm bằng đất sét nung dày, không khí trong nhà hàng bận rộn còn xúp thì loãng và khăn trải bàn thì mỏng. Ở đó, Soapy vẫn mang đôi giày tội đồ và chiếc quần làm lộ tẩy không chút e dè. Anh ta ngồi vào bàn và gọi bò bít tết, bánh kếp, bánh cam vòng và bánh patê. Sau bữa ăn, anh ta ra hiệu cho bồi bàn biết anh ta không có xu nào và là một người lạ.
“Nào, hãy gọi ngay cho cảnh sát”, Soapy nói. “Đừng để một quí ông phải chờ lâu”.
Hai gã bồi bàn đè phía trái đầu anh ta xuống vỉa hè cứng. Anh ta từng chút một vùng dậy, như thợ mộc mở thước và phủi bụi trên quần áo. Việc bắt giữ anh ta lại dường như còn xa vời. Nhà tù cũng quá xa vời. Có một viên cảnh sát đứng trước một nhà thuốc cách đó hai căn nhưng chỉ cười rồi bỏ đi.
Sau khi bước đi qua năm khối nhà, sự can đảm của Soapy cho phép anh ta lại nghĩ đến chuyện làm sao để được bắt giữ. Lần này cơ hội đến và anh ta nông nổi gọi là “dễ”. Một phụ nữ thanh nhã trẻ đang đứng trước một tủ kính chăm chú nhìn bột cạo, giá để mực và cánh cửa hiệu chừng hai yard, có một viên cảnh sát cao to, thái độ rất nghiêm túc đang đứng tựa vào một cột nước. Soapy muốn đóng vai một cái “máy xay” đáng khinh và đáng nguyền rủa. Sự mảnh mai của nạn nhân và viên cảnh sát tận tâm đang ở gần đó làm anh ta tin rằng anh ta sẽ chính thức bị chộp lấy cánh tay và chắc chắn sẽ được vào tù để trú đông.
Soapy chỉnh lại cho thẳng chiếc cà vạt mà các soeur truyền giáo tặng, móc chiếc còng nhỏ ra, đội lệch chiếc mũ chết chóc và len lén đi đến chỗ người phụ nữ trẻ. Anh ta nhìn cô gái và bỗng họ sù sụ rồi cười đểu, trơ tráo khởi động những lời dông dài, hỗn xược và đáng khinh của chiếc “máy xay”. Anh ta nheo mắt nhìn viên cảnh sát đang nhìn anh ta chằm chằm. Người phụ nữ trẻ bước đi vài bước nhưng vẫn chăm chú nhìn món bột cạo. Soapy bước theo và mạnh bạo tới đứng bên cạnh cô, giở mũ ra và nói:
“A, Bedelia đây! Em không muốn đến nhà anh chơi à?”.
Viên cảnh sát vẫn đang chăm chăm nhìn. Người phụ nữ trẻ đưa ngón tay lên ra hiệu và Soapy trên thực tế đang bước đi trên đường vào ốc đảo nhà tù. Anh ta bỗng cảm nhận được sự ấm áp của nó. Cô gái quay ra nhìn anh ta, đưa tay nắm lấy ve áo khoác của hắn.
“Chắc chắn, Mike ạ”, cô nói vui vẻ. “Giá mà anh hắt vào em một xô xà phòng thì em đã nói chuyện với anh sớm hơn, nhưng cảnh sát đang nhìn kìa”.
Với người phụ nữ trẻ là dây trường xuân bám vào cây sồi Soapy, họ đi qua viên cảnh sát và vùng tối. Anh ta dường như thấy rất tự do.
Ở góc đường tiếp theo, anh ta tống khứ người bạn đồng hành và bỏ chạy. Anh ta dừng lại ở khu vực có những con đường rực sáng về đêm, có lời nhạc kịch, có tiếng kinh cầu và ấm áp.
Phụ nữ mặc áo lông và đàn ông mặc áo khoác rộng bước đi vui vẻ trong gió lạnh. Một nỗi sợ bất ngờ ập đến với Soapy. Anh ta nghĩ vì quá muốn bị bắt giữ nên đã làm cho anh ta không bị bắt giữ. Ý nghĩ này gây hoảng loạn ít nhiều cho anh ta. Khi thấy có một viên cảnh sát bệ vệ đang loanh quanh trước một nhà hát nguy nga, anh ta nghĩ ngay đến việc “gây rối trật tự công cộng”.
Anh ta bắt đầu lấy hết gân hết cốt la thét. Anh ta nhảy nhót, gào rú và làm đủ trò khác, làm rung rinh cả vòm trời.
Viên cảnh sát xoay chiếc dùi cui, quay lưng lại với Soapy và nói với một người đi đường:
“Thằng ở Yale này đang ca ngợi những cái trứng ngỗng nó tặng cao đẳng Hartford. Ồn ào nhưng vô hại. Chúng tôi đã có chỉ thị cứ cho những điều như thế được tồn tại”.
Soapy buồn bã dừng lại việc quấy rối. Sẽ không có viên cảnh sát nào sờ đến anh ta sao? Trong suy tư của anh ta, nhà tù hình như là vùng Arcadia của Hy Lạp cổ đại, không thể vào được. Anh ta gài lại nút chiếc áo khoác mỏng để chống lại cái lạnh.
Tại một cửa hàng bán xìgà, anh ta thấy một người đàn ông đang mồi một điếu xìgà trong ánh sáng lung liêng. Chiếc dù vải silk của ông ta đang được để ở cửa ra vào. Soapy bước vào bên trong, nhìn ngó chiếc dù và từ từ cầm lấy nó, bình thản đi ra. Người đàn ông vội vàng bước theo.
“Chiếc dù là của tôi”, ông ta nghiêm túc nói.
“Ồ, vậy à?”, Soapy cười nhếch mép như khinh bỉ việc ăn cắp vặt. “Ừ, sao không gọi cảnh sát? Tôi lấy nó, lấy dù của ông! Sao không gọi cảnh sát. Có một cảnh sát đang đứng ở góc đường kia kìa”.
Người chủ của chiếc dù bước chậm lại. Soapy cũng thế và có linh cảm rằng may mắn đang đến với mình. Viên cảnh sát tò mò nhìn hai người.
“Đương nhiên”, người đàn ông là chủ chiếc dù nói, “được thôi, ông biết có sự nhầm lẫn rồi đó... Nếu đó là dù của ông, tôi hy vọng ông sẽ bỏ qua cho... Tôi nhặt được nó ở một nhà hàng sáng nay... Nếu ông nhận ra đó là dù ông, tôi hy vọng ông sẽ...”.
“Tất nhiên đó là dù của tôi”, Soapy hằn học nói.
Ông chủ cũ của chiếc dù rút lui. Viên cảnh sát chạy tới giúp một phụ nữ cao, tóc vàng, mặc ào choàng vũ kịch đang băng qua đường trước một chiếc xe hơi đang ở cách cô chừng hai khối nhà.
Soapy đi về phía đông, ngang qua một con đường đang được sửa chữa. Anh ta giận dữ chĩa dù xuống một cái hố. Anh ta lầm bầm chửi những người công nhân đang đội mũ cối và cầm thuổng vì muốn ngã vào cuốc thuổng và các hố họ đang đào. Họ hình như coi anh ta là một ông vua không thể làm điều gì sai quấy.
Cuối cùng Soapy đi đến một con đường ở phía đông không ồn ào và không lấp lánh ánh đèn. Anh ta cúi mặt đi về hướng Madison Square và trở về nhà, dù nhà là một băng ghế công viên, là một bản năng của sự tồn tại.
Nhưng khi đi đến một góc đường yên tĩnh, Soapy bỗng dừng lại. Ở đó có một ngôi nhà thờ cũ, kỳ lạ, có nhiều đầu hồi. Từ chiếc cửa sổ kính màu tím, ánh sáng nhẹ hắt ra và sau cánh cửa có một người đang chơi đàn ống đang nhẹ lướt tay trên các phím để tập luyện cho lễ chủ nhật sắp tới. Tiếng nhạc ngọt ngào vẳng vào tai Soapy làm anh ta đứng dán chặt vào hàng rào sắt cuộn.
Đêm yên tĩnh, trăng sáng ngời; chỉ có vài ba chiếc xe và vài người đi qua đường; chim sẻ ngái ngủ kêu líu ríu trên các đầu hồi. Trong thoáng chốc, cảnh vật giống như cảnh vật trong một khuôn viên nhà thờ ở thôn quê. Tiếng nhạc thánh ca mà người chơi đàn ống đang chơi làm cho Soapy dán người vào chiếc hàng rào sắt bởi anh ta biết rõ bản nhạc này trong những ngày đời anh ta còn có những thứ như mẹ, hoa hồng, bạn bè, những khát vọng và suy nghĩ thì hãy còn tinh sạch.
Sự pha trộn giữa trạng thái đầu óc tiếp nhận âm nhạc và hình ảnh ngôi nhà thờ thuở xưa bỗng làm thay đổi tâm hồn anh ta một cách tuyệt vời. Anh ta kinh hãi nhìn xuống đáy địa ngục mà anh ta đã ngã vào. Đó là những ngày suy đồi với những ước muốn thấp kém, những hy vọng buồn tẻ, những hành động phá hoại, những động cơ đê hèn - những thứ cùng nhau làm nên sự tồn tại của anh ta.
Và cũng trong phút chốc, trái tim anh ta đã phản ứng lại một cách xúc động với tâm trạng mới. Một xung động mạnh mẽ và ngay tức khắc làm anh ta muốn tranh đấu với số phận gian nan. Anh ta muốn kéo mình ra khỏi bùn lầy, muốn làm một con người mới, muốn khuất phục con quỉ đã nhập vào mình. Hãy còn thời gian và anh ta hãy còn trẻ. Anh ta sẽ làm sống lại những khát khao đẹp cũ và theo đuổi chúng không nao núng. Những nốt thánh ca ngọt ngào và nghiêm trang đã làm trỗi dậy một cuộc cách mạng trong anh ta. Ngày mai, anh ta sẽ vào trung tâm thành phố ồn ào để kiếm việc. Một nhà nhập khẩu lông thú đã từng nhận anh ta vào làm người lái xe. Ngày mai anh ta sẽ đi tìm ông ấy và xin việc. Anh ta sẽ là một ai đó trên đời. Anh ta sẽ...
Soapy thấy có một bàn tay đặt lên trên cánh tay mình. Ngoảnh ra anh ta thấy có một viên cảnh sát mặt bự.
“Ông làm gì ở đây?”, viên cảnh sát hỏi.
“Không làm gì cả”, Soapy nói.
“Vậy thì theo tôi”, viên cảnh sát nói.
“Ông bị phạt tù ba tháng”, quan tòa ở Tòa án cảnh sát phán vào sáng hôm sau.
· Trần Ngọc Hồ Trường dịch từ American great short stories.com
Tiểu thuyết “Chiến tranh và hòa bình” của Lev Tolstoi tôi đã đọc từ hồi còn nhỏ, đến bây giờ hưu trí tôi vẫn còn thích đọc lại- lần thứ bao nhiêu tôi không còn nhớ rõ- để chiêm nghiệm những vấn đề của nhân loại mà Lev đã nêu lên trong đó. Tôi không phải nhà chuyên môn về phân tích bình luận tác phẩm, tôi không phải là nhà lý luận văn học. Tôi chỉ đọc và cảm nhận một tác phẩm dưới mắt nhìn của một độc giả bình thường. Tuy tác phẩm đồ sộ, cao siêu, nhưng tôi không đủ sức quan tâm cái cao siêu, tôi chỉ ghi lại dưới mắt nhìn của tôi, những kỷ niệm của tôi, những nghĩ suy của tôi về “Chiến tranh và hòa bình”.
Từ ngày nghỉ hưu hơn hai năm nay, trong kế hoạch đọc lại sách xưa lúc cuối đời nhằm học hỏi, tìm đến chốn tâm linh, chuẩn bị cho việc chuyển sang “ngôi nhà vĩnh cửu bên kia thế giới” của mình, tôi ước mơ được đọc lại “Chiến tranh và hòa bình” của Nguyễn Hiến Lê dịch. Sách này tôi đã đọc lúc 15 tuổi, trong một bối cảnh đáng nhớ. Đó là năm 1972, trong những ngày được gọi là “mùa hè đỏ lửa”, lúc ấy trên chiến trường, hai bên – quân đội Việt Nam cộng hòa và quân giải phóng đang giằng co ác liệt ở địa danh mấu chốt Quảng Trị. Đài phát thanh, đài truyền hình liên tục đưa tin máu đổ, thương vong, chết chóc xảy ra hàng ngày để phe mình được cắm cờ trên cổ thành Quảng Trị.
Nhà tôi ở ngay trước chùa Thuận Thành, tôi thường xuyên thấy những quan tài phủ cờ vàng ba sọc đỏ từ chiến trường chở về. Do phần lớn người ta quan niệm chết bom đạn, chết đường chết chợ không được đưa vào nhà. Và phần lớn các gia đình này đều nghèo, nhà chật, thiếu không gian làm tang lễ, vì thế thân nhân cho quàn tại chùa. Phải nói bình quân hàng tuần, tôi đều thấy quan tài, đều nghe tiếng khóc ỉ ôi, kể lể của những người vợ lính còn rất trẻ, với nhiều mái đầu xanh quàng khăn xô trắng xóa đầy nét bi thương.
Tôi đang tuổi thiếu niên nhưng nhìn thấy cảnh ấy, bỗng buồn trong lòng, có khi mai mốt đây mình cũng sẽ rơi vào cảnh huống “Kỷ vật cho em” như những người vợ lính. “Kỷ vật cho em” là bài hát thời thượng, nhạc sĩ Phạm Duy phổ nhạc từ bài thơ của Linh Phương, với tiếng hát Thái Thanh tỉ tê, nỉ non làm tôi thấy rờn rợn:
Em hỏi anh, bao giờ trở lại
Xin trả lời, mai mốt anh về
Anh trở lại có thể bằng chiến thắng Pleime
Hay Đức Cơ, Đồng Xoài, Bình Giã
Anh trở về anh trở về hàng cây nghiêng ngả
Anh trở về, có khi là hòm gỗ cài hoa
Anh trở về trên chiếc băng ca
Trên trực thăng sơn màu tang trắng.
Tuy thế, tôi có không gian riêng, thế giới riêng- đó là sách. Mỗi lần tôi “chui” vào đó tôi thấy như vào thành trì an ổn, không ai phiền nhiễu được mình. Thói quen đó có từ nhỏ, bây giờ ở tuổi hưu trí vẫn còn “đậm đà” trong tôi.
Hồi đó chỉ gọi là đọc “ngấu nghiến” chẳng có định hướng, có mục đích, chương trình gì, nhưng với một ý nguyện là muốn đọc sách văn học để cảm nhận văn phong, nhịp điệu, không khí, cảm xúc của nhân vật hơn là chỉ đọc để nắm nội dung.
Những học trò cùng lứa tôi thủa đó phần lớn say mê vùi đầu vào tác phẩm của Kim Dung để rồi đánh võ mồm. Thường sau khi đọc “Anh hùng xạ điêu”, “Cô gái Đồ Long”, Thần điêu đại hiệp”… chúng kể cho nhau những miếng võ lõm bõm trong sách, hoặc vào võ đường học kỳ được những chiêu của những tài tử xuất hiện nhan nhản trên màn ảnh đại vĩ tuyến thời bấy giờ như Khương Đại Vệ, Lý Tiểu Long, Trần Tinh... thì tôi lại ưa vùi đầu vào loại sách “khó nhằn” của người lớn kiểu như “Chiến tranh và hòa bình”, “Những người khốn khổ”, “Những khẩu đại bác thành Navarra”, “Khóc lên đi ôi quê hương yêu dấu”, có cả loại truyện “sướt mướt” như “Bên dòng sộng Trẹm” chẳng hạn. Chẳng qua là những cuốn này nó có trước mắt tôi, trong tủ sách gia đình.
Tôi nhớ tôi đã đọc “Chiến tranh và hòa bình” bản dịch của Nguyễn Hiến Lê in lần đầu của Nhà xuất bản Lá Bối, Sài Gòn 1969. Ở tuổi đó, đọc loại sách đó, tôi không nắm được hết nội dụng, tôi chỉ mê sự kiện, mê chi tiết miêu tả của Lev Tolstoi, nhất là tả cảnh chiến tranh. Thời điểm đó ở Đà Nẵng có kênh truyền hình dành riêng cho lính Mỹ (hàng đêm từ 19g đến 23g máy bay Blue Eagle bay ở độ cao ổn định, chở thiết bị vòng vòng trên trời phát sóng xuống mặt đất) có chiếu phim Combat (Chiến đấu), phim này tôi rất khoái, không bỏ bữa nào. Tôi hồi hộp theo dõi hai nhân vật chính là trung sĩ Vic Morrow, trung úy Vic Thompson chuyên tiếp cận hang ổ quân Đức, khiến địch quân nhiều trận nếm mùi thất bại ê chề.
Đọc “Chiến tranh và hòa bình” tôi lại mê miêu tả một trận đánh chi tiết như vậy. Nào là đội kỵ binh, đội pháo thủ, cánh trái, cánh phải, đội phiêu kỵ, đội bộ binh… Lev Tostoi miêu tả rất chi tiết cách bố trí quân, diễn biến trong trận đánh. Nhiều đoạn tôi phải đọc đi đọc lại mấy lần để hình dung vị trí của nhân vật, họ chạy từ chỗ này sang chỗ nọ, diễn biến trận đánh như thế nào (*).
Những cảnh đó, những đoạn văn miêu tả đó là những đoạn văn tôi thích nhất. Rồi có tuổi hơn chút nữa, đọc lại “Chiến tranh và Hòa bình”, tôi nhận ra điều mà những lần trước mình chưa hiểu. Cụ thể là chiều kích tâm linh của cuốn tiểu thuyết qua những chuyện xảy ra trong các phòng khách và trên bãi chiến trường, qua những lời thoại sâu sắc.
Độc giả cụ thể là tôi, mỗi lần đọc lại hiểu thêm về triết học, tôn giáo, hiểu thêm về chân lý, biết phân biệt thêm về tốt xấu và hành động cho phù hợp trong hoàn cảnh thực tế. Có khi lần trước tôi chưa kịp nhận ra, lần này tôi lại thấy Lev Tolsoi đã trình bày chiến tranh như một sự kiện, trong đó tâm hồn con người được tôi luyện, những phẩm chất cá nhân và sự vĩ đại của đất nước được hình thành. Trong từng trận đánh cho ta thấy tất cả những nỗi khủng khiếp của chiến tranh, số lượng khổng lồ các nạn nhân, những nỗi bất công và đau khổ vô cùng tận giáng xuống những con người bình thường.
Mới đây, một lần trú tại khách sạn Đại Nam, một khách sạn nhỏ nhắn, bên bờ biển dạt dào sóng gió trữ tình tại Nha Trang, bất ngờ tôi “gặp lại” “Chiến tranh và hòa bình” bản của Nguyễn Hiến Lê dịch, tái bản in tại Nhà xuất bản Văn nghệ, Thành phố Hồ Chí Minh in năm 2000 (tập 1: 816 trang, tập 2: 778 trang, tập 3: 731 trang, tập 4: 809 trang, cỡ giấy 18 cm).
Tôi vui như bắt được vàng khi nhìn thấy bộ tứ tác phẩm nói trên nằm trên giá sách khá khiêm tốn, nghèo nàn ở sảnh tiếp tân của khách sạn. Vậy là bao nhiêu năm mong ước, tìm kiếm nay bất ngờ gặp lại, nhất là tâm niệm trong những ngày hưu trí cần đọc một loạt tác phẩm kinh điển, qua đó an lòng sống những ngày cuối đời.
Kiểu như bá tước Léon Tolstoi từng gửi gắm trong “Chiến tranh và hòa bình” rằng:
“Hành động của tôi liên quan tới ý chí khác và tùy thuộc vào hợp lực của những ý chí khác không phải của tôi. Hoạt động của ta càng trừu tượng bao nhiêu thì nó càng được tự do bấy nhiêu” (**).
Để từ đó đừng có mạnh miệng nói rằng, già rồi muốn làm gì cũng được “Vouloir c’est pouvoir”. Trên tinh thần đó, tôi đã đóng cửa phòng suốt hai ngày thứ bảy và chủ nhật tại khách sạn, say mê đọc “Chiến tranh và hòa bình” bản dịch của Nguyễn Hiến Lê mà tôi đã đọc hồi còn nhỏ, mặc cho mọi người trong đoàn du lịch vui chơi, tắm biển, ngao du thiên đường Vinpearl.
Người ta nói “vùi đầu vào trang sách” thật đúng với hình ảnh tôi lúc này. Tôi vui mừng gặp lại Natasha với vũ điệu bình dân Nga dưới ánh trăng, Natasha có tâm hồn, tươi sáng, cởi mở, hồn nhiên, hành động luôn theo tình cảm, rất tận tâm, rất yêu người, yêu đời, tuy có lúc nhẹ dạ, lầm lỗi nhưng không làm cho tôi ghét mà trái lại làm cho tôi thêm thương.
Tôi cảm nhận sâu xa điều mà Tolstoi nói: “Những cái tôi viết đây không phải tôi bịa ra đâu, tôi đã đau đơn rút từ trong ruột tôi ra đấy”. Tôi đã lấy bút high- light gạch dưới một đoạn văn để nghiền ngẫm: “Một hôm ông lại Novgorod mua đất, ghé một quán trọ ở Arzamas để nghỉ đêm, thấy phòng vuông vức như chiếc quan tài, tường trắng như khăn tang, đồ đạc bằng gỗ đỏ như máu. Nửa đêm ông bừng tỉnh tưởng như nghe thấy thần chết gọi mình, không ngủ lại được nữa, nằm xuống cầu nguyện. Sáng hôm sau vội vàng về nhà, khi thấy hai tháp ở cổng, ông mừng rơn: thoát chết”.
Qua đoạn văn trên tôi thấy dường như đâu đó, tôi cũng đã từng rơi vào tâm trạng này. Tôi phục lăn Tolstoi tả cảnh chết. Tôi xem đó như hành trang, như bước chuẩn bị để thanh thản, không bối rối khi đương đầu với nó nay mai. Có thể là kinh nghiệm cái chết trước cái chết của bá tước Bezoukhov, cái chết của Andres, cái chết đau đớn, ghê sợ, oán hờn của Lise, cái chết của lão công tước Bolkonski luôn nghiêm khắc với con…
N.P
(*) Nhân đây tôi nói rõ, tôi không thích đọc sách trên internet nên gì thì gì tôi cũng tìm mua cho được bản in giấy. Tôi hay dừng lại giữa chừng để suy nghĩ khi đọc sách, có khi đó chỉ là những suy nghĩ linh tinh bên ngoài. Trước mỗi đoạn văn khiến tôi thích thú, tôi thường đọc đi đọc lại hai ba lần. Khi quá trình này đang diễn ra, tôi không cảm thấy phiền lòng mà thấy thú vị. Điều này chỉ có sách in trên giấy là thích hợp.
(**) Trích bài viết “Vài lời về cuốn Chiến tranh và hòa bình” của bá tước Leon Tolstoi
“Ba!” - Bà ta nói: “Tôi nghĩ hoài mà không thể nào nhớ nổi một số từ trong bài hát mà tôi thích nhất”. Bà đang ngồi khép nép trên trường kỷ, với một cái đàn guitar cũ ở trên đùi.
Người chồng 47 năm qua của bà từ nhà bếp đi vào phòng khách và hỏi: “Gì vậy mẹ?”. Đã nhiều năm trôi qua, kể từ lúc họ có cậu con trai thứ ba, ông gọi theo con, gọi bà bằng mẹ và bà cũng vậy, gọi ông bằng ba.
- Tôi không thể nào nhớ được đoạn hai của bài hát bắt đầu như thế nào?
- Vậy à! Nhưng mà mẹ đang hát bài gì chứ?
- Ba không quan tâm đến tôi rồi, Tôi đã hát bài hát này hơn 20 phút rồi mà.
George, chồng bà nhìn lên trần nhà: “Được rồi! Chúng ta cùng nghĩ nhé”. Ông đưa tay xoa vào râu cằm đã điểm bạc và nói: “Nhặt những bông hoa trong mưa” phải không bà?”.
Bà mỉm cười, dạo một khúc đàn và hỏi:
- Ông đoán phải không?
- Tôi không đoán mà tin như vậy. Đoạn hai là khi trời bắt đầu mưa, một thứ gì đó rơi trên cánh hoa.
- À ra vậy! Bà gật đầu xác nhận. Làm sao mà tôi quên mất như vậy chứ?
Bà lại chơi đàn. Những âm thanh đơn điệu từ chiếc đàn guitar bằng gỗ cũ kĩ. Và hát lại bài hát mà bà đã viết khi bà còn rất trẻ. Đó là câu chuyện của hai người yêu nhau, cùng nhau đi dạo trên đồng cỏ với đầy những khóm hoa dại đủ sắc màu. Cơn mưa mùa hạ đổ xuống bất chợt, thay vì chạy vô lều, họ lại cùng nhau đi dưới mưa nhặt những bông hoa dại. Và họ nhận ra rằng họ yêu nhau biết bao.
Năm bà 64 tuổi:
- Ba! Ông vào đây một lúc được không?
- Gì vậy mẹ? Mẹ muốn tôi làm gì?
Ông liếc nhìn lên gương mặt vợ một thoáng, và quay nhìn xuống ghế của mình - buồn bã. Ông ghét cái nhìn đó, mặc dù ông nhìn thấy nó nhiều lần như vậy đã trở nên quen thuộc. Nó là một cái nhìn của sự nhầm lẫn, một trong những nỗi lo sợ hoang mang.
- Tôi quên là tôi muốn làm gì rồi. Bà lắc đầu quay lại chổ ngồi.
- Không sao cả, rồi bà sẽ nhớ lại thôi mà.
Bà lặng im, nhìn đăm đăm phía trước mặt, trong ti vi những hình ảnh động đậy nhưng bà không nghĩ được gì hết. Sau một vài giây, bà quay đầu lại phía chồng
- Ba sẽ làm gì khi tôi quên hết mọi thứ?
- Bác sĩ nói không thể tồi tệ hơn mà
- Nhưng nếu không phải vậy? Nếu một ngày tôi tỉnh dậy mà quên hết mọi thứ thì sao hả ông?
Ông tiến lại bàn và vỗ nhẹ lên tay vợ an ủi: “Tôi sẽ luôn ở bênh cạnh nhắc bà nhớ mọi thứ mà”.
Bà ta mỉm cười và cái nhìn hoang dại cũng biến mất. Bên trên truyền hình là một chiếc áo choàng đầy hình ảnh. Toàn bộ hình ảnh của gia đình bà từ ông bà đến cháu chắt được gắn hết lên chiếc áo choàng đó. Bà không nhìn vào ti vi mà nhìn chằm chằm vào những bức hình mặc dù chúng quá xa với tầm mắt của bà. Sau một vài phút, bà nói: “Chân tôi lạnh quá. Ông lấy giúp tôi tấm chăn ra khỏi tủ quần áo?”
Năm bà 65 tuổi, nhưng bà ta nghĩ mình chỉ mới 48.
- Ông đã đổ đầy bình xăng chưa? Đi trên đường tôi không muốn dừng lại đổ xăng đâu.
Ông nhìn bà một lúc, đưa tay vén tóc mình và tiếp tục xem ti vi
- Ông không trả lời tôi sao?
- Tôi không hiểu mẹ đang nói gì?
- Thì cái thùng xăng xe đó, Ông đã đổ đầy chưa?
Ông thở dài, tắt tiếng nói chương trình mà ông đang xem về những người cổ đại ở Peru. Ông luôn muốn xem những tàn tích Inca Machu Picchu. Đã vài năm rồi, ông không đi đâu cả.
- Tại sao phải đổ xăng khi mà tôi với bà không bao giờ đi đâu ngoại trừ đi đến quầy bán thực phẩm một tuần một lần?
Bà cười và lắc đầu.
- Ông lẫn mất rồi, ông không nhớ ngày mai chúng ta rời khỏi The Grand Canyon sao?
- The Grand Canyon? Mẹ à! Chúng ta đã đi đến đó trên 15 năm rồi mà. Bà không nhớ sao?
Bà chỉ tay vào ông ngăn ông không được nói nữa. Mắt bà nhìn xa xôi, vô hồn, và ngón tay từ từ hạ xuống để dưới môi khẽ nói: “Nhưng tôi…”
Ông nhìn một lúc vào gương mặt không biểu lộ một cảm xúc nào của vợ - chứng tỏ là bà đang suy nghĩ. Ông nghĩ về Grand Canyon, nơi mà ông bà đã thăm sau khi ông về hưu non vì sức khỏe kém. Ngay ngày đầu tiên không làm việc, ông đã rút hết các khoản tiền, mua một chiếc ô tô du lịch, họ lái xe đến tất cả các miền quê, và điểm du lịch đầu tiên mà họ đến đó là hẻm núi Grand Canyon. Họ gọi đó là chuyến hành trình lớn. Sau ba năm rong chơi, từ đại dương đến nhiều nơi khác và trở lại đó một lần nữa. Ông bà cảm thấy rất vui vẻ và yêu đời trong thời gian đó.
Ông bật âm thanh chương trình mà ông yêu thích mỗi ngày. Ông cố gắng điều hòa hơi thở của mình theo nhịp đập của trái tim.
- Tôi nghe họ có những con la mà ông có thể cưỡi chúng đi vào trong hẻm núi. Ông có tin đó là sự thật không vậy?
Tay của bà để bất động trên bàn, ông nắm chặt lấy và trong tâm trí của ông, ông như nhìn thấy chính mình đang lắc lư trên mình con la trên lối mòn đầy những đá lởm chởm. Mái tóc hoa tiêu đỏ quạch và cháy nắng bởi cái nắng như thiêu như đốt của vùng sa mạc.
- Tôi chắc chắn điều đó mà. Ông đáp lời bà.
Năm bà 67 tuổi nhưng cứ nghĩ mình mới 31 tuổi.
Một bàn tay đánh thức ông dậy, ông chống người lên và nhìn vào đồng hồ. Gần 4 giờ sáng.
- Gì vậy mẹ? Có chuyện gì không ổn sao?
- Tôi cần nói với ông một vài điều.
Ông ngồi hẳn dậy và bật đèn
- Ông Wendell Thurber hôn vào môi tôi hôm nay. Bà rên lên.
- Wendell Thurber sao?
- Chúng tôi đã cùng nhau ăn trưa chỉ một thời gian ngắn gần đây thôi, và hôm nay ông ta đã hôn tôi. Bà bẽn lẽn nhìn xuống chăn. Ông ta đã làm điều đó bất ngờ đến nỗi tôi chưa kịp nhận biết điều gì đang xảy ra.
George nhớ chuyện này đã xảy ra cách đây nhiều năm trước, khi bà còn làm việc ở nhà máy để kiếm thêm tiền mua nhà vì vậy ông chỉ im lặng nhìn bà.
- George này! Tôi nói thật đó.
- Nhưng chuyện này đã xảy ra quá lâu rồi mà. Bà không còn tin tôi nữa sao?
- Tôi tin ông. Tôi tin là ông không hành động như vậy.
Vào lúc đó, ông cũng có một chút hờn ghen, nhưng chỉ có vậy thôi.
Bà lại tiếp tục nói: “Wendell Thurber ôm ghì lấy tôi, hôn tôi.” - Bà nắm chặt mền nói khẽ: “Tôi kể với ông điều này bởi vì tôi yêu ông, và chỉ yêu mỗi ông thôi mặc dù có rất nhiều người yêu tôi…”.
Bà nghĩ rằng ông sẽ nổi giận và gọi bà là người đàn bà trụy lạc, hoặc thậm chí ông rời khỏi bà. Bà cứ suy nghĩ về phản ứng của ông sẽ như thế nào khi mà bà được một người đàn ông khác hôn? Nhưng thay vì giận dữ, ông cầm lấy tay bà siết chặt và đối xử với bà dịu dàng hơn trước.
Và sau đó điều dịu kỳ đã xảy ra, ông càng dịu dàng, càng làm bà hạnh phúc bao nhiêu, bà càng yêu ông bấy nhiêu. Chính vì chuyện này mà họ nhận ra rằng họ là hai nửa hoàn hảo nhất dành cho nhau trong đời. Ông mỉm cười, kéo bà vào lòng và thì thầm: “Tôi hứa, tôi sẽ thay đổi”.
- Ông đang nói gì vậy?
Ông nhìn xuống và thấy bà dán mắt vào đồng hồ
- Bốn giờ sáng rồi. Ông dậy đi, tôi không thể ngủ được.
- Bà tắt đèn và cố gắng ngủ đi.
Bà miễn cưỡng nằm xuống quay mặt vào vách.
Ông nhìn bà một lúc, sau đó tắt đèn, căn phòng lại chìm trong bóng tối.
Năm bà 68 tuổi nhưng cứ nghĩ mình mới 23
- Tôi biết ông lấy trộm chiếc nhẫn của tôi, ông giấu nó ở đâu? Ánh mắt bà nảy lửa.
- Tôi cũng không biết nó ở đâu mẹ à! Ông đang đứng trong nhà bếp, mảnh kính vỡ từ bình cà phê xung quanh chân trần của mình.
- Ông là một kẻ nói dối.
- Chắc là bà bỏ quên nó ở đâu rồi. Bà bình tĩnh đi, chúng ta sẽ đi tìm nó mà.
Bà gào lên, ông không nghĩ những âm thanh xa lạ và khủng khiếp đó là của bà. Bà cầm lên một bát trái cây. Đưa tay lên che mặt, ông ta van xin:
- Xin mẹ đừng ném bất cứ thứ gì vào tôi nữa.
- Đừng bao giờ gọi tôi như vậy, tôi không phải là mẹ ông, ông là một người vừa già vừa xấu.
- Bà không còn nhận ra cả tôi nữa sao? Tôi là George của bà đây mà.
Bà ném cái bát lên bàn đủ mạnh để làm nứt nó.
- Ông không phải là George. Ông là một ông già xấu xí, ông đánh lừa tôi. Ông đã lấy trộm tất cả tiền của tôi và bây giờ ông lấy luôn nhẫn cưới của tôi nữa.
- Điều đó không đúng.
Bà im lặng và hơi thở mệt nhọc.
- Tôi đã trao cho bà chiếc nhẫn đó, tôi sẽ không bao giờ lấy lại nó đâu.
Hơi thở bà nhanh hơn, thở hổn hển. Trong tim của bà, chiếc nhẫn cưới khắc sâu hơn bất cứ điều gì khác.
Đột nhiên, bà quay lại và chạy ra khỏi nhà bếp. Ông nghe tiếng đóng sầm ở cửa trước. Đột nhiên ông có ý nghĩ bà sẽ lang thang trên đường phố, với cái đầu không còn nhớ gì nữa cả. Ông bật dậy chạy băng qua những mảnh chai vỡ theo sau bà. Ông đã không chạy trong nhiều năm rồi. Trái tim ông cảm thấy lớn hơn, và cồng kềnh trong lồng ngực. Ông buông bà xuống một vũng bùn trên đường vì ông bị viêm khớp nặng. Ông chỉ nắm lấy vạt áo của bà thôi. Bà vả vào mặt, đấm vào ngực ông. Ông chỉ còn đủ sức giữ chặt bà, để mặc bà vũng vẫy trong bùn lạnh. Chỉ một lúc sau, bà ngừng vùng vẫy, chỉ còn lắc lư oằn người một chút. Ông tìm cách dỗ ngọt bà đứng lên và quay trở lại nhà.
Khi bật xong hệ thống nước ấm, ông đứng dưới vòi nước cạnh bà, và dưới vòi nước phun, ông tắm gội cho bà. Bùn đất quện chặt vào mái tóc trắng và làn da trắng của bà, hòa với máu từ bàn chân dẫm lên những mảnh chai bị vỡ.
Bà nghĩ mình mới 16 tuổi.
Một ông già đang nhìn cô, nhưng cô lờ đi. Cô có nhiều điều quan trọng hơn để nghĩ tới, hơn là lo lắng, quan tâm đến một ông già.
George hôm nay sẽ đến, cô biết anh đến để tán tỉnh cô, anh đã từng thích chị gái của cô, nhưng mối tình này không đi đến đâu cả. Chị gái của cô dù xinh, nhưng George không thể không chú ý đến cô gái trẻ hơn, với mái tóc dài đen, óng ả mượt mà như cô được.
Cô nhìn ra con đường trước ngõ, một lối mòn nhão nhẹt bùn đất, từ cổng ngõ chạy xuống đồi, sau đó qua một khúc cua và mất hút sau rừng thông. Ở phía bên kia của những cây thông là cây cầu gỗ bắc ngang sông Sandy và đường ray xe lửa.
Cô quay đầu lại và thấy một ông già đang ngồi trên lối đi với tay đan chéo trên vạt áo.
- Ông muốn gì? Cô hỏi.
JASON HELMANDOLLAR và các con
Giơ tay lên một cách bất lực - ông đáp:
- Không có gì cả mẹ à. Tôi chỉ đang xem tivi thôi mà.
Cô không hiểu ông già muốn nói gì. Cô quay trở lại con đường. Anh ấy đang ở đó, anh ấy đã qua khỏi rừng thông, mặc quần Jean và áo sơ mi trắng trông rất khỏe mạnh, cường tráng. Anh đi với một dáng vẻ thư thái, anh đang vòng qua khúc cua, và sau đó vượt qua một ngọn đồi dài. Anh nhìn lên và cô vẫy tay chào. Bây giờ cô thấy trên tay anh là một bó hoa dại, cô rất thích những bông hoa này, và lời bài hát hình thành trong đầu của cô. Không còn nghi ngờ gì nữa, đây là người đàn ông mà cô sẽ yêu suốt cả cuộc đời.
- Bà đang chào ai vậy mẹ?
- Chồng tôi
- Nhưng tôi ở đây mà, sao bà chào cái bức tường?
Ông già tội nghiệp nhưng cũng tử tế. Cô quay lại và chào ông. Đáp lại bà, ông cũng đưa tay lên và nói: “Chào em yêu!”.
Bà trở lại một đứa trẻ sơ sinh…
Những khuôn mặt chập chờn bay lượn quanh nó. Nó không thể đi lại được, nhưng có thể thấy chúng. Những gương mặt không tên tuổi. Nó hầu như không còn kí ức nữa vì nó chỉ là một đứa con nít. Đôi khi cũng có những gương mặt mà kí ức mỏng manh của nó không muốn nhìn, nhưng cũng không làm nó giận. Những gương mặt mang đến cho nó niềm vui mặc dù chúng không tuổi, không tên. Nó biết rằng những người này yêu nó, và nó cũng yêu họ.
Nó thở chậm rãi - vào, ra.
Có những lúc, những gương mặt che khuất tầm nhìn của nó, những từ vô nghĩa từ những bờ môi, những giọt nước mắt lăn xuống từ những đôi mắt buồn. Nhìn nét biểu hiện trên mỗi gương mặt làm nó hạnh phúc. Cuối cùng là một gương mặt rất quen thuộc, gương mặt khắc khổ. Đôi môi quen thuộc hôn lên trán nó, nó nhìn gương mặt này và nhận ra rất gần gũi, thân thương. Gương mặt làm nó cảm thấy an lòng, và kí ức một thời quay trở lại với nó.
Bà thấy mình còn ở trong bào thai.
Nó ở trong bào thai - quanh nó là nước ấm, trong nước, không cần phải thở. Vậy là nó không còn thở nữa. Đôi mắt nó từ từ khép lại.
Bà thấy George ở phía trước, nhưng ông ở rất xa, Ông đang gập người xuống. Bà biết có khi họ không thể cùng nhau được nữa. nhưng vậy cũng tốt. Đầu của ông uốn cong xuống và ông đã bắt đầu leo lên ngọn đồi dài…
Trần Minh Nguyệt dịch
ÔM ĐÊM MỘT KHÚC RU
Ôm đêm ru mãi hao gầy
Môi trầm em thả vũng lầy riêng mang
Tuổi chiều tóc gió thênh thang
Một bờ yêu cuộn muộn màng tôi ơi
Ôm đêm trượt giữa trùng khơi
Chẳng lành áo mỏng nghe vời vợi xa
Khuyết hao một bóng trăng tà
Vừa như khâu lại phôi pha mộng thường
Ôm đêm đếm mấy mùa thương
Ngoái trông ký ức tỏ tường lòng nhau
Bấm tay nhẹ đốt như đau
Mấy lần xa khuất úa nhàu giấc mơ
Ôm đêm giấu một hững hờ
Trộn pha nỗi nhớ như chờ chực mong
Vết thời gian một rêu phong
Tựa lưng vách đá một vòng bể dâu.
DỤ ĐÊM
Dụ đêm một nguyên trinh
Thừa thiếu khi một mình
Cơn mơ lùa khe khẽ
Quờ tay... chạm cõi tình
Dụ đêm ngọt bờ môi
Ghé răng chạm bãi bồi
Có thương xin chút nắng
Cho lòng ngần ấy thôi
Lỡ dại một dụ đêm
Dấn thân với ngọt mềm
Ta chiều nhau một thoáng
Ức hiếp nhau... dài thêm.
KHÚC ĐÊM CÒN NHỊP CUNG TƠ
Khúc đêm cởi bỏ... vỡ mùa
Xuân thì còn đó tay lùa cơn mơ
Một miền tối sáng non tơ
Rong rêu phủ lối một bờ... thiên thai
Ngắn dài mấy sợi tóc mai
Ngược chiều hơi thở thương hoài trăm năm
Tình em tròn cuộc xa xăm
Vắt đêm khô cạn ăn nằm ngủ đông
Vỡ em tan với mênh mông
Giọt sương lay động khua nồng nàn đêm
Sao rơi xuống thấp ru thêm
Một thời chưa cũ như mềm lòng nhau
Khúc đêm chưa lỗi nhịp đau
Áo phai chưa lỗi lầm màu mắt xưa
Còn cho nhau mấy lần mưa
Thà như xa vắng... mà đưa mộng thường.
KHÚC ĐÊM
Khúc đêm rụng vành trăng khuyết
Vỡ hồn chăn chiếu mênh mông
Hồng phai giấc mơ mắt biếc
Niệm nhau một cõi say nồng
Khúc đêm khát mùa bồi lỡ
Thương hoài áo lụa chưa phai
Em về cạn ngày góp nhớ
Môi mềm buông giọt tình ai
Khúc đêm phiến buồn xuống thấp
Nghe như bật cúc hồn nhiên
Theo em câu thơ khuất lấp
Vẽ vời nhau giữa thôi miên.
H.C
CÁCH NHẬP COMMENT TRÊN HƯƠNG QUÊ NHÀ
Đầu tiên, nhấp chuột vào ô Nhập nhận xét của bạn rồi viết comment. Viết xong, nhấp chuột vào ô Tài khoản Google. Sau đó nhấp chuột vào Tên/URL thì sẽ hiện ra 2 ô. Ô phía trên, ghi Họ và tên của bạn. Ô phía dưới, ghi dòng chữ:huongquenha.com
Cuối cùng, nhấp chuột vào ô Tiếp tục và nhấp chuột tiếp vào ô Xuất bản là xong. (Nếu bạn đã có sẵn Tài khoản Google, thì sau khi viết comment, chỉ cần nhấp chuột vào ô Xuất bản là thành công)