Cây bút trẻ Tân Vương Huy
AI VỀ HÁI RAU ĐỜI
Nhà thơ Nguyễn Thị Hằng (Hà Tĩnh)
LY CÀ PHÊ EM MỜI
Mấy hôm rồi
vắng biệt tách cà phê
biết em bận
anh vẫn hoài trông ngóng
ừ đã quen
bình minh là hi vọng
vị cà phê thơm dìu dịu hương môi
Giọt cà phê tí tách em mời
tiếng cà phê nghe chừng rất lạ
đắng ngọt mênh mang
vui buồn đủ cả
có khi là những chát mặn vô tình
Khi tách cà phê đã cạn
anh mới bắt đầu nhận ra
những hạt đường li ti dưới đáy
là những ngọt ngào
mà cuộc đời dành tặng
khi anh đi qua dâu bể thăng trầm
Chỉ là anh chưa kịp khuấy đều
chỉ là anh hấp tấp đấy thôi
mà anh ơi
niềm nỗi con người
suy tư qua làn khói mỏng
ly cà phê em mời
giật mình
giọt đắng
đượm hồn hoa
MẬT NGỮ TĨNH VẬT
Anh gửi gì trong nét cọ chiều nay
ly độc ẩm ngã sang màu hổ phách
cảm xúc lên men chạm mạch
niềm khát khao rạo rực bồi hồi
được tượng trưng bằng những quả chanh tươi
Anh gửi gì trong nét cọ chiều nay
những bình minh
những hoàng hôn
không màu sắc
chiếc bình gốm cổ xưa mang hồn Hy Lạp
quả táo Đông phương may mắn yên bình
một trái cấm xinh xinh
xưa Eva, Adam đã nếm
mà cơn khát tình hãy còn nguyên vẹn
tội lỗi vào đời
áo lá vội may
Anh gửi gì trong nét cọ chiều nay
em, xoáy giữa vùng thu, chiếc lá
em, con quay rối cuộn tơ muốn cùng anh sa ngã
lột bỏ áo ngoài
phơi trải gan tim
Em tự hỏi
có phải bức tranh chiều nay
là mật ngôn tĩnh vật
anh và em
ƯỚC MUỐN
Em muốn ôm
bằng vòng tay người mẹ
khi anh cố ngăn ngấn lệ chực tuôn tràn
vòng tay ấm như lời ru nhỏ nhẹ
ngón tay mềm anh hãy mát tâm can
Em muốn hôn
bằng đôi môi từ lâu mím chặt
đôi môi chỉ ấm một lần trong tình yêu thứ nhất
giờ phút hồi sinh em muốn gửi về anh
muốn trao dâng trái cấm muộn mằn
trút say đắm vào thơ
cho bình minh xanh trên màu tóc bạc
Em muốn rót vào anh
thứ nước thần tiên không bao giờ biết cạn
bao dung đời độc hành
khô hạn
đa mang
Đã bao mùa xuân
bên quán thời gian
rạc vai gầy
mình em ngóng đợi
tâm tư một miền vời vợi
em lót tim vào đệm bước anh đi
se niềm tin lạc mất buổi đương thì
giọt hồng tươi ngấm sâu miền chân thật
Người thương ơi
cứ gục vào ngực em mà ngủ thật say
mặc ngoài kia đại dương bạt ngàn bão nổi
RONG CHƠI KIẾP NGƯỜI
Ta giờ như hương cỏ
quyện giữa trời heo may
tan loãng vào hư vô
chuỗi thời gian xa xăm
Tình nào không duyên nợ
ngày nào là ngày sầu
mai này xa miên viễn
bạc đầu vẫn nhớ nhau
Ngày nghiêng hôn tóc rối
ta nhìn nhau ngại ngần
tự trong lòng đã nói
yêu nhau từ trăm năm
Ta lặng lẽ chôn sâu
tên mình cùng mây gió
những tiếng đời than thở
dại ngây một bước chiều
Ta đi vào quên lãng
xin yên vui phận người
bàn tay nào vuốt mặt
khép một đời rong chơi
ĐỜI LÁ
Chuông đồng hồ reo vuốt ve từng sợi nắng
nàng bật người như lò xo trên chiếc giường
ngái ngủ
cầu thang chênh vênh nhịp chân trần vừa đủ
Gọi bình minh lên
sương tụ mật
trên vành môi lá khát
nàng khua nhè nhẹ
cuốn thảm vàng thấm một con tim
một khởi đầu sinh động hay kết thúc vô tình
lá ơi...
Lá vẫn quen nhẫn chịu
giữa nắng mưa
tùy nghi ấm lạnh
buộc dịu dàng với vẻ đẹp ngàn thu
lá tĩnh lặng
gục đầu vào góc phố chờ người quét đường
gom những lời yêu
Lá muốn ở lâu
giữ mãi nét màu tươi trên từng viên đá rong rêu
nghe chim hót xôn xao cùng gió
thở chung một nhịp thở
Người lên tiếng khóc
như loài cỏ cây khờ dại
dưới bóng mặt trời nhìn quỷ sứ điêu ngoa
Đừng trách lá mau tàn phai úa rụng
đừng quét lá với tâm tình rẻ rúng
đừng nghĩ lá vô tri vô giác
khi lửa bùng lên thành khói lệ
ngập ngừng
Rồi có lúc cây khẳng khiu trơ trụi
trong vườn đời sót lại chút tro than
người có cầm chổi ngẩng nhìn lên
tiếc nuối
ước nâng niu một chiếc
dẫu xanh vàng
đời lá... đời nàng
N.T.H
Tác phẩm “Bel Ami” của nhà văn Pháp Guy de Maupassant, dịch giả Vĩnh Minh – Đức Hiếu dịch là “Anh bạn điển trai”, dịch giả Thanh Thiên là “Người tình hào hoa”.
