Hình ảnh: BUỔI RA MẮT T/S VĂN NGHỆ AN NHƠN SỐ 10-2016










Read more…

TRANG THƠ CHỦ NHẬT: RU TÌNH - Thơ Lê Thanh Hùng



Tiếng vọng

Đêm cuống quýt
Ru tình
Bên cánh võng
Sao cứ sẻn so
Mờ mịt
Dốc đời.
Gió nam non
Gọi mời đêm
Lồng lộng
Nghe hao mòn
Rơi 
Tiếng vọng
Người ơi!
          

Gặp lại em trên bến Cà Ty

Này, chút kiêu sa còn sót lại
Mông lung chiều - sợi nắng đòng đưa
Còn đâu đó? Một thời con gái
Một vụng tình cháy bỏng: ngày xưa 
                        *
Đời lận đận, tình duyên trắc trở
Nắng, gió trên sông, lộng bóng chiều
Cứ nuối tiếc, mỗi lần gặp gỡ
Sóng bạc đầu, chấp chới lời yêu…
                       *
Còn đâu em? Mắt biếc, môi hồng
Gói gian nan trong làn tóc rối 
Xuôi dòng đời, xuồng chợ, bến sông
Đám lục bình, hợp, tan, trôi nổi… 
                      *
Sóng cửa sông, lao xao vây bủa
Câu thơ buồn như nhịp chèo đưa
Nắng tháng chín dập duềnh: Cỏ úa
Gió xuân thì réo mộng - chiều mưa
                     *
Em mong manh – tròn căng áo mỏng
Đợi chờ nhau, như độ đôi mươi
Gánh nhọc nhằn, ngược triền cát nóng
Mà hồn nhiên, trong vắt tiếng cười
                       *
Dang tay đấm, be thuyền năm cũ
Vỡ vụn ngày xưa, đến bây giờ
Thời gian trắng, mang mang quyến rũ 
... Tiếng chèo đưa, một thuở yêu người...
                                                 10-2014
          

Về nơi giấu tuổi của mình

Em chở cá qua cầu Hòa Phú
Dốc cầu cong trên bến đò xưa
Dòng sông Lũy đục dòng, tràn lũ
Lợn cợn chiều, đâu tiếng đò đưa?
                      *
Anh về quê, mà như khách lạ
Lạc nhà em, luẩn quẩn tìm đâu?
Nghe xao xác, bến chiều, chợ cá
Con nước rong, chảy xiết qua cầu
                       *
Hàng phi lao, giật mình đau đáu
Bao nhiêu năm vẫn cứ rì rào
Chỉ có hàng dừa xuôi tàu, già lão
Cũng như anh, khắc khoải, hanh hao 
                       *
Chợ tan, không kịp vén tóc xòa
Em ơi! Mình đâu còn trẻ nữa
Gió nam non, thổi từ phía cửa 
Dưới chân cầu, trôi nổi phù hoa...

          L.T.H
Read more…

NỖI BUỒN TÍM NGẮT - Truyện ngắn Nguyễn Thị Mây



Mẹ tôi có ba người con. Tư Long là đứa con út chịu nhiều bất hạnh nhưng cũng là đứa con hiếu thảo nhất. Lúc nó lên năm, trong một lần bị sốt cao được mẹ đưa vào bệnh viện cấp cứu. Người ta đã cứu sống nó nhưng một chân bỗng dưng teo tóp. Khi trở về nhà, mỗi bước đi của em tôi như đang vẽ lên mặt đường những dấu chấm phẩy nguệch ngoạc, xiêu vẹo. Mẹ tôi khóc ngày khóc đêm khi nhìn khuôn mặt ấu thơ vẫn hồn nhiên cười nói. Mẹ bảo  thằng út đã gánh hết nhọc nhằn vất vả cho hai chị. 
Có lẽ đúng như vậy. Chị  hai tôi rất xinh đẹp. Mái tóc đen dầy, mượt mà chảy dài, bồng bềnh  như một dòng suối nhỏ, ôm lấy chiếc lưng thon. Nụ cười chị duyên dáng lạ lùng, nó khiến cho khuôn mặt chị bừng sáng và làm người đối diện cũng vui vui. Chị hiền hậu, lạc quan, dễ gần nên bà con láng giềng đều quí mến. Chị hai tôi học không giỏi nhưng rất may mắn. Vừa tốt nghiệp Trung học phổ thông đã xin được việc làm và được phân công làm thư ký đánh máy. Cũng chính tại đấy, chị đã gõ những giai điệu lạ lùng vào tim ông trưởng phòng vốn có tiếng lạnh lùng. Chị làm tan chảy lớp băng giá, phục hồi nét trẻ trung trên khuôn mặt già trước tuổi của ông ta. Chị nhanh chóng xóa tan mặc cảm bị phụ tình trong lòng ông trưởng phòng và hai người đã nhanh chóng kết hôn. Họ sống rất hạnh phúc và hiện giờ định cư ở nước ngoài. 
Tôi là một cô gái xấu xí nhưng  học giỏi. Tối ngày, tôi thích chúi mũi vào trang sách hay gò lưng giải những bài toán hóc búa. Tôi mê học ngoại ngữ còn hơn các cô gái mê những bộ váy áo thời trang, xinh đẹp. Có lần nửa đêm chẳng biết mơ thấy gì mà tôi ngồi bật dậy xổ một tràng tiếng Anh làm cả nhà vừa hoảng vía vừa tức cười. Mẹ lo tôi rồi sẽ hóa điên… vì học. Và  sẽ trở thành một bà cô già dở hơi. Nhưng sau khi tốt nghiệp Đại học Sư phạm, được bổ nhiệm làm giáo viên một thời gian thì có “một gã khờ… ngọng nghịu đứng làm thơ" rồi tự phổ nhạc, gửi tặng   tôi. Những  giia  điệu tràn đầy cảm xúc yêu thương đã nhanh chóng cưa đổ… con mọt sách, lôi nó vào lãnh địa của tình yêu.  Tôi yêu mãnh liệt còn hơn chị hai và đã nhanh chóng lên xe hoa về nhà chồng. Chúng tôi  cũng rất hạnh phúc dù đời sống còn khó khăn, chật vật.
 Tư Long, em trai út của tôi cũng có khuôn mặt khá đẹp. Sóng mũi cao và mắt sâu. Dù vậy, vẫn không bù được khiếm khuyết của dáng dấp. Đôi chân khập khiểng đã đẩy em tôi vào ngõ hẹp của cuộc đời, tạo cho em tôi nỗi đau dai dẳng cho đến khi đầu bạc. Tư Long cũng chăm học nhưng kết quả thường không dược như ý. Nó viết chữ đẹp và có nhiều tài vặt. Với những phế liệu trong gia đình, nó đã chế biến chúng thành những vật dụng dễ thương, hữu ích.  Mẹ tôi bảo nó có đôi tay vàng nhưng số phận lại đen đủi. Tư Long phải chật vật lắm mới leo lên đến bậc Trung học phổ thông rồi dừng lại ở đó. Thay vì cho nó học một nghề nào đó để sau này tự nuôi sống bản thân, mẹ tôi lại lo chuyện cưới vợ cho con. Đó là sai lầm lớn nhất của mẹ. Bà chọn một cô gái cũng đẹp người nhưng ít học, chăm làm nhưng cộc tính. Dù bản chất em dâu tôi không xấu nhưng cách nói không cần suy nghĩ đã tạo cho người đối diện cảm giác bức bối, ngột ngạt không cần thiết.  Giai đoạn đầu hôn nhân của em tôi cũng hạnh phúc.  Mẹ tôi lo việc buôn bán để nuôi con và dâu. Hai đứa chỉ giúp việc nhà. Khi có con đầu lòng, em tôi mừng lắm. Nó cảm thấy hạnh phúc như nhân lên gấp mấy lần nhưng cuộc sống dần dần trở nên khó khăn. Có thêm một nhân khẩu bé xíu vậy mà nhu cầu sinh hoạt tăng lên rất nhiều. Đôi vai gầy của mẹ tôi oằn thêm gánh nặng. Mẹ không hề than thở, buồn khổ mà lạ là em dâu tôi bỗng kêu ca mình vất vả, thiếu thốn. Em tôi bắt đầu loay hoay trong mặc cảm vô dụng. Nó bắt đầu theo mẹ ra chợ kiếm sống.  Khi sương đêm còn phủ mờ cây cỏ, nó đã dậy giành dọn hàng lên xe rồi đẩy ra chợ. Mẹ tôi đi bên cạnh cứ phải nhắc chừng chỗ nầy ổ gà, chỗ kia có vũng nước đọng. Hai mẹ con buôn bán đến tối mịt mới về nhà. Rồi đứa con thứ hai ra đời, cuộc sống của em tôi bắt đầu tuột dốc, bất hạnh. Em dâu tôi thường ca cẩm, càu nhàu mỗi khi gặp mặt chồng, thậm chí còn dằn mâm, ném chén. Đến một lúc, như nước đã tràn ly, em tôi thóat ra ngoài bằng rượu. Nó bắt đầu không thích về nhà. Sau khi đẩy xe hàng   về đến đầu ngõ nó giao lại cho mẹ rồi lê la ở quán rượu cho đến khi say mèm. Nó bắt đầu biết chưởi thề, văng tục và vung tay lên khi bị vợ mắng mỏ. Để cứu vãn tình thế, mẹ tôi giao gian hàng lại cho vợ chồng Tư Long. Bà lui về nhà lo chăm sóc hai cháu. Bà nghĩ làm vậy vợ Tư Long sẽ có đồng ra đồng vào, sẽ bớt thấy khổ sở. Nhưng đó lại là sai lầm thứ hai của mẹ. Khi được trực tiếp kiếm ra tiền, em dâu tôi càng coi khinh chồng và cả mẹ chồng. Cảm thấy họ là những người đang ăn bám vào mình và tự cho mình có quyền hoạnh họe tùy thích. Cô ta thường lớn tiếng chê mẹ chồng giặt quần áo cho mình chưa sạch, ủi quần áo không thẳng nếp, nấu ăn mặn đắng. Ban đầu, mẹ khóc. Riết rồi thành quen, bà nuốt nỗi buồn vào trong tim, giấu kín không để con trai biết sợ nó khổ thêm. Nhưng cây kim trong bọc lâu ngày cũng lòi ra, thúng không thể úp miệng voi. Tiếng dữ… đồn xa. Chị hai tôi hay được, cùng chồng về thăm mẹ, cho tiền và lo thủ tục rước mẹ tôi ra nước ngoài  ở với chị. 
Mẹ đi rồi, em tôi một mình gồng gánh việc nhà. Nó trở thành một  người nội trợ giỏi giang, chăm sóc con chu đáo. Mỗi ngày, nó đưa con đến tận trường rồi mới quay về lo dọn dẹp, nấu nướng, giặt giũ... Đến giờ, lại đến trường rước con. Nó thường bảo đây là giai đoạn hạnh phúc vì đã tự đưa con những bước đi đầu tiên đến lớp. Hai đứa bé đều học giỏi, ngoan ngoãn. Em dâu tôi cũng bớt dằn vặt vì mẹ và chị thường gửi tiền cho Tư Long tiêu xài, không phải nương nhờ vợ. 
Rồi hai đứa con Tư Long trưởng thành, tốt nghiệp ra trường, có việc làm ổn định. Bỗng dưng chúng cảm thấy xấu hổ khi có một người cha chỉ biết lo việc nhà, không tự mình kiếm ra tiền. Chúng không nhớ thời thơ ấu ai đã cõng chúng vượt qua những vũng lầy dọc đường đến lớp, không nhớ ai đã thức thâu đêm chăm sóc chúng khi chúng ngã bệnh, không nhớ ai đã nhịn ăn, nhịn mặc nhường phần tiền của chị gửi cho để chúng được ăn ngon, mặc đẹp hơn. Không nhớ ai đứng dưới trời mưa tầm tã hồi hộp chờ rước chúng ở những ngày thi… Chúng không nhớ tất cả những gì em trai tôi dành cho chúng. Có lần, em tôi hỏi: "Chị ơi, đâu có đứa nào cho em tiền hay nuôi em đâu mà sao chúng lại khinh em?” .Tôi thật vụng về, không biết trả lời sao mà chỉ lặng lẽ khóc.
Sau một cơn bệnh nặng, mẹ tôi trở nên lãng trí. Bà quên hết mọi điều, mọi  thứ. Chị hai đưa mẹ hồi hương vì muốn sau này mẹ được an nghỉ nơi quê nhà. Thật lạ,  mẹ tôi lại nhận ra và nhớ tên Tư Long. Em tôi mừng quýnh. Từ đó, nó theo mẹ như hình với bóng. Nó giành việc chăm sóc mẹ già. Nó vui nỗi vui của mẹ, buồn cái buồn của mẹ.  Nó thường đưa mẹ đi dạo mát dọc bờ sông với hy vọng cảnh cũ sẽ giúp mẹ phục hồi trí nhớ. Rồi hai chân mẹ yếu dần. Chiều nào Tư Long cũng để mẹ ngồi lên xe lăn rồi đẩy dọc phố, ven sông. Mái tóc bạc phơ của mẹ và cái dáng đi khập khiểng của em tôi vẽ lên trời chiều nỗi buồn tím ngắt.
N.T.M


Read more…

ĐÂU NHÉ! - Thơ Nguyễn Minh Dũng



Ngọn cau trăng treo lại
Một thoáng buồn lung lay
Với chút hương ngần ngại
Ngỡ bóng người qua đây

Người xa… giờ xa ngái
Ký ức choàng qua vai
Tóc xanh mùa con gái
Tay lùa mấy ngón phai

Lá trầu rơi vụng dại
Đếm héo úa bên ngày
Vời vợi bờ sông ấy
Đò về đầy gió mây

Hoa cau vườn nhón dậy
Dây trầu quấn quýt cây
Xin em lần mơ thấy
Đắng cay - tôi sum vầy

Được một lần nồng cháy
Rồi từ giã cơn say
Và đắm chìm mê mãi
Thôi trái tim ai hoài

Ừ! Mình tôi giữ lấy
Đâu nhé! Nhiều ngất ngây
Có đau thương là mấy
Mà giọt lệ thương vay!

N.M.D 

Read more…

VÕNG ĐUNG ĐƯA - Tạp bút Hồ Lê Diêm



Mẹ nhờ bác Năm đóng chiếc giàn võng mới. Con càu nhàu, ra cửa hàng, không thì vào trang bán hàng online của công ty, muốn mẫu nào, có ngay mẫu nấy. Nhanh, mà lại đẹp. Mẹ cười xòa. Nụ cười kéo cái mặt khó coi của con đi chơi chỗ khác. Hai hôm sau, bác Năm khệ nệ đặt cái giàn võng trước sân nhà mẹ. 

Mẹ kéo từ trong “bao đồ cổ” ra hai sợi dây dù màu xanh lá mạ mới keng. Tích tắc, hai đầu võng được buộc khéo vào hai đầu chiếc giàn gỗ. Võng được đan bằng những sợi cước màu trắng đục, nhẹ lung lay khi có cơn gió đi ngang qua. Chiếc võng đủ sức mời gọi bất kì một đứa trẻ nào, đâu chỉ mỗi con...
Trời xế bóng, mẹ khuân cả giàn võng ra sau vườn. Nơi có những tán cây cổ thụ chụm đầu vào nhau, khiến mặt đất dưới chân mát lành lạnh, con thiếp đi lúc nào không biết. Chẳng may con quên mặc áo hay vì trời quá nóng, tấm lưng sẽ hằn in những vết lằn hình thoi từ thân võng. Cứ như một tác phẩm do tự nhiên sắp đặt, tấm lưng in hình mắc võng gợi cho người ta biết bao nhiêu nỗi niềm. Nhưng rồi, bức tranh mà tấm võng hữu ý để lại trên lưng con sẽ chóng tan biến, hệt như kí ức buổi hoa niên buồn bã quay đi mỗi lần con vùi mình vào chốn hoa phảng phất vị kim tiền. 
Mùa lạnh, mẹ đổi võng cước sang võng dù. Không như võng cước, võng dù ấm hơn, lại có hai lớp hẳn hoi. Ngày con còn bé, mỗi lần giận mẹ thường trốn trong chiếc võng dù. Con mở võng rồi nằm lọt thỏm trong ấy. Võng hệt như con sò há miệng ngoạm lấy con. Con dùng tay nắm chặc miệng võng, nước mắt nước mũi thấm ướt chiếc võng tội nghiệp. Võng vẫn cuộn lấy con, vỗ về cho đến khi đôi mắt con vừa ráo nước. 
Thế giới bên trong chiếc võng mới kì lạ làm sao. Xuyên qua lớp vải màu xanh, con thấy bầu trời và những mảng mây, vòm lá và cánh chim hệt một bức tranh đen trắng đong đầy hoài niệm. Sợ chị tranh mất võng, nên mỗi khi võng hết đung đưa, con cũng không dám hé mở miệng võng, thò chân xuống đất đưa võng. Con cứ  nằm im cho tới lúc chìm vào giấc, khi tỉnh dậy, áo đã ướt đầm đìa mồ hôi.
Giữa những ngày thơ, có buổi trưa nào ấy, con rủ cái Ty chơi oẳn tù tì đưa võng. Thua tới lần thứ năm, tức khí con đưa võng thật mạnh. Con Ty vụt tay, quăng ra xa lắc rồi im ru không mở thèm la đau như mấy lần con nhéo vào tay nó, lúc nó giành chú chuồn chuồn ngô mà con vừa tóm được. Hồn con chỉ trở lại khi nó từ từ mở mắt, cười với con: “Hôm nào Ty đưa võng bù cho nhé!”. Nhưng mẹ Ty không cho Ty chơi trò đưa võng nữa. Con lủi thủi một mình, tưởng có Ty đây, con sẽ không cần oẳn tù tì nữa, đưa võng cho nó hoài cũng được. Ba thấy con đưa chiếc võng không nhẹ hều, bèn nhỏ nhẻ với con, đưa võng không không nên đâu, để ba đưa võng cho bé nhé! 
Mẹ bày con cách buộc võng. Buộc và tháo đều đơn giản nhưng chẳng bao giờ võng bị tuột. Ngày vào vụ, con theo mẹ lên rẫy. Bên cạnh thức ăn, nước uống, mẹ thường gói chiếc võng mang theo. Con được nằm võng, ngủ ngon giấc mà không sợ bị kiến cắn hay nắng trưa làm chói mắt. Còn mẹ, mẹ trải mớ lá nghỉ lưng, tay vẫn đưa võng cho con nhanh vào giấc. 
Từng mùa bên cánh võng cứ thế trôi, trôi đi trên dòng đời yên ả. Hết ru con, mẹ lại ru cháu trên cánh võng ban sơ. Những đứa con, có khi bận lên rừng lên rẫy, bận cấy lúa, trồng rừng, gửi con cho mẹ từng ngày. Võng ru đứa bé ban trưa, lắc lư, lắc lư. Có những đứa con khác, ra phố mưu sinh, gửi con nhỏ lại cho mẹ từng mùa. Võng ru đứa bé qua ngày thơ ấu, lắc lư, lắc lư mải miết… Võng có biết mỏi không nữa!

H.L.D
Read more…

NỬA THÁNG MỘT TÁC GIẢ VÀ MỘT BÀI THƠ HAY: THẾ LỮ - Bài giới thiệu của Trịnh Bửu Hoài

Nhà thơ Thế Lữ

Kỳ 17:

T H Ế L Ữ

Thế Lữ tên thật là Nguyễn Thứ Lễ, bút hiệu của ông là nói lái từ tên thật. Ông sinh ngày 6 tháng 10 năm Đinh Mùi 1907 tại Thái Hà, Hà Nội. Mới sinh ra ông được đặt tên là Nguyễn Đình Lễ, sau đổi là Nguyễn Thứ Lễ vì là con thứ. Khi được 10 tuổi, anh trai ông qua đời ở tuổi 11, ông lại được đổi tên thành Nguyễn Đình Lễ. Ông còn có bút hiệu Lê Ta, “ta” có nghĩa là “ngã”, tức Lê-ngã-lễ.
Cha ông là sếp ga xe lửa tuyến đường Lạng Sơn – Thanh Hóa. Mẹ ông người Công giáo, kết hôn với cha ông nhưng không được bên nội thừa nhận. Thuở nhỏ, ông sống với bà nội, cha và người vợ sau cũng là vợ chính thức của cha ở Lạng Sơn. Ông phải xa mẹ khi mới vài tháng tuổi và thỉnh thoảng nới được gặp lại bà, nên trong lòng ông luôn là nỗi niềm nhớ thương mẹ.
Năm lên 8 tuổi ông học chữ Nho và lên 10 chuyển sang học chữ Quốc ngữ. Khi anh trai qua đời, ông được về ở với mẹ ruột tại Hải Phòng. Lúc nầy ông đi học tư, rồi vào lớp Đồng ấu của trường Pháp-Việt (École communale). Năm 1924 ông đậu sơ học. Mới 17 tuổi ông đã lập gia đình với bà Nguyễn Thị Khương, lớn hơn ông 2 tuổi.
Thế Lữ (bìa trái) với mẹ và em

Năm 1925 ông học Cao đẳng tiểu học Bonnal. Năm 1928 ông tham gia Việt Nam thanh niên Cách mạng đồng chí hội. Năm 1929 ông lên Hà Nội thi vào trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông dương. Học được một năm ông rời trường vì bất mãn. Ông bắt đầu viết văn, và thời gian ở vùng núi rừng Lạng Sơn với nhiều câu chuyện ma quái, kinh dị đã trở thành vốn sống để ông đưa vào tác phẩm. Hai cuốn truyện Một truyện báo thù ghê gớmTiếng hú hồn của mụ Ké được nhà xuất bản Tân Dân in ấn và phát hành.
Thế Lữ còn tham gia diễn kịch, sáng tác kịch bản và thành lập nhóm kịch Thế Lữ tại Hải Phòng vào năm 1935. Năm 1936, ông cùng một số văn nghệ sĩ như Đoàn Phú Tứ, Nguyễn Lương Ngọc, Phạm Văn Hanh, Trần Bình Lộc, Vũ Đình Liên, Nguyễn Đỗ Cung… thành lập ban kịch Tinh Hoa và báo Tinh Hoa để làm cơ quan ngôn luận. Hoạt động được một thời gian với nhiều vở diễn thành công, báo Tinh Hoa đình bản và ban kịch cũng tan rã. Thế Lữ quá mê kịch nên quay về Hải Phòng thành lập lại nhóm kịch Thế Lữ. Năm 1938, Thế Lữ kết hôn với Song Kim, một diễn viên trong nhóm kịch Thế Lữ.
Sau khi ban kịch Thế Lữ giải tán, vợ chồng ông về ở tại trại Doi thuộc làng Set. Thế Lữ tiếp tục viết kịch và cuối năm 1943, kiến trúc sư Võ Đức Diên và một số bạn bè, cọng tác viên cũ tìm đến ông ngõ ý muốn thành lập lại ban kịch. Võ Đức Diên mua lại ban kịch Thế Lữ và mời ông làm chỉ đạo nghệ thuật. Ban kịch mới mang tên Anh Vũ hoạt động khá mạnh ở Hà Nội và lưu diễn các tỉnh lân cận.
Đầu năm 1947, Thế Lữ và Song Kim lên đường sang Phú Thọ, bắt đầu tham gia kháng chiến chống Pháp. Năm 1954, vợ lớn ông Nguyễn Thị Khương cùng 3 người con di cư vào Nam, chỉ còn người con trai cả là Nguyễn Đình Nghi (1928 – 2001) ở lại Hà Nội và nối nghiệp cha, có vợ là nghệ sĩ ưu tú Mỹ Dung, diễn viên Nhà hát kịch Việt Nam.
Năm 1957, Hội Nghệ sĩ Sân khấu Việt Nam thành lập, ông là Chủ tịch đầu tiên và đảm nhiệm chức vụ nầy suốt 20 năm. Ông cũng là hội viên sáng lập Hội Nhà văn Việt Nam và sau làm Phó chủ tịch Hội liên hiệp văn học nghệ thuật Việt Nam. Thế Lữ, Song Kim, Nguyễn Đình Nghi đều được phong tặng danh hiệu Nghệ sĩ nhân dân.
Thế Lữ nghỉ hưu năm 1977. Năm 1979 ông vào thành phố Hồ Chí Minh đoàn tụ với gia đình người vợ lớn và các con. Ông mất tại đây vào ngày 3 tháng 6 năm 1989.
Thế Lữ là một nghệ sĩ đa tài, hoạt động trên nhiều lãnh vực văn học nghệ thuật. Ông là người làm việc nghiêm túc, trách nhiệm với phong cách năng nổ, khoa học, kỹ lưỡng. Tháng 3 năm 1934, Tự Lực văn đoàn chính thức thành lập, ông là một trong sáu thành viên ban đầu của nhóm. Thế Lữ là tác giả có sách xuất bản nhiều nhất ở Tự Lực văn đoàn với 12 cuốn trong 10 năm (1934 – 1943), gồm nhiều thể loại thơ, kịch, truyện… Ông để lại khoảng hơn 50 bài thơ in rải rác trên các báo Phong hóa, Ngày nay… từ trước năm 1945. Năm 1935 ông xuất bản tập Mấy vần thơ và sau đó bổ sung in thành tập Mấy vần thơ, tập mới phát hành năm 1941.
Thế Lữ là một trong những nhà thơ tiên phong của phong trào thơ mới, và cũng có thể nói ông là người khai sáng dòng thơ nầy. Thơ ông tạo được sự đồng cảm và ái mộ của người yêu thơ lúc bấy giờ: Cái thuở ban đầu lưu luyến ấy. Ngàn năm chưa dễ đã ai quên… (Lời than thở của nàng mỹ thuật).
Trong thời gian làm cho báo Indochinoise (Ý muốn của Đông dương), Thế Lữ thường đi ngang qua vườn Bách thảo Hà Nội và ông đã xúc cảm viết nên bài thơ nổi tiếng Nhớ rừng: Gặm một khối căm hờn trong cũi sắt. Ta nằm dài, trông ngày tháng dần qua… Bài thơ được nhiều người biết đến vì trước năm 1975 được đưa vào giảng dạy trong chương trình môn Việt văn ở miền Nam. Tôi xin giới thiệu cùng bạn đọc bài thơ ấn tượng nầy…

TRỊNH BỬU HOÀI

Bìa tập thơ Thế Lữ xuất bản năm 1935 do họa sĩ Trần Bình Lộc vẽ



N H Ớ R Ừ N G
(Lời con Hổ ở vườn Bách thú)

. Tặng Nguyễn Tường Tam


Gặm một khối căm hờn trong cũi sắt,
Ta nằm dài, trông ngày tháng dần qua.
Khinh lũ người kia ngạo mạn, ngẩn ngơ,
Giương mắt bé diễu oai linh rừng thẳm
Nay sa cơ, bị nhục nhằn tù hãm
Để làm trò lạ mắt, thứ đồ chơi.
Chịu ngang bầy cùng bọn gấu dở hơi,
Với cặp báo chuồng bên vô tư lự.

Ta sống mãi trong tình thương nỗi nhớ,
Thủa tung hoành, hống hách những ngày xưa.
Nhớ cảnh sơn lâm, bóng cả, cây già,
Với tiếng gió gào ngàn, với giọng nguồn hét núi,
Với khi thét khúc trường ca dữ dội
Ta bước chân lên, dõng dạc, đường hoàng,
Lượn tấm thân như sóng cuộn nhịp nhàng,
Vờn bóng âm-thầm, lá gai, cỏ sắc.
Trong hang tối, mắt thần khi đã quắc
Là khiến cho mọi vật đều im hơi.
Ta biết ta chúa tể cả muôn loài
Giữa chốn thảo hoa không tên, không tuổi. 

Nào đâu những đêm vàng bên bờ suối,
Ta say mồi đứng uống ánh trăng tan?
Đâu những ngày mưa chuyển bốn phương ngàn
Ta lặng ngắm giang san ta đổi mới?
Đâu những bình minh cây xanh nắng gội
Tiếng chim ca giấc ngủ ta tưng bừng?
Đâu những chiều lênh láng máu sau rừng
Ta đợi chết mảnh mặt trời gay gắt
Để ta chiếm lấy riêng phần bí mật?
Than ôi! thời oanh liệt nay còn đâu?

Nay ta ôm niềm uất hận ngàn thâu
Ghét những cảnh không đời nào thay đổi,
Những cảnh sửa sang, tầm thường, giả dối:
Hoa chăm, cỏ xén, lối phẳng, cây trồng;
Giải nước đen giả suối, chẳng thông dòng
Len dưới nách những mô gò thấp kém;
Dăm vừng lá hiền lành, không bí hiểm
Cũng học đòi bắt chước vẻ hoang vu
Của chốn ngàn năm cao cả, âm u.

Hỡi oai linh, cảnh nước non hùng vĩ!
Là nơi giống hùm thiêng ta ngự trị,
Nơi thênh thang ta vùng vẫy ngày xưa
Nơi ta không còn được thấy bao giờ!
Có biết chăng trong những ngày ngao ngán
Ta đang theo giấc mộng ngàn to lớn
Để hồn ta phảng phất được gần ngươi
Hỡi cảnh rừng ghê gớm của ta ơi!
1936
THẾ LỮ



Read more…

THU VÀ NỖI NHỚ - Thơ Bùi Đức Ánh



LẶNG LẼ SANG THU

Những cơn mưa bất chợt 
Những ngọn gió heo may 
Những buổi chiều thật đầy 
Đón mùa thu lặng lẽ

Anh gặp một nỗi nhớ 
Trong chiếc lá vàng khô 
Anh tìm một câu thơ 
Áo em ngày lụa mỏng

Như lời ai hò hẹn 
Trong sớm mai tựu trường 
Nghe bồng bềnh mây trắng 
Bảng lảng bao niềm thương!

ĐÊM THU

“Phố đã khuya rồi, ngõ đã thu
Trăng lại về râm tan một cõi
Ta nhớ ai mà đêm ái ngại
Nghiêng bóng dáng người xuống cô đơn!”

CHIỀU THU

Chiều thu đi biệt bến đò
Bao nhiêu kỷ niệm tàn tro bay về
 Một thuyền mãi mãi đắm mê
Một thăm thẳm gió đã tê tái lòng
Biết người có nhớ gì không
Sao con nước cũ bỏ dòng sông xưa?
Biết mình đã bớt đau chưa
Sao nghe rơi lặng hạt mưa tủi hờn?
Thì đành đứng lặng hoàng hôn
Thì đành buông bỏ những cơn cớ tình!



MỘT SỚM THU SANG

Mùa thu đang đứng ngoài hiên vắng
Lá vàng làm khách ghé qua sân
Ta trải lòng mình theo mây trắng
Ngọn gió đa tình cũng bâng khuâng!

Mùa thu một bóng chim qua núi
Rơi tiếng hót buồn ở lại đây
Mùa thu hẹn ai chiều mê mải
Bước dọc phố dài những heo may!


PHỐ ĐÃ THU VÀNG 

Lá thu đã vàng theo nỗi nhớ
Sao em chưa về ở bên tôi 
Dòng năm mười năm biền biệt sóng 
Còn chút đợi chờ bất tận trôi!

Heo may trễ nải ngày ta vắng 
Heo may trễ nải ngày ta buồn 
Chẳng nỡ trách nhau trong im lặng 
Khói chiều bay muộn cả hoàng hôn

Dành dụm bao nhiêu ngày bịn rịn
Em tiễn tôi đi giữa phố gầy 
Biết mùa không trả lời mây trắng 
Người dưng hò hẹn với mưa bay!


LỤC BÁT CUỐI THU 

Hình như trời đã chớm đông 
Heo may dẫu muộn cũng không lỡ làng 
Từ tôi cất bước lang thang 
Từ em bến cũ mơ màng tiếng ca 
Thu đăm đắm, thu nhạt nhòa 
Những lời ru vắng như xa như gần 
Chiều đưa ngơ ngác đôi chân
Tìm nhau cuối nẻo lạc vần thơ xưa
Nghe chầm chậm mái hiên mưa 
Một miền ký ức đã mờ chiêm bao!

BIẾN KHÚC MÙA THU

Nhìn dòng sông trôi theo gió 
Biết mùa đã bắt đầu thu 
Tiếng chèo thật êm thật nhẹ 
Ru tình một giấc ngủ trưa

Có phải em màu lá cũ 
Nhắc tôi năm tháng dịu dàng 
Có phải em màu nắng mới 
Nhắc tôi phúc phận đa mang

Khi chiều ghé qua bến vắng
Thì mây cũng biết ngập ngừng
Khi em thờ ơ quay gót
Tôi buồn thăm thẳm người dưng!

B.Đ.A
Read more…

MÙA HÈ TUỔI THƠ - Tạp bút Nguyễn Thị Diệu Hiền


Tuổi thơ của thế hệ 6x, 7x, sau hồi trống vang ngân của lễ bế giảng là học trò xem như được “giã từ vũ khí”. Những  cuốn vở được xếp lại, cất kỹ trong ngăn bàn. Sách bút thân yêu ngủ yên đúng ba tháng hè, trong lời ru ra rả vang ngân khắp trời của tiếng ve.
Mùa hè tuổi thơ mở ra trước lũ học trò nhà quê khoảng không gian ăm ắp niềm vui ngọt ngào và thú vị quá đỗi... Bình minh vừa hé rạng là trong xóm đã có tiếng í ới gọi nhau đưa trâu bò ra đồng. Thích nhất là được ngồi vắt vẻo trên lưng những con vật vừa chăm chỉ, vừa hiền lành này mà thổi sáo, mà ngắm mây trôi. Chiều chiều, trời xanh vời vợi, vài đám mây trắng lang thang bồng bềnh, đồng quê lộng gió, gửi theo những cánh diều tự chế bằng nan tre, giấy và hồ dán bằng cơm nguội là bao nhiêu ước vọng tuổi thơ bay bổng, trong sáng làm sao. Cánh đồng sau mùa gặt xong thơm ngát mùi rơm rạ. Ở đó, trẻ con vừa chăn bò, vừa chơi những trò rất hồn nhiên: “rồng rắn đi đâu”, tít te (trốn tìm), đánh trận bằng súng tre mà đạn là hạt cà gai. Rất nhiều trận đánh gay cấn mà chiến hào là những bờ ruộng quanh queo, những tảng đá phơi mình cùng năm tháng. Và cả những “chiến binh” bị thương, sứt đầu mẻ trán do mải mê chiến đấu mà quên mất địa hình gập ghềnh của ruộng bậc thang.
Mùa hè tuổi thơ, những buổi trưa oi nồng, bị ép phải ngủ trưa, nhưng chị em chúng tôi lại thường lén ba mẹ lên rẫy vơ củi, hái mít, bắt ve. Trên đường đi, “ghé thăm” cây dâu đất bà Tưu, thưởng thức từng chùm dâu từ khi trái non đến khi chín ngọt, tạt ngang vườn ông Toàn hái hoa Huệ nở muộn, băng qua mấy đám ruộng hố eo óc nữa là đến rẫy. Nghe mùi thơm sực nức tỏa ra từ bụi chuối chỗ chòm đá là biết trái mít giấu hôm trước đã chín. Và thế là… mấy chị em xúm vào “xử”. Hình như mùi thơm nồng nàn của mít là hương vị đặc trưng nhất của mùa rộn rã tiếng ve? Những múi mít vàng tươm, ngọt lịm. Cảm giác không gì có thể tuyệt hơn nữa. Lũ trẻ xóm tôi cũng vậy, buổi trưa thường đi chơi khắp xóm: lấy cây sào cuộn mủ mít chấm ve ve, chơi thẻ, bắn bi, ném cù, nhảy dây, đố lá… Bao nhiêu là trò chơi thú vị, vui nhộn mà chẳng liên quan gì đến bạo lực, tiền bạc. Cũng có thể gọi đó là những trò chơi… trong veo. Những niềm vui chân quê  ấy thật ngọt ngào, lãng mạn, nó nuôi dưỡng tâm hồn biết bao thế hệ người Việt và khơi gợi những ước mơ bình dị, dịu dàng mà cháy bỏng của tuổi học trò.
Nhưng tất cả giờ chỉ là hoài niệm. Chợt chạnh lòng khi nghĩ đến mùa hè của tuổi thơ ở những thập niên đầu thế kỷ XXI. 
Trẻ thơ bây giờ dường như không có mùa hè, không được nghỉ hè. Sau lễ bế giảng là lịch học hè dày đặc. Đa số phụ huynh đều cảm thấy không yên tâm khi cho con nghỉ hè. Vì sợ con mình thua kém bạn bè, tiếp thu không kịp chương trình học. Với các viên chức làm việc giờ hành chính, để con đi học hè  là vừa có thêm kiến thức, vừa đỡ thời gian la cà quán net. Với giáo viên, nhiều người cũng bối rối, không biết nên hay không nên cho con đi học hè? Thôi thì cứ học cho… an toàn! Và như thế, các em phải học suốt năm suốt tháng, bao kỹ năng sống không được rèn luyện, bao trò chơi thú vị bị lãng quên và mai một. Thay vào những thú vui ruộng đồng là những trò chơi điện tử, là facebook, Zalo… làm cho con người sống lơ đãng vì mãi đắm chìm vào thế giới ảo.
Làm thế nào trả lại cho tuổi thơ mùa hè với đủ đầy ý nghĩa? Làm sao cho các em tìm lại được hình ảnh “con cò trắng bay qua câu ca dao ngọt ngào”, vẻ lung linh của giọt sương trên lá,  của đóa sen hồng rực rỡ, thơm ngát mỗi sớm mai, của chùm hoa dẻ nồng nàn ven đường làng khi chiều buông xuống, của những đêm trăng quá đỗi bình yên ???
Có lẽ, các bậc phụ huynh cần thay đổi cách nghĩ, để tuổi thơ được tận hưởng mùa hè đúng nghĩa như thi sĩ Xuân Tâm từng hào hứng:
Sung sướng quá, giờ cuối cùng đã hết
                                   Đoàn trai non hớn hở kéo nhau về
Chín mươi ngày nhảy nhót ở miền quê
                                   Ôi tất cả mùa xuân trong mùa hạ…

N.T.D.H (Quảng Nam)
Read more…

BIẾT PHẢI KÊU AI? - Truyện ngắn Vũ Thị Huyền Trang



Chị bị tai nạn lúc ba mẹ con dàn hàng ngang đi bộ qua đường. Một chiếc xe máy chết tiệt nào đó vượt đèn đỏ phi nhanh đã đâm thẳng vào chị. Chị ngã đập mặt xuống đất máu me be bét. Trong cơn hoảng loạn chị chỉ còn nghe thấy tiếng khóc của hai đứa trẻ, mọi thứ xung quanh cứ ù đi. Người ta xúm lại rất đông hỏi han dồn dập. Trong giây phút ấy chị nghĩ đến mẹ đầu tiên chứ không phải là chồng mình, cũng chẳng phải gã người tình lâu năm hay những cô bạn thân thường hẹn hò cà phê sớm tối. Chị nhờ ai đó bấm dùm số điện thoại rồi chỉ chờ bên kia vang lên giọng nói quen thuộc là òa khóc gọi “mẹ ơi”. Dù mẹ con chị tính tình xung khắc, câu trước câu sau có khi đã cãi nhau. Thậm chí đã có lần chị tính “từ mặt” mẹ ít bữa cho bà già bỏ cái tính hay xét nét con cháu trong nhà. Vậy nhưng lúc hoạn nạn chị cũng như bao nhiêu người con khác luôn nghĩ đến mẹ đầu tiên. Chỉ có mẹ là không bỏ rơi con mình dù trong bất cứ hoàn cảnh nào. Qua câu chuyện của chị, tôi cứ tự hỏi nếu chẳng may mình bị tai nạn giữa đường thì sẽ gọi cho ai? Câu hỏi đó xoáy vào tâm trí tôi hình trôn ốc. Mãi không thấy điểm dừng…
Tôi chắc chắn không thể gọi cho mẹ vì mẹ ở quá xa. Với khoảng cách gần hai trăm cây số nếu có gọi mẹ cũng chẳng thể chạy đến bên tôi ngay được. Gọi chồng ư? Biết lúc đó anh tỉnh hay say mà gọi? Đã bao lần con ốm giữa đêm tôi bấm số gọi chồng trong tuyệt vọng. Những cơn say nhấn chìm anh ở một nơi nào đó. Có thể là quán vắng hoặc biết đâu chăn ấm đệm êm của bồ nhí cũng nên. Bạn bè thì có thể đang đón con, đang bận họp, đang đi công tác tỉnh xa. Cũng có khi đang bận vào bếp nấu cơm cho chồng con cũng là cái cớ chính đáng để bạn từ chối chạy ngay đến bên mình. Tôi không có người tình cũng chẳng biết liệu có ai thương thầm trộm nhớ để mà nhờ cậy. Đấy là trường hợp còn tỉnh táo, cầm điện thoại trong tay còn không biết gọi ai. Nếu va đập mạnh mà điện thoại vỡ tan, hoặc ai đó đã thừa cơ nhặt mất thì lúc ấy đúng là chịu chết. Vì trí nhớ của tôi vốn quá tồi, các loại mật khẩu tài khoản đều phải ghi ra sổ. Nó không có chỗ dành cho những dãy số. Hơn mười năm dùng điện thoại tôi chỉ nhớ được số của mình và của người yêu cũ. Mối tình đầu đã sáu năm không gặp cũng không một lời thăm hỏi lẫn nhau. Không lẽ vào một ngày đẹp trời, khi anh ta còn đang mải vui vầy với vợ con thì nhận được cuộc gọi của người yêu cũ báo tin tai nạn. Vợ anh ta sẽ hỏi “ủa, chị ấy không còn ai để gọi nữa sao?”. Biết đâu cô ấy sẽ nghi ngờ “hai người này chắc chắn còn thậm thụt qua lại với nhau”. Vô duyên cho mình và khó xử cho người xưa hết sức. 
Câu hỏi “nếu chẳng may bị tai nạn giữa đường thì biết phải kêu ai?” cứ văng vẳng bên tai tôi mấy ngày nay. Ngay cả lúc nấu cháo cho con, khâu áo cho chồng, tưới rau trên sân thượng. Sáng bước chân ra khỏi cửa là vội vàng sờ xem liệu có quên mang theo điện thoại. Cuốn sổ bé bằng bàn tay thường để ghi kế hoạch chi tiêu cũng mới được ghi đè lên trang bìa số điện thoại và địa chỉ nhà riêng. Để lỡ có ngã lăn ra bất tỉnh thì người ta cũng biết mình là ai, ở đâu mà báo tin về. Vì vẫn chưa thể trả lời được câu hỏi ấy nên những lúc đi bộ sang đường, lúc quay đầu xe giữa ngã tư tôi đều phải cẩn trọng quá mức. Tốt nhất là không nên để mình vướng phải những hiểm nguy rình rập. Khi thừa biết bản thân vốn cô đơn giữa thành phố náo nhiệt này. Chị nghe kể thì cười như nắc nẻ:
- Những điều xúi quẩy vốn làm gì có mắt. Đâu phải tránh là được, thong thả đứng trên vỉa hè có khi vẫn bị thằng say rượu nào đó đâm ngã bổ chỏng. Mà vận hạn cũng không biết thông cảm cho ai. Nên ráng tìm lấy một người tin cậy mà nhờ…
- Giá mà các con lớn hơn…
- Thôi… con em còn quá nhỏ. Chờ con lớn thì em cũng đã già. Nghe chị, xem có ai thương mình mà cặp bồ đi.
Cả đêm qua trằn trọc chờ chồng đi nhậu về tôi cứ nghĩ đến cuộc điện thoại hồi chiều với chị. Cửa khóa ba bốn lớp vẫn không sao ngăn nổi nỗi bất an đen đặc ngoài kia. Một tuần bảy ngày thì chồng say sáu. Tôi đã phá hỏng chuông cửa vì không chịu nổi cảnh người say khật khưỡng bấm chuông inh ỏi. Tường nhà sát nhau, hàng xóm suốt ngày càu nhàu “sao chồng cô cứ hay về muộn?”. Đám trẻ con nhiều lần tỉnh giấc khóc toáng trong đêm còn tôi thì hết dỗ con lại lau chỗ nôn mửa của chồng. Cũng có khi chồng không về, đi một mạch vài ngày rồi lại trở về bằng một cơn say khác. Lý do của chồng lúc nào cũng chính đáng “anh phải tiếp khách hàng. Em tưởng uống nhiều mà sướng à. Cực bỏ mẹ”. Lương hàng tháng chồng bao giờ cũng chỉ đưa một nửa. Còn một nửa để dành đãi nhau bia bọt. Hoặc như chị vẫn bảo “em khờ thật, có khi nó mang tiền đi cho gái cũng nên”. Có lần hai mẹ con ốm nằm ôm nhau, điện cho chồng về nấu hộ nồi cháo nóng. Nhưng lúc chồng mò được về nhà thì con đã khỏi sốt còn vợ thì xách nước lau hết mấy tầng nhà. Chồng cười bảo “vắng anh mà vẫn ổn cả đấy thôi”. Nên nếu có ngã sõng soài ở ngoài đường, đợi chồng chạy nên nơi có khi quá muộn. Mà cần gì nói chuyện ngoài đường. Giả dụ nhà có cháy thì chắc chồng vẫn nằm gáy ầm ầm. Con người đó quen sống trong cơn say, tệ đến mức quên lúc nào mình tỉnh.

Nửa đêm sau khi đã vén màn cho tụi nhỏ ngủ tôi ra balcon ngồi. Trời bắt đầu có sương nếu ngồi lâu cơ thể sẽ lạnh toát như một mầm cây trong đêm đông. Thành phố đỏ đèn, vài ô cửa hiện ra sự sum vầy đầm ấm. Hàng bánh bao len lỏi khắp các ngõ ngách nên tiếng rao cũng đôi khi thắt nghẹn ở một khúc cua nào đó. Giá giờ này chồng về tôi sẽ xuống bếp nấu một món ngon nào đó. Cùng kể với nhau những câu chuyện trong ngày. Mỗi ngày có biết bao thứ cần chia sẻ tôi không biết phải nói với ai. Tất cả đều gói ghém cất đi trong những đêm mất ngủ. Đời sống ngoài kia có biết bao nhiêu bất ổn mà sao anh vẫn cứ mải mê. Sự yên ổn nơi này đang chờ đợi từng giờ nhưng anh lại không thèm đoái hoài, đếm xỉa. Trong thành phố bắt đầu xuất hiện những vụ cướp đêm, say như anh làm sao chống đỡ? Đêm nào cũng vậy, đến tận khi nghe thấy tiếng xe dừng ở cổng. Nhìn thấy anh khật khưỡng bước vào nhà tôi mới có thể thở phào nhẹ nhõm. Anh có mệnh hệ gì mẹ con tôi biết phải sống sao? Dù cho sáng nào anh cũng chỉ vội vàng hôn hít các con. Dù điện hỏng, xe hư anh chưa bao giờ thò tay sửa chữa. Dù con cái học hành thế nào anh chưa từng ngó ngàng. Ngày giỗ chạp hai bên gia đình anh bảo “chuyện của đàn bà”. Nhưng dẫu sao anh vẫn cả là cái bóng để mẹ con tôi dựa vào mà sống. 
Tôi trở vào giường nằm bên cạnh các con. Cố gắng dỗ dành mình ngủ ngoan giữa chăn ấm đệm êm bởi vì đêm chẳng mấy mà sẽ cạn. Nhưng tiếng còi xe cứu thương bỗng vang lên rờn rợn. Tôi cảm giác như cái lạnh đang luồn lách trong từng mạch máu, chạy dọc sống lưng lên tận đỉnh đầu. Giờ này không biết chồng còn tỉnh hay say? Có định về nhà hay kiếm một chỗ nào ngủ tạm? Tiếng còi cứu thương giữa đêm thường mang đến dự cảm bất an. Tôi vừa lo lắng cho chồng vừa thương mình của những ngày phía trước. Đúng là kiểu bất an để dành của đàn bà bé mọn. Câu hỏi cũ lại xoáy tròn trong trí óc. Nếu chẳng may bị tai nạn giữa đường thì biết gọi cho ai? Giả dụ bây giờ tôi thử gọi cho một vài người. Thử hốt hoảng kêu cứu  rồi chờ xem phản ứng của họ ra sao? Tất nhiên đó là một ý nghĩ điên rồ. Sẽ chẳng ai tha thứ cho kẻ thích đùa vào một ngày không phải cá tháng tư. Mà giờ này có thể họ đã ngủ hết rồi. Họ cần được tôn trọng sự bình yên ít ỏi cuối ngày. Chỉ thương nỗi bất an của đàn bà yếu mềm và tội nghiệp. Tôi cũng chẳng đủ can đảm để làm một phép thử. Vì sợ giống những người vợ từng thử độ chung thủy của chồng bằng việc nhờ một cô nào đó vờ lẳng lơ tán tỉnh thử xem. Kết quả là chồng mình mê đắm người ta, trả lại cho phép thử một cái kết toàn vị đắng. 

Sau một đêm ngồi lục tung danh bạ tôi nhận ra có bao nhiêu mối quan hệ tồn tại bấy lâu nay chẳng biết để làm gì. Có cũng được mà không cũng chẳng sao. Lúc nào cần thì gọi đến nhau còn thì để lãng quên theo năm tháng. Giả dụ một hôm nào đó, bỗng một người trong số họ nhận được cuộc điện thoại từ số của tôi. Cái giọng lạ hoắc của một người đi đường tốt bụng sẽ ấp úng hỏi “anh/chị có quen số thuê bao này không? Cô ấy bị tai nạn trên đường. Tôi thấy trong danh bạ có số của anh/chị nên gọi điện”. Người đi đường tốt bụng cũng không biết cái cô bị tai nạn ấy tên gì. Mà người nhận cuộc điện thoại có thể đã xóa số của tôi hoặc đã thay máy mà quên lưu số. Họ sẽ mất cả buổi sáng bần thần để nghĩ xem người bị tai nạn ấy là ai. Ôi giá như không phải đang sống giữa thành phố xa xôi, mà mở mắt ra đã thấy quê nhà gần gũi. Thì đi đâu, làm gì cũng không còn thấy sợ. Mẹ có lẽ đã dự cảm trước được những bất an. Nên lần đầu xuống thăm tôi mẹ dặn “bán anh em xa mua láng giềng gần”. Láng giềng của tôi là chị bán bánh cuốn đầu ngõ vẫn xởi lởi mỗi khi tụi nhỏ ghé ăn. Là anh chị cảnh sát biển có vẻ sống khép kín nhưng tính tình hòa nhã. Là bác xe ôm thỉnh thoảng vẫn giúp tôi đón thằng nhỏ ở trường về. Nhà bác rộng, cây cối tốt tươi. Mùa nào vợ bác cũng mang cho bọn nhỏ vài thứ quả. Tôi vẫn hay ghé qua chơi tiện thể mua ít rau sạch, đặt làm mắm cáy, dặn bác nhặt góp cho vài chục trứng gà. Cũng có khi biết tụi nhỏ nhà tôi ốm, bác thường chạy sang đưa cho ít gừng với mật ong chữa ho, mấy nắm lá xông cảm, ít cây huyết dụ giống dặn “trồng đi”… Rồi lần nào tụi nhỏ qua đấy chơi hai bác cũng giữ lại dùng cơm bằng được. Giả dụ mẹ con tôi có làm sao chắc gọi một câu hai bác sẽ là người chạy đến.

Tôi ứa nước mắt khi thấy mình phải bấu víu vào tình thương của những người dưng. Nhưng dẫu sao nơi này nhờ họ mà vẫn còn ấm áp. Tôi nằm quay lại phía các con khẽ vòng tay ôm chúng. Đêm ngoài kia đã lạnh lắm rồi, những tiếng rao đêm xa dần rồi nín lặng. Tôi xua đi những ý nghĩ vụn vặt của ngày để tận hưởng giây phút bình yên này. Khi nghe thấy tiếng hai đứa trẻ thở đều đều, da thịt chúng lúc nào cũng thơm mùi nắng ấm…

V.T.H.T (Hà Nội)
Read more…

NHỚ BIỂN - Truyện ngắn Hòa Văn



Tôi thật sự nhớ biển nơi chắc tôi sống suốt đời, biển của tôi nổi tiếng trong xanh và thông thoáng bãi cát trải dài vô tận sân rất nhiều nhà của xóm bãi Ngang.

Nhớ biển nỗi nhớ cồn cào, phải chi như trước đây có một dạo do công việc phải xa biển chỉ cần điện chú Tú đem chiếc điện thoại ra bờ biển kết nối wechat hay viber là hình ảnh biển hiện lên màn hình của tôi sau đó tiếng sóng của biển lúc cuồng nhiệt lúc nhẹ nhàng vỗ bờ tôi đều nghe nghe rõ mồn một, khi thì nhìn những cây dừa đã hàng chục năm rễ bám chắc cát khô khốc lá vẫn xanh màu xanh có mùi vị mặn của muối một vị không dễ nhìn nhận nếu không sinh ra từ vùng cát biển... Đàng này tôi hiện đang sống cùng biển sống cùng bà mẹ biển  mà nhớ biển! 

Ba mất khi tôi lên mười ba, cái tuổi bây giờ mới biết là mốc giới hạn khó khăn với đời một người!
Ngày còn sống ba bám biển lúc đầu ba đi bạn cho chú Lân, về sau ba vay thêm tiền ngân hàng đóng thuyền kêu bạn ra khơi xa đánh bắt cá tôm...
Mỗi chuyến đi biển dài lắm là tôi mường tượng như vậy chứ mỗi lần ba về bờ ba hay bảo "lẹ thiệt mới đó mà gần tháng".
Mẹ thì nói "có ông ra ngoãi ham con cá con tôm quá mà quên ngày ngắn đêm dài!".
Lúc ấy tôi nghe chỉ nghe chưa biết ẩn ý của lời mẹ giờ nhớ ba tôi nhìn mẹ lại rất thương mẹ. "Có chồng đi biển hồn treo cột buồm" chính xác trên chính xác!
Còn ba còn thuyền còn bạn... mẹ hôm nghe tin ba nằm lại với biển trong cơn bão... mẹ không khóc chỉ lấy hai bàn tay cào liên hồi xuống bãi cát, ai nhìn bốn mẹ con tôi cũng ứa nước mắt, bác tôi khóc rất to.
"Ôi trời cao biển rộng!"
Bác dứt khóc lại ré lên như vậy.
Mười ba tuổi lần đầu biết nỗi đau khi mất đi người ruột thịt nhưng tuổi non dại nỗi đau dễ lắng xuống chỉ còn đọng lại ở đôi mắt buồn...
Nỗi đau thứ hai cũng ở biển. Năm ấy người anh trai tôi đang làm nhiệm vụ bảo vệ bờ cõi Tổ quốc trên đảo... đã hy sinh không phải với ai xa lạ... Mẹ thêm nỗi nhớ biển. 

Giờ biển chết một phần! Con người như hạt cát của biển nhiều khi tôi nghĩ như vậy. Hạt cát bị chính sóng biển và con người hủy hoại.

Mẹ nhắc:

"Sắp tới ngày giỗ ba rồi, vợ chồng Út Tú đề nghị về nhà nó làm đám".
Vợ tôi có vẻ lưỡng lự.
Mẹ hỏi:

"Ý con mần răng?"

"Dạ cứ theo ý mẹ, để vợ chồng các con lo"

Tối nay cả nhà tôi ra biển, biển không còn như xưa nữa rồi, biển tự xô và lôi cát. Không tự xô và lôi cát ra biển thì ai làm như vậy! Ngày xưa biển có bờ cát thoai thoải phẳng lì với rất nhiều hàng xây dừa đẹp và mát vô cùng giờ bờ biển dựng đứng sâu hoắm.
Tôi nhắm nghiền đôi mắt, lạnh người...
Tú nói:

"May mà em sớm di dời nhà cửa chứ nếu còn ở đây - Tú vừa nói vừa chỉ ra biển khơi - không biết đâu mà lường"

Tôi ậm ự chia sẻ nỗi niềm của Tú và cũng chính của tôi, biển phải có bờ thoai thoải có cây dừa... mới thấy bình yên, còn như hiện giờ tại đây biển sống như chết con người nhất định là xúc tác to lớn gây nên sự thể này. Tôi nghĩ bụng. Lần nào cũng vậy đêm trước đám giỗ ba,  mẹ cũng muốn nhìn thấy biển không rõ mẹ đang suy nghĩ gì mà chắc mẹ mong hồn thiêng của ba phò hộ anh em tôi. Điều mà lâu nay mẹ tin là nhất định như vậy. Mẹ kể về ba với cả niềm thương và tự hào. Tôi sung sướng nhất về điều nầy. Có người bảo so với vợ chồng sống trên đất liền vợ chồng ở biển thương yêu nhau hơn nhiều, với ba mẹ tôi là trúng. Ba chân chất nhưng đầy ý chí nghị lực, rất tiếc bão biển đã không cho ba thực hiện những hoài bão mà tôi tin ba làm được.

Sáng nay ngủ dậy mới hay trong đêm qua tôi mơ. Giấc mơ về biển về một phần không thể thiếu của đất nước.
Trong cơn mơ ba tôi nói:

"Nếu đất nước là ngôi nhà thì biến là cánh cửa. Không có biển không còn gì"

Tôi tin lời ba vì nhiều lẽ mà chắc chắn ai ai cũng biết.
"Đường bờ biển nước ta dài trên 3260 km kéo dài từ Móng Cái đến Hà Tiên. Vươn trải ra hướng đông, ta có trên 3000 hòn đảo lớn nhỏ. Từ thuở đội hùng binh Lý Sơn mang gươm vẽ biển ta có Hoàng Sa, Trường Sa với bao đảo nổi đảo chìm. Biển như lòng mẹ bao la mang đến cho ta bao nguồn lợi thủy hải sản, nhiều cảnh quan thiên nhiên tươi đẹp. Biển chứa chan tình yêu thương vẫn ngày đêm vỗ sóng vào bờ". Ở đất liền biển xói lở. Rồi biến  đang nhiễm độc. Bốn tỉnh miền Trung với hơn hàng trăm kilômet biển cá chết trắng bờ sau ba tháng trường kẻ gây hại lộ diện môi trường biển, hệ sinh thái, an sinh của xã hội bị hủy hoại hậu họa sẽ không chỉ ngày một ngày hai...
"Rừng vàng biển bạc" thế này? Nỗi đau của biển không tính bằng tiền bạc mà không tính thì làm sao?
Câu hỏi không dễ trả lời.


H.V
Read more…

CÓ MỘT VẾT THƯƠNG CHỐN ĐỒNG RUỘNG - Bài của Nguyễn Văn Toan



  1. Nguyễn Văn Học có một lối viết nhẹ nhàng, tỉnh khô nhưng cũng đầy ám ảnh. Đọc truyện của anh, độc giả không chỉ được chìm trong những câu văn đẹp đẽ về con người và phong cảnh miền quê Việt Nam mà còn bị ám ảnh bởi những lớp nghĩa ẩn mà tác giả muốn truyền tải.

Trong giai đoạn hiện nay dường như các tác phẩm văn chương phản ánh đề tài nông thôn và đặc biệt khắc họa sâu vào những nỗi đau mới của đồng chiêm mùa trũng đang vắng bóng. Vết thương hoa hồng là tác phẩm chạm được vào những vấn đề đang nhức nhối của những miền quê đang đứng trước sự thay đổi diện mạo từng ngày. Qua lăng kính của tác giả bất kỳ ai cũng sẽ thấy những thân phận và các vấn đề mới của nông thôn được miêu tả hết sức uyển chuyển và không kém phần đau đớn.
Để khắc họa được những nỗi đau mà nông thôn đang từng ngày gánh chịu, tác giả đã khéo léo sử dụng hình ảnh vết thương đậm chất huyền ảo. Nhân vật chính là Hoa - cô gái sinh ra và lớn lên ở một miền quê Bắc bộ, thông minh và xinh đẹp nổi trội, trong cô chứa đầy hoài bão tươi đẹp cho tương lai. Số mệnh nghiệt ngã lại đẩy cô đến một bi kịch, đang từ một cô gái xinh đẹp và yêu đời bỗng nhiên nhan sắc và cả tương lai rộng mở bị hủy hoại. “Hồng nhan thì bạc mệnh” người xưa đã nói vậy. Với Hoa mọi chuyện còn hơn thế. Từ đây cuộc đời cô chìm vào một nỗi bất hạnh với một vết thương kỳ dị. Hình ảnh vết thương như rễ cây không thể chữa trị trên mặt cô là nỗi ám ảnh xuyên suốt không chỉ gây đau khổ cho cô và gia đình nó còn là nỗi ám ảnh của cả dân làng. 
Nếu cốt truyện của Vết thương hoa hồng chỉ  có vậy sẽ chẳng có nhiều điều để nói, nhưng qua những biến cố cuộc đời hay những vết thương thể xác và tâm hồn mà Hoa phải chịu đựng, người đọc sẽ thấy được những dự báo và cả cái nhìn về tổn thương của nông thôn trong thời đại mới. Trong bất kỳ hoàn cảnh nào thì người nông dân thấp cổ bé họng vẫn là những người chịu thiệt thòi nhất. Đó là ông bà Chiến - cha mẹ của Hoa chỉ biết than khóc và nhận lấy sự phóng tay bằng tiền bạc để bịt miệng của hai cha con Tích khi con gái bị cưỡng bức. Là hai vợ chồng anh Bỉnh, chị Hiền cùng đường phải tự mình vùng lên dùng vũ lực để chống lại cái ác nhưng kết cục thê thảm. 
Những con người chân chất chỉ mong yên ổn cấy cày trên quê hương đồng ruộng mình họ thật đáng thương trước những kẻ có quyền thế và tham lam. Không ai bênh vực và bảo vệ, cuộc sống của họ chìm trong sự tủi nhục và o ép bất công. Hai mẹ con bà Nắng, cái Vẹt phải bỏ xứ ra đi dù họ đã phải sống chui nhủi và bị dân làng ghẻ lạnh ở nơi người ta gọi là gò hủi. Hay như anh Tõn cũng phải tha hương kiếm sống chỉ vì có khả năng dị biệt hơn người.
Tất cả họ muốn yên ổn và được sống bình thường chỉ còn cách rời khỏi mảnh đất quê hương mình đó là nỗi đau của sự yếu thế đến cùng cực.
Tích và bố hắn - chủ tịch Hỗn là đại diện cho thế lực cường hào ác ba thời hiện đại. Lợi dụng chức quyền và sức mạnh của tiền bạc, hai bố con hắn đã gieo rắc đau khổ lên những thân phận thấp cổ bé họng. Và vì lòng tham họ chà đạp lên những giá trị nhân đạo, phẩm hạnh của những người dân chân chất. Trong lối hành xử của hai bố con ông Hỗn chỉ có đồng tiền, họ sử dụng nó trong mọi mối quan hệ và tác nghiệp mình gây ra. Nhưng rồi gieo gió thì gặt bão, hai bố con Tích lần lượt phải đền tội. Ông Hỗn đang ở đỉnh cao quyền lực và tiền bạc phải chết vì căn bệnh ung thư. Còn Tích trở thành nỗi ám ảnh của làng quê vì là người gieo rắc căn bệnh đáng sợ. 
Rồi những vết thương ấy ăn sâu vào và những thế hệ sau sẽ phải hứng chịu. Cuộc đời của Hoa đã trải qua những chuỗi bi kịch nhưng đứa con của cô cũng phải gánh chịu hậu quả. Từ vết thương trên mặt Hoa đến những đường kẻ hình caro xuất hiện dần trên gương mặt đứa con xinh đẹp của cô là một nỗi ám ảnh mai sau. Nó là hậu quả và cũng là sự cảnh tỉnh. “Bãi sông, chân đê, cánh đồng tất cả đang bị đầu độc, bị chém và nhận về những vết thương nham nhở. Hoa cảm giác chính mình bị thương, trái tim non nớt tuổi mười bảy của cô bị cào tơ mướp. Ai mà biết được có phải những bãi gạch là nguyên nhân của sự phát triển không bình thường của những đứa trẻ. Để chúng sinh ra, đứa thiếu chân tay, đứa oặt ẹo ngồi xe lăn, đứa thì hơn hai mươi tuổi vẫn mang vóc dáng đứa trẻ. Con người cứa vào chính cộng đồng họ sự đớn đau có phải thế không?”
Đó không chỉ là câu hỏi mà cô gái tội nghiệp như Hoa tự hỏi mình. Từ nỗi đau của cá nhân tác giả đẩy đến bị kịch lớn của nông thôn trong thời đại mới. Ngày nay quá trình đô thị hóa gấp gáp, nhà máy công xưởng mọc lên ở khắp nơi. Những cánh đồng, dòng sông đầy phù sa đang phải hứng chịu sự bức tử. Hình ảnh những lò gạch với ống khói phủ xuống khiến những cánh đồng cháy xém thực sự đã lột tả những gì mà công nghiệp gây ra cho những vùng quê nghèo yên ả.



Xuất thân từ làng quê Bắc bộ, nhà văn Nguyễn Văn Học có những am hiểu và đồng cảm với nỗi cơ cực của những ngời nông dân một nắng hai sương, bằng cái nhìn sâu sắc của một nhà văn, anh đã viết một câu chuyện đầy tính dự báo. Nông thôn và quá trình đô thị hóa, công nghiệp hóa sẽ gây ra những nỗi đau gì cho con người và môi trường. Những thiết chế và phong tục làng quê còn lại bao nhiêu khi các ống khói nhà máy bao trùm lên lũy tre cổng làng, khi lòng tham của con người là vô hạn?
Chi tiết cơn bão cuối truyện là sự giận dữ của mẹ thiên nhiên trước sự đối xử tàn ác của con người. Những thứ đại diện cho sự tàn phá và hủy hoại của con người sẽ bị thiên nhiên phá hủy. Những hàng cây mà Hoa chăm sóc vẫn nảy mầm xanh tốt sau con bão là một gợi ý về sự ăn năn và hàn gắn những vết thương của những con người biết quý trọng giá trị thực của cuộc sống. Con người phải chăng không chỉ chú ý chữa lành những vết thương cho bản thân mình mà còn phải có trách nhiệm cải tạo thiên nhiên để lưu giữ được những gì tốt đẹp cho cuộc sống mai sau.
Bằng một phong cách sáng tạo đan xen giữa hiện thực và huyền ảo trong Vết thương hoa hồng, Nguyễn Văn Học đã tạo nên một câu chuyện rất đời nhưng cũng đầy tính dự cảm về tương lai của người nông dân. Đó là những suy nghĩ trăn trở của một tác giả có tâm hồn nhạy cảm và vốn sống dày dặn. Vết thương hoa hồng  là tác phẩm viết về nông thôn và nông dân đáng đọc và suy ngẫm.

N.V.T
Read more…

TRANG THƠ CHỦ NHẬT: NHƯ CHIẾC LÁ - Thơ Nguyễn Đăng Thanh


CHA
Có nỗi buồn nào vương lên tóc cha
mà chỉ mới đây thôi đã rất nhiều sợi bạc
đời cha lắm ghềnh nhiều thác
con bước phía nào cũng như hụt một bàn chân

Cha ơi
con sông ngoài kia sẽ bình lặng mấy lần???
Con biết,
Sông sẽ chẳng bình lặng đâu mỗi khi bão về
bờ Lau ngã gió
Con sông cũng oằn mình nén đau khạc ra hạt phù sa đỏ
vun đắp những bãi bờ nhưng liệu có đủ không cha…???

Sông bồi phía bãi này
bãi khác lại lở ra
như đời con người
như chiếc lá
ngây thơ úa già
non xanh và hủy diệt

Cha ơi
Tháng tám vào thu bầu trời thanh khiết
Con chuồn chuồn kim vui gì mà bay miết
bỏ con với nỗi buồn
rơi lại...
phía thời gian

CÁNH SÂM CẦM MÙA ĐÔNG

Mát lành như ngọn gió
mong manh như Tường Vi
thướt tha tà áo đỏ
em hai mươi
… xuân thì.

Tháng mười về dan díu
dắt mất nàng Thu đi
bên em, ta ngọng ngịu
yêu thôi… chẳng nói gì.
 
Mùa đông rồi cũng đến
xua những đàn chim bay
em theo chồng sang bến
ta ôm… sầu trên tay.

Mười năm chưa đủ dài
Ta muốn mình đau thêm
mười năm, em có phải
hạnh phúc và ấm êm?
 
Nàng Thu giờ đi mãi
cây sầu
khô
… trơ đi
Ta - mang buồn gửi hết
     Cánh Sâm cầm thiên di!

N.Đ.T
Read more…

CÁCH NHẬP COMMENT TRÊN HƯƠNG QUÊ NHÀ

Đầu tiên, nhấp chuột vào ô Nhập nhận xét của bạn rồi viết comment. Viết xong, nhấp chuột vào ô Tài khoản Google. Sau đó nhấp chuột vào Tên/URL thì sẽ hiện ra 2 ô. Ô phía trên, ghi Họ và tên của bạn. Ô phía dưới, ghi dòng chữ:huongquenha.com

Cuối cùng, nhấp chuột vào ô Tiếp tục và nhấp chuột tiếp vào ô Xuất bản là xong. (Nếu bạn đã có sẵn Tài khoản Google, thì sau khi viết comment, chỉ cần nhấp chuột vào ô Xuất bản là thành công)

Số lượt xem tháng trước


-------------------------------------------------------------------------


TÁC GIẢ & TÁC PHẨM
* TÁC GIẢ & TÁC PHẨM * TÁC GIẢ & TÁC PHẨM * TÁC GIẢ & TÁC PHẨM * TÁC GIẢ & TÁC PHẨM---------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------
Ái Nhân (21) Ambrose Bierce (1) ẢNH (58) Anh Ngọc (1) Anh Nguyên (1) Anh Phong (4) Anh Phương (9) âm nhạc (2) âm thanh (1) Ân Thiên (1) Bạch Diệp (5) Bách Mỵ (2) BÀN TRÒN VĂN NGHỆ (87) Bảo Hồ (1) Bảo Lâm (1) Bảo Ninh (2) Bé Hải Dân (1) Bích Ái (3) Bích Lê (4) Bích Ngọc (1) Bích Vân (2) Bình Địa Mộc (3) Bình Nguyên (1) Bình Nguyên Trang (2) binh pháp (1) Bình Tâm (1) Bobby Nam Giang (3) Bùi Anh Sắc (1) Bùi Công Thuấn (1) Bùi Danh Hải Phong (1) Bùi Đức Ánh (66) Bùi Hoài Vân (5) Bùi Huyền Tương (2) Bùi Hữu Phước (1) Bùi Nguyên Bằng (25) Bùi Nhựa (4) Bùi Văn Bồng (5) Bùi Việt Thắng (2) BÚT KÝ (17) Ca Dao (2) Cao Duy Thảo (1) Cao Kim Quy (1) Cao Thị Thu Hà (3) Cao Thọ Thêm (2) Cao Thoại Châu (1) Cao Thu Hà (1) Cao Trọng Quế (1) Cao Văn Tam (5) Cát Du (7) Catherine Mansfield (1) Cẩm Lệ (4) Cẩm Tú Cầu (1) Chàng Cát (1) Chánh Đức (1) CHÀO XUÂN 2014 (1) CHÂN DUNG VĂN NGHỆ SĨ (2) Châu Đoàn (1) Châu Quang Phước (1) Châu Thạch (9) Châu Thường Vinh (1) Chí Anh (1) Chính Đức (1) chủ (1) CHỦ BIÊN (141) Chu Giang Phong (1) Chu Lai (2) Chu Ngạn Thư (10) Chu Trầm Nguyên Minh (16) Chu Vương Miện (1) Chúa Sơn Lâm (1) Cỏ Dại (7) covid 19 (1) Công Nguyễn (1) Cơ Xương (1) Cúc Dương (1) Cuộc thi văn chương (1) CỬA SỔ VĂN HÓA (6) Dạ Ngân (1) Dã Phong Bình (2) Dã Phương (1) Dạ Thảo (2) Dạ Thy (1) Diệp Linh (18) Diệp Uy (1) Dino Buzzati (3) DỌC ĐƯỜNG (29) Du Tử Lê (1) Dung Thị Vân (28) Duy Bằng (1) Duy Phạm (6) Dương Diệu Minh (1) Dương Đăng Huệ (1) Dương Hải Yến (2) Dương Hằng (7) Dương Kim Nhi (4) Dương Kim Thoa (1) Dương Phương Vinh (1) Dương Thành Thái (3) Dương Thị Yến Trinh (2) Dương Xuân Triều (6) Dzạ Lữ Kiều (6) Đàm Lan (17) Đan Ngọc (2) đạo đức (2) Đào Hiền (2) Đào Hữu Thức (2) Đào Khương (2) Đào Minh Hiệp (2) Đào Phạm Thuỳ Trang (82) Đào Quang Bắc (1) Đào Quý Thạnh (1) Đào Thanh Hoà (14) Đào Thị Quý Thanh (1) Đào Thị Thu Hiền (3) Đào Văn Đạt (31) Đào Viết Bửu (7) Đặng Châu Long (1) Đặng Diệu Thoa (1) Đăng Đăng (1) Đăng Huỳnh (1) Đặng Quốc Khánh (8) Đặng Quý Địch (3) Đặng Tấn Tới (2) Đặng Thị Hoa (2) Đặng Thị Xuân (1) Đặng Toán (1) Đăng Trình (1) Đặng Tường Vy (3) Đặng Văn Sử (1) Đặng Việt Trinh (1) Đặng Xuân Xuyến (9) ĐIỂM BÁO (2) Điêu Thuyền (1) Đinh Lốc (2) Đình Thậm (1) Đinh Vương Khanh (4) Đoàn Khương Duy (1) Đoàn Thị Minh Hiệp (4) Đoàn Tình (1) Đoàn Tuyết Thu (1) Đoản văn (1) ĐỌC SÁCH (30) Đỗ Chiến Thắng (6) Đỗ Duy Hoàng (15) Đỗ Hồng Ngọc (5) Đỗ KIm Dung (1) Đỗ Phu (1) Đỗ Quyên (2) Đỗ Tâm Linh (1) Đỗ Tấn Đạt (2) Đỗ Thị Kim Hải (2) Đỗ Trúc Hàn (1) Đỗ Văn Tiến (1) Đỗ Xuân Phương (1) Đức Linh (1) Đức Tiên (3) Elena Pucillo Truong (6) gan jing world (1) Ghi chép (2) Giang Đình (8) Giang Hiền Sơn (6) Giáo dục (1) Guy de Maupassant (1) Hà Đoàn (2) Hạ Ly (1) Hà Nguyên (2) Hà Nhi (1) Hà Nhữ Uyên (2) Hà Phi Phượng (1) Hạ Thi (3) Hà Thị Thu Hằng (1) Hà Tùng Sơn (1) Hải Điểu (1) Hải Miên (3) Hải Phong (2) Hải Thăng (1) Hải Thuỵ (6) Hải Yến (2) Hàm Sơn (1) Hàn Dã Thảo (2) Hàn Du Tử (17) Hàn Hữu Yên (1) Hàn Lâm (1) Hãn Nguyên Nguyễn Nhã (1) Hàn Nguyệt (1) Hàn Phong Vũ (19) Hàn Tín (1) Hạng Vũ (1) Hậu Cốc Ngang (1) Hậu Đậu (1) Hiếu Dũng (1) Hoa Hướng Dương (1) Hoa Mai (2) Hoa Tím Buồn (4) Hoa Tuyết (2) Hoà Văn (10) Hoa Xuyến Chi (1) Hoài Huyền Thanh (53) Hoan Giang (1) Hoàng Anh (6) Hoàng Anh 79 (26) Hoàng Chẩm (53) Hoàng Chẫm (1) Hoàng Đình Quang (2) Hoàng Giao (4) Hoàng Hạ Miên (6) Hoàng Hữu (1) Hoàng Khánh Duy (5) Hoàng Kim (1) Hoàng Kim Chi (1) Hoàng Kim Oanh (2) Hoàng Linh (6) Hoàng Long (2) Hoàng Lộc (8) Hoàng Mẫn (1) Hoàng Minh Tường (2) Hoàng Nghĩa Lược (1) Hoàng Ngọc Xuân (4) Hoàng Nguyên (1) Hoàng Phủ Ngọc Tường (1) Hoàng Thảo Chi (1) Hoàng Thị Bích Hà (1) Hoàng Thị Nhã (8) Hoàng Thị Thu Thủy (2) Hoàng Trang (1) Hoàng Trần (1) Hoàng Trọng Quý (9) Hoàng Trọng thắng (1) Hoàng Tuấn Sơn (1) Hoàng Tuyên (2) Hoàng Vũ Thuật (1) Hoàng Xuân Hiến (1) Hoàng Xuân Niên (1) Hồ Bích Ngọc (4) Hồ Bích Vân (2) Hồ Đắc Thiếu Anh (1) Hồ Hải (2) Hồ Lê Diêm (1) Hồ Nam (1) Hồ Ngọc Diệp (1) Hồ Nhật Quang (1) Hồ Sĩ Duy (1) Hồ Thanh Ngân (10) Hồ Thế Hà (2) Hồ Thế Phất (3) Hồ Thế Sinh (1) Hồ Tĩnh Tâm (1) Hồ Tịnh Thuỷ (21) Hồ Vũ Khánh Linh (1) Hồ Xuân Thu (3) Hội Nhà văn TP. HCM (1) Hồng Hạnh (3) Hồng Liễu (1) Hồng Phúc (8) Hồng Tâm (10) Huệ Triệu (3) HUMICHI (5) Huy Nguyên (15) Huy Vọng (17) Huy Vũ (1) Huyết Kiệt (1) Huỳnh Dạ Thảo (1) Huỳnh Gia (18) Huỳnh Kim Bửu (1) Huỳnh Minh Lệ (2) Huỳnh Ngọc Nga (1) Huỳnh Ngọc Phước (29) Huỳnh Như Phương (1) Huỳnh Thanh Lan (1) Huỳnh Thị Quỳnh Nga (1) Huỳnh Thúy Thúy (1) Huỳnh Văn Diệu (1) Huỳnh Văn Mỹ (1) Huỳnh Văn Yên (1) Huỳnh Xuân Sơn (3) Hương Đêm (1) Hương Đình (4) Hương Quê Nhà (1) Hương Văn (6) Hửu Thỉnh (1) Irina Polianxkaia (1) James Dylan (4) James Joyce (1) Jeffrey Thai (9) Jerry Thu Trà (7) Kai Hoàng (1) Kate Chopin (1) Kha Tiệm Ly (4) Khả Xuân (1) Khán Võ (2) Khảo Mai (1) khoa học (1) Khổng Trường Chiến (3) Khổng Vĩnh Nguyên (1) KỊCH BẢN (1) Kiên Giang (1) Kiến Giang (12) Kiều Huệ (1) Kim Chuông (4) Kim Dung (2) Kim Ngoan (15) Kim Quyên (1) Kim Sơn Giang (22) Kim Tiết (10) Kim Yến (1) Kỳ Nam (2) Ký sự (14) Lã Bố (1) La Hán (1) La Mai Thi Gia (1) Lạc Thảo (1) Lại Ngọc Thư (1) Lam Giang (3) Lan Anh (1) Lan Phương (1) Lan Thanh (1) Lãng Du (6) Lâm Bích Thuỷ (8) Lâm Cẩm Ái (3) Lâm Hạ (11) Lâm Huy Nhuận (1) Lâm Trúc (30) Lâm Xuân Vi (1) Lâu Văn Mua (1) Lê Ân (5) Lê Bá Duy (9) Lê Đình Danh (79) Lê Đức Hoàng Vân (1) Lê Đức Lang (13) Lê Giang Trần (1) Lệ Hằng (3) Lê Hoài Lương (4) Lê Hoàng (2) Lê Hứa Huyền Trân (39) Lê Khánh Luận (1) Lê Minh Chánh (1) Lê Minh Dung (2) Lê Minh Hải (3) Lê Minh Vũ (3) Lê Ngân (3) Lê Ngọc Phái (1) Lê Ngọc Trác (1) Lê Ngũ Nam Phong (11) Lê Nhựt Triết (8) Lê Phương Châu (30) Lê Quang Trạng (23) Lê Sa Long (2) Lê Thanh Hùng (34) Lê Thanh My (8) Lê Thấu (1) Lê Thị Cẩm Tú (6) Lê Thị Hồng Thắm (1) Lê Thị Kim (1) Lê Thị Ngọc Lệ (1) Lê Thị Ngọc Nữ (33) Lê Thị Thu Hiền (1) Lê Thị Xuyên (13) Lê Thiếu Nhơn (15) Lê Thống Nhất (6) Lê Thụy Phương (2) Lê Tiến Dũng (1) Lê Tiến Mợi (6) Lê Trọng Nghĩa (3) Lê Trung Hiếu (1) Lê Tuân (4) Lê Uyên (1) Lê Văn Hiếu (12) Lê Văn Ngăn (3) Lê Vi Thuỷ (1) Lê Vinh (4) Lê Xuân Tiến (1) Lindsay Polak (1) Linh Lan (7) Linh Lan (Quảng Nam) (8) Linh Phương (3) Linh Thy (2) Long Khánh (4) Long Vương (1) luân hồi (1) Lữ Hồng (3) Lư Nhất Vũ (1) Lương Cẩm Quyên (1) Lương Duyên Thắng (3) Lương Đình Khoa (1) Lương Sơn (27) Lưu Ly (6) Lưu Quang Minh (15) Lưu Thành Tựu (1) Lưu Thị Mười (2) Lưu Xuân Cảnh (2) Lý Khánh Vinh (15) Lý Thành Long (1) Lý Thời Miễn (1) M.T.N.H (7) Mã Nhị Lan (1) Mạc Minh (2) Mạc Tố Hồng (1) Mạc Tường (2) Mai Đức Trung (6) Mai Hạnh (1) Mai Kiệm (1) Mai Loan (12) Mai Nhật (2) Mai Thanh (1) Mai Thị Vân (1) Mai Thìn (3) Mai Tuyết (37) Mang Viên Long (63) Marie Hải Miên (4) Mẫu Đơn (1) Mèo Con (1) Mi Thu (1) Miên Đức Thắng (2) Miên Linh (1) Minh Châu (2) Minh Đan (Lọ Lem Đất Võ) (6) Minh Nguyên (15) Minh Nguyễn (3) Minh Nguyệt (15) Minh Nguyệt (NT) (1) Minh Nhân Tông (1) Minh Vy (25) Mỗi tháng một tác giả và một bài thơ hay (2) Mộng Cầm (8) Mộng Nam (1) Mùa Xanh (3) Mưa (1) Mường Mán (1) MỸ THUẬT (6) My Tiên (1) Mỹ Vân (1) Nam Art (2) Nam Cao (1) Nam Thi (17) Năm Bửu (1) Nấm Độc (1) NCCGL (4) Ngàn Thương (33) Ngày Đẹp Tươi (1) nghệ thuật. (1) nghiên cứu (1) Ngọc Bút (8) Ngọc Diệp (35) Ngọc Thịnh (1) Ngô Càn Chiểu (1) Ngô Cự Chính (2) Ngô Diệp (6) Ngô Đình Hải (7) Ngô Hồng Nhung (1) Ngô Liêm Khoan (1) Ngô Minh Trãi (3) Ngô Nguyên Ngiễm (1) Ngô Thị Hoà (1) Ngô Thị Ngọc Diệp (10) Ngô Thuý Nga (30) Ngô Thúy Nga (16) Ngô Thy Học (7) Ngô Văn Cư (52) Ngô Văn Giảng (11) Ngô Văn Khanh (17) Ngô Viết Hòa (2) Nguyễn (1) Nguyễn An Bình (70) Nguyễn An Đình (4) Nguyễn Ánh 9 (1) Nguyễn Bá Nhân (1) Nguyễn Bích Sao Linh (1) Nguyễn Bình (1) Nguyễn Bính Hồng Cầu (2) Nguyên Cẩn (26) Nguyễn Châu (2) Nguyễn Chinh (4) Nguyễn Công Thụ (2) Nguyễn Công Tùng Chinh (1) Nguyễn Cử Tú Quỳnh (2) Nguyên Diệp (1) Nguyễn Dũng (1) Nguyễn Duy Khương (6) Nguyễn Duy Phương (1) Nguyễn Duy Thịnh (3) Nguyễn Đại Duẩn (2) Nguyễn Đặng Mừng (3) Nguyễn Đăng Thanh (20) Nguyễn Đăng Trình (4) Nguyễn Đình Bảng (1) Nguyễn Đình Trọng (1) Nguyễn Đoan Tuyết (25) Nguyễn Đồng Bội Thảo (1) Nguyễn Đức Chính (5) Nguyễn Đức Cơ (1) Nguyễn Đức Mậu (2) Nguyễn Đức Minh (6) Nguyễn Đức Minh Hùng (10) Nguyễn Đức Nhân (1) Nguyễn Đức Phú Thọ (26) Nguyễn Đức Quyền (4) Nguyễn Đức Tấn (6) Nguyễn Đức Tình (4) Nguyễn Gia Long (1) Nguyên Hạ (11) Nguyễn Hải Thảo (2) Nguyễn Hậu (2) Nguyễn Hiếu (8) Nguyễn Hiếu Học (2) Nguyễn Hòa Hiệp (2) Nguyễn Hoài Ân (1) Nguyễn Hoàng Thức (2) Nguyễn Hồng Diệu (1) Nguyễn Huệ (3) Nguyên Hùng (1) Nguyễn Huy (3) Nguyễn Huy (HD) (1) Nguyễn Huy Khôi (1) Nguyễn Huỳnh (1) Nguyễn Hữu Minh (1) Nguyễn Hữu Phú (1) Nguyễn Hữu Quý (2) Nguyễn Hữu Thuần (4) Nguyễn Hữu Trung (2) Nguyễn Khiêm (1) Nguyễn Khoa Đăng (51) Nguyễn Kiều Lam (2) Nguyễn Kiều Phương (3) Nguyễn Kim Hương (7) Nguyễn Kim Thịnh (1) Nguyễn Lam (2) Nguyễn Lương Vỵ (4) Nguyên Minh (1) Nguyễn Minh Dũng (46) Nguyễn Minh Hoà (1) Nguyễn Minh Khiêm (1) Nguyễn Minh Nguyệt (1) Nguyễn Minh Phúc (47) Nguyễn Minh Quang (5) Nguyễn Minh Thuận (9) Nguyễn Minh Toàn (1) Nguyễn Mỳ (1) Nguyễn Mỹ Nữ (3) Nguyễn Nga (14) Nguyễn Nghiêm (3) Nguyễn Ngọc Dũng (1) Nguyễn Ngọc Đặng (1) Nguyễn Ngọc Hà (4) Nguyễn Ngọc Hưng (6) Nguyễn Ngọc Minh Anh (1) Nguyễn Ngọc Thơ (31) Nguyễn Ngọc Tư (5) Nguyễn Nguy Anh (21) Nguyễn Nguyên Phượng (69) Nguyễn Nhật Hùng (4) Nguyễn Như Tuấn (14) Nguyễn Phin (30) Nguyên Phong (1) Nguyễn Phú Yên (8) Nguyễn Phượng (2) Nguyễn Phương Dung (2) Nguyễn Quang Quân (8) Nguyễn Quang Tâm (2) Nguyễn Quang Tuấn (1) Nguyễn Quân (2) Nguyễn Quốc Ái (1) Nguyễn Quốc Bảo (1) Nguyễn Quốc Đông (1) Nguyễn Quy (2) Nguyên Tâm (1) Nguyễn Tấn Thuyên (3) Nguyễn Thái An (3) Nguyễn Thái Dương (6) Nguyễn Thái Huy (35) Nguyễn Thành Công (48) Nguyễn Thành Giang (22) Nguyễn Thanh Hải (1) Nguyễn Thanh Huyền (8) Nguyễn Thanh Mừng (1) Nguyễn Thánh Ngã (1) Nguyễn Thành Nhân (18) Nguyễn Thanh Tuấn (7) Nguyễn Thanh Xuân (2) Nguyễn Thế Kiên (1) Nguyễn Thế Kỷ (1) Nguyễn Thị Ánh Huỳnh (2) Nguyễn Thị Bích Phượng (2) Nguyễn Thị Cẩm Thuỳ (3) Nguyễn Thị Chi (2) Nguyễn Thị Diệu Hiền (3) Nguyễn Thị Hải (1) Nguyễn Thị Hằng (7) Nguyễn Thị Hậu (1) Nguyễn Thị Hồng Đào (10) Nguyễn Thị Huệ (1) Nguyễn Thị Kim Huệ (2) Nguyễn Thị Mây (127) Nguyễn Thị Ngọc Hải (1) Nguyễn Thị Ngọc Sen (2) Nguyễn Thị Như Tâm (3) Nguyễn Thị Phụng (27) Nguyễn Thị Thanh Bình (6) Nguyễn Thị Thành Nhân (1) Nguyễn Thị Thanh Toàn (1) Nguyễn Thị Thanh Xuân (1) Nguyễn Thị Thu Ba (23) Nguyễn Thị Thu Hiền (1) Nguyễn Thị Thu Hoài (1) Nguyễn Thị Thu Thuý (3) Nguyễn Thị Thùy Linh (3) Nguyễn Thị Tiết (3) Nguyễn Thị Tuyết (1) Nguyễn Thị Việt Hà (39) Nguyễn Thị Xuân Hương (14) Nguyễn Thu Hằng (1) Nguyễn Thủy (4) Nguyễn Thúy Ngân (13) Nguyễn Thuý Quỳnh (2) Nguyễn Thường Kham (3) Nguyễn Thượng Trí (2) Nguyễn Tiến Đường (8) Nguyễn Trần (1) Nguyễn Trí Tài (40) Nguyễn Trọng Luân (2) Nguyễn Trung (1) Nguyễn Trung Nguyên (1) Nguyễn Tuyển (4) Nguyễn Văn Ân (68) Nguyễn Văn Bút (6) Nguyễn Văn Công (2) Nguyễn Văn Cường (CCK) (4) Nguyễn Văn Hiến (5) Nguyễn Văn Hoà (5) Nguyễn Văn Hòa (2) Nguyễn Văn Học (55) Nguyễn Văn Ngọc (1) Nguyễn Văn Thanh (1) Nguyễn Văn Thành (1) Nguyễn Văn Thảo (17) Nguyễn Văn Toan (1) Nguyên Vi (1) Nguyễn Việt Hà (2) Nguyễn Vinh (1) Nguyễn Vĩnh Bình (3) Nguyễn Xuân Cảm (3) Nguyễn Xuân Dương (1) Nguyễn Xuân Khánh (1) Nguyễn Xuân Thuỷ (1) Nguyễn Xuân Thủy (1) Nguyễn Xuân Tư (3) Nguyệt Linh (5) Nguyệt Quế (1) Ngưng Thu (44) Nhã Ngọc (1) Nhã Thiên (7) nhà Thương (1) Nhân Hậu (2) NHÂN VẬT (1) Nhật Nguyệt Xuân Hương (1) Nhật Quang (17) Nhất Sinh (1) Nhật Vũ (1) Nhi Hạ (1) NHỚ THUỞ ẤU THƠ (37) Như Hoài (4) NHỮNG ÁNG VĂN HAY VỀ LÀNG QUÊ VIỆT NAM (7) NHỮNG NGƯỜI BẠN ĐÂT THỦ (6) NHỮNG NGƯỜI THỰC HIỆN HQN (5) Nông Quốc Lập (2) NP phan (1) Nửa Đời hư (1) NỬA THÁNG MỘT TÁC GIẢ VÀ MỘT BÀI THƠ HAY (38) nước (1) O. Henry (1) P.N. Thường Đoan (1) Pearl (1) Phạm Ánh (34) Phạm Anh Xuân (3) Phạm Bá Nhơn (2) Phạm Cao Hoàng (1) Phạm Đình Nghi (1) Phạm Hổ (1) Phạm Hữu Hoàng (20) Phạm Kiều Hưng (1) Phạm Lâm (1) Phạm Lê Tường Vi (1) Phạm Minh Dũng (14) Phạm Minh Hiền (9) Phạm Minh Thuận (10) Phạm Mỹ (1) Phạm Ngân (3) Phạm Như Vân (1) Phạm Phan Hòa (1) Phạm Phương Lan (1) Phạm Quỳnh An (1) Phạm Thái Ba (4) Phạm Thị Hải Dương (9) Phạm Thị Liên (1) Phạm Thị Mỹ Liên (30) Phạm Thị Phương Thảo (3) Phạm Thuý (6) Phạm Trần Ái Linh (4) Phạm Trung Tín (2) Phạm Tuấn Vũ (29) Phạm Tử Văn (21) Phạm Văn Phương (16) Phạm Văn Thạnh (1) Phạm Vũ (1) Phan Anh (12) Phan Cung Việt (1) Phan Đức Nam (1) Phan Hoài Thương (1) Phan Hoàng (2) Phan Huỳnh Điểu (1) Phan Hữu Lý (1) Phan Khanh (2) Phan Mai Thư Nhã (6) Phan Nam (20) Phan Quỳnh Như (1) Phan Sửu (1) Phan Tấn Lược (6) Phan Thanh Cương (2) Phan Thị Huỳnh Trang (2) Phan Tiên Phát (1) Phan Tình (1) Phan Trang Hy (25) Phan Văn Bình (1) Phan Văn Thạnh (1) Phan Văn Thuần (3) Phan Vĩnh (1) phần 1 (1) phần 2 (1) phần 3 (1) phần 4 (1) Phiêu Vân (1) Phong Dương (2) Phong Điệp (1) Phỏng vấn (7) Phú Ngọc (1) Phú Quang (3) Phú Xuân (8) Phùng Gia Lộc (1) Phùng Hiếu (10) Phùng Hiệu (1) Phùng Hoàng Chương (1) Phùng Phương Quý (7) Phụng Thiên (1) Phùng Văn Khai (1) Phước Vũ (1) Phương Phương (10) Phương Uy (5) Quan Thế Âm (1) Quảng Ngọc (1) Quảng Ngôn Lê Ngữ (1) Quang Thám (1) Quang Tuấn Dũng (9) Quốc Hùng (2) Quốc Tuyên (1) quy luật dịch (1) Quỳnh Lệ (1) Quỳnh Nga (16) Quỳnh Trâm (1) Rason Helmandollar (1) Raymond Carver (1) Raymond Thư (1) Rêu (Cao Hoàng Từ Đoan) (13) SÁCH BẠN VĂN (71) SARAH HALL (1) SINH NHẬT (1) Song Ninh (11) Sông Hương (11) Sông Lam (1) Sông Song (8) Sơn Tịnh (2) Sơn Trần (15) Sruthi Thekkiam (1) Stephen Crane (1) T.T.Hiếu Thảo (22) Tạ Nghi Lễ (1) Tạ Thị Hoa (14) Tam quốc diễn nghĩa (4) TẢN VĂN (230) TẠP BÚT (624) Tạp chí Văn Mới (1) TẠP CHÍ VN BÌNH DƯƠNG (11) Tashi Dawa (1) Tâm Lãng (1) Tâm Nhiên (2) Tấn Hòa (1) Tần Khánh (4) Tân Vương Huy (1) TẬP SAN ÁO TRẮNG (39) Tập san Văn học nghệ thuật Hương Quê Nhà (1) Tây bá hầu Cơ Phát (1) Tây Du Ký (1) Tây Sơn bi hùng truyện (2) Thạch Anh (2) Thạch Cầu (1) Thạch Đà (7) Thạch Lam (1) Thạch Sene (5) Thái An Khánh (2) Thái Hoà (1) Thanh Bình Nguyên (27) Thành Dũng (1) Thanh Hải (1) Thanh Huyền (2) Thanh Lương (2) Thanh Minh (4) Thanh Phong (1) Thanh Sơn (1) Thanh Thảo (3) Thanh Trắc Nguyễn Văn (42) Thanh Tùng (7) Thành Văn (3) Thạnh Văn (1) Thanh Xuân (2) Thảo Nguyễn (1) Thâm Tâm (1) Thần Y (1) Thi Ngọc Lan (1) Thiên Ân (1) Thiên Di (5) Thiên Sơn (1) Thiên Thần Áo Trắng (7) Thiên Tôn (10) Thiên Trần (1) Thiệp chúc mừng năm mới (4) Thiệp chúc Tết (3) Thiệp mừng (3) Thông báo (1) Thơ (3149) Thơ Lê Nhựt Triết (1) THƠ MỜI HOẠ (7) THƠ PHỔ NHẠC (106) Thời sự Văn nghệ (6) Thu Dung (3) Thu Hằng (1) Thu Hiền (1) Thu Hoài (1) Thu Nga (1) Thuận Thảo (8) Thuận Yến (1) Thục Minh (7) Thuỳ Anh (13) Thuỵ Du (1) Thụy Du (3) Thuỳ Dương (1) Thùy Dương (1) Thủy Điền (1) Thuỳ Nhân (1) Thư cảm ơn (1) Thư ngỏ (1) THƯ NGỎ CỦA HQN (2) Thư tin (285) THƯ VIỆN TÁC GIẢ (1) Tiểu luận (4) Tiểu Mục Đồng (1) Tiểu Nguyệt (5) Tiểu thuyết (107) Tiêu Tương (1) Tin buồn (2) TIN VĂN (2) Tịnh Bình (19) Tịnh Minh Tiến (2) Tô Hồng Phương (1) Tô Kiều Ngân (1) Tố Mai (3) Tô Minh Yến (21) Tôn Nữ Hỷ Khương (2) Tôn Thất Út (2) Tôn Tư Mạc (1) Tống Ngọc Hân (1) Tống Xuân Tám (1) Trà Bình (4) TRABATHA (1) Trác Phi (1) Trang Linh (1) Trang Lộc (1) Trang Thơ Chào Xuân Mậu Tuất 2018 (1) TRANG THƠ CHỦ NHẬT (528) Trang Thơ Đón Xuân Đinh Dậu 2017 (1) TRANG THƠ ĐƯỜNG LUẬT (17) Tranh ảnh (3) Trầm Mặc (4) Trần Anh Dũng (1) Trần Bảo Định (4) Trần Băng Khuê (1) Trần Biên Thùy (1) Trần Dần (1) Trần Duy Đức (17) Trần Dzạ Lữ (4) Trần Định (1) Trần Đình Sử (2) Trần Đoàn Luận (1) Trần Đức ÁI (2) Trần Đức Hiển (1) Trần Đức Tín (1) Trần Hà Nam (4) Trần Hoàng Vy (2) Trần Hồng Vân (5) Trần Huiền Ân (2) Trần Huy Minh Phương (2) Trần Hữu Du (1) Trần Hữu Hội (17) Trần Kim Đức (5) Trần Kim Loan (2) Trần Kim Quy (1) Trần Lê Sơn Ý (2) Trần Linh Chi (1) Trần Long Thạch (1) Trần Lưu (1) Trần Mai Hường (11) Trần Mạnh Hảo (1) Trần Minh Nguyệt (16) Trần Năm (1) Trần Ngọc Hồ Trường (4) Trần Ngọc Mỹ (11) Trần Nguyên Hạnh (6) Trần Nhã My (2) Trần Như Luận (3) Trần Nhương (1) Trần Phù Nam (1) Trần Quang Dũng (4) Trần Quang Khanh (12) Trần Quang Lộc (1) Trần Quang Ngân (10) Trần Quốc Tiến (8) Trần Quốc Toàn (1) Trần Quốc Việt (1) Trần Tâm (7) Trần Thái Hưng (5) Trần Thanh Hải (3) Trần Thành Nghĩa (1) Trần Thế Nhân (13) Trần Thị Bích Thu (1) Trần Thi Ca (9) Trần Thị Cổ Tích (2) Trần Thị Huệ (1) Trần Thị Huyền Trang (3) Trần Thị Mai (1) Trần Thị Ngọc Hồng (1) Trần Thị Thanh (5) Trần Thị Thắng (1) Trần Thị Thương Thương (4) Trần Thị Trúc Hạ (1) Trần Thị Uyên (8) Trần Thiện (3) Trần Thiện Tuấn (1) Trần Thoại Nguyên (2) Trần Thuận (7) Trần Thúy Lành (6) Trần Thuỳ Trang (1) Trần Thư (1) Trần Thương Nhiều (1) Trần Trọng Hưng (2) Trần Trọng Tân (1) Trần Trọng Vũ (2) Trần Tuấn Anh (2) Trần Tuấn Thanh (10) Trần Vạn Giã (2) Trần Văn Bạn (16) Trần Văn Nhân (5) Trần Văn Thiên (1) Trần Việt (1) Trần Viết Dũng (11) Trần Võ Thành Văn (24) Triết học (2) Triều Âm (2) Triều Châu (1) Triều La Vỹ (2) Triệu Lam Châu (1) Triệu Từ Truyền (30) Trịnh Bửu Hoài (106) Trịnh Duy Sơn (2) Trịnh Hoài Linh (5) Trịnh Huy (4) Trịnh Thuỳ Mỹ (1) Trịnh Tuyên (1) Trịnh Viết Hiền (1) Trịnh Viết Hiệp (1) Trịnh Yến (2) Trọng Mật (2) trụ vương (1) Trúc Giang (4) Trúc Lập (1) Trúc Linh Lan (2) Trúc Thanh Tâm (12) Trúc Thuyên (3) trung quốc (1) Trung Trung Đỉnh (1) Trung Y (1) Truong Nguyen (1) Truyện dài (10) TRUYỆN DỊCH (17) Truyện ký (2) TRUYỆN NGẮN (1173) TRUYỆN VỪA (14) Trương Công Tưởng (16) Trương Diễm Phiến (1) Trương Đình Phượng (8) Trương Đình Tuấn (3) Trương Hồng Phúc (14) Trương Huỳnh Như Trân (2) Trương Lan Anh (1) Trương Nam Chi (5) Trương Thanh Cường (2) Trường Thắng (65) Trương Thị Thanh Tâm (22) Trương Thị Thúy (2) Trường Thịnh (6) Trương Tri (2) Trương Văn Dân (21) Trương Viết Hùng (1) TTM (1) Tuấn Nguyễn (7) Tuấn Quỳnh (3) Tuệ Mỹ (1) Tuti (2) Tuỳ bút (2) TÙY BÚT (120) Tuyết Nhung (2) Tuyết Vân (1) tứ đại mỹ nhân (1) Tường Vi (1) TX (1) Út Lãng Tử (1) Uyên Khuê (2) Uyên Minh (1) Uyển Phan (1) Vạn Lộc (1) Vành Khuyên (1) Văn (2483) Văn Công Mỹ (2) văn hóa truyền thống (5) Văn học nước ngoài (13) Văn Lưu (1) Văn Nguyên (1) Văn Nguyên Lương (7) Văn Nhược Ba (1) Văn Thạnh (2) Văn Thành Lê (1) Văn Thắng (23) Văn Trọng Hùng (1) Vân Đồn (3) Vân Giang (12) Vân Khanh (2) Vân Phi (32) Vân Tùng (2) Vi Ánh Ngọc (2) Vi Quốc Hiệp (1) Victor Remizov (1) VIDEO CLIP (2) Viễn Trình (25) Việt Quỳnh (1) Việt Trang (1) Việt Trương (1) Vĩnh Sơn (7) Vĩnh Thông (43) Vĩnh Tuy (21) Võ Bá Cường (1) Võ Chân Cửu (17) Võ Chí Nhất (3) Võ Công Liêm (1) Võ Diệu Thanh (18) Võ Dõng (1) Võ Đông Điền (4) Võ Hà (1) Võ Hạnh (2) Võ Mỹ Cát (1) Võ Ngọc Thọ (4) Võ Như Văn (3) Võ Thị Nga (13) Võ Thị Thu Thủy (1) Võ Thuỵ Như Phương (15) Võ Văn Hoa (1) Võ Văn Luyến (1) Võ Xuân Phương (3) Vũ Bình Lục (1) vũ đạo (1) Vũ Đình Huy (9) Vũ Đình Liên (1) Vũ Đình Minh (1) Vũ Đình Nguyệt (2) Vũ Đình Thung (2) Vũ Đức Trọng (1) Vũ Hạ (1) Vũ Hạnh (3) Vũ Hùng (2) Vũ Miên Thảo (5) Vũ Thành An (1) Vũ Thị Huyền Trang (115) Vũ Thụy Khuê (8) Vũ Trọng Quang (1) Vũ Trọng Tâm (2) Vũ Trọng Thanh (1) Vương Doãn (1) Vương Hạnh (1) Vương Hoài Uyên (4) Vương Tâm (3) Xanh Nguyên (4) Xuân Đài (1) Xuân Phong (6) Xuân Phương (1) Xuân Tiến (20) Ý Thu (3) Yên Kha (7) Ziken (2)
-------------------------------------------------------------------------
+ 817 TÁC GIẢ CÓ BÀI ĐĂNG TRÊN HƯƠNG QUÊ NHÀ
-------------------------------------------------------------------------