Là tiểu thuyết thứ hai của Maupassant, lấy bối cảnh thủ đô Paris nước Pháp vào thời ông sống - những năm cuối thế kỉ 19.
Cuốn tiểu thuyết xoay quanh Georges Duroy, một cựu binh trẻ tuổi, điển trai với chòm ria mép cong thời thượng, và hành trình leo lên quyền lực và danh vọng của anh ta, thông qua những mối tình với những người phụ nữ giàu sang, có địa vị xã hội.
*
Nếu xã hội không tạo điều kiện thì…
Đọc “Người tình hào hoa” tôi cảm nhận và học hỏi, rút kinh nghiệm ở các nhân vật Georges Duroy hào hoa, ranh mãnh và đầy thủ đoạn; nhân vật Clotilde de Marelle ngây thơ và mù quáng; và phu nhân Madeleine Forestier đáng thương, luôn cam chịu và lúc nào cũng khao khát được yêu thương.
Dưới mắt tôi, "Anh bạn điển trai" Georges Duroy chỉ là một nhà báo dùng mọi thủ đoạn để leo lên bậc thang phú quý, nhất là chuyên lợi dụng các phụ nữ nhẹ dạ. Mánh khóe là thứ hữu ích để đổi lấy tiền bạc và quyền lực. Một gương mặt điển trai đôi khi lại được việc hơn cái đầu thông minh.
Đó là một kẻ hãnh tiến, là người sinh ra đã mang bản chất lười biếng nhưng lại muốn sống cuộc sống xa hoa. Con đường tham vọng của anh ta, cũng là sự tha hóa của những nhân cách trước sự giàu có và quyền lực.
Tôi đã bị cuốn vào hành trình ấy để rồi nhận ra anh chàng điển trai của mình từ đầu truyện đã thiên biến vạn hoá, người hùng bỗng nhiên trở thành kẻ ác, cái đẹp bỗng nhiên bao chứa cái mục ruỗng và dường như chẳng có gì gọi là đẹp trong cái đô thị Paris nhầy nhụa.
Tất cả những điều ấy được Maupassant trình bày bằng một giọng phớt tỉnh, chừng như ông chẳng có ý kiến gì hết cả, “vì đời là như thế”.
Thậm chí câu chuyện khép lại bằng một đám cưới, một bước tiến, một bậc thang nữa của kẻ hào hoa kia, không ai phải trả giá, cũng chẳng có cái gọi là “báo ứng”.
Phát biểu của tôi, nếu xã hội không tạo cơ hội thì họ cũng không thể làm được những việc xấu xa đó,
*
Mở mắt cho tôi cái nhìn về nhà báo
Gói gọn trong một tác phẩm Maupasant tập trung thể hiện thái độ về những con người đang hành nghề báo chí và tờ Đời sống Pháp.
Có thể nói chân dung người làm báo hiện lên trong tác phẩm này rõ rệt hơn bao giờ hết, đông đảo mỗi người một dáng vẻ, một tính cách; nhưng họ đều chung một bản chất là sự suy đồi về đạo đức của những kẻ bất tài.
Những nhân vật mà Guy De Maupassant xây dựng không ai là không tôn trọng đồng tiền, nên cái đau mà ông muốn nói không phải là cái đau của De Vante-Tổng biên tập mà chính là cái đau của xã hội đương thời, một xã hội có những nhà báo như thế, những tổng biên tập như thế, những thượng nghị viện như thế thì thật là đau đớn cho xã hội.
Tờ Đời sống Pháp không phải là nơi để nói về đời sống của người Pháp mà đó là nơi để những con người đó kiếm tiền, ăn chơi, thoả mãn những lạc thú cho nhau.
Ở xã hội đó không có tình yêu chân thật, ở xã hội đó không có sự giúp đỡ chân thành cho nhau và cũng không có những con người thật sự xứng đáng với địa vị mà họ mang. Họ sống để lừa bịp, lợi dụng lẫn nhau.
Từ điểm nghệ thuật của Guy De Maupassant, thế giới những người làm báo thể hiện lên đông đảo. Mỗi người một dáng vẻ, một tính cách. Được ông bóc trần một cách tài tình bản chất lưu manh của những ngài nghị sĩ, những kẻ mà trên danh nghĩa là đại diện cho tiếng nói của quảng đại quần chúng ở nghị trường.
*
N.P
Tóm tắt cốt truyện
Câu chuyện bắt đầu khi Duroy, sau ba năm phục vụ quân ngũ tại Algeria và một thời gian ngắn làm một nhân viên văn phòng đường sắt, hiện đang sống cảnh thiếu thốn, tình cờ gặp lại Forestier, một đồng đội cũ, một nhà báo có vị trí trong báo giới Paris, và được giới thiệu vào làm trong tòa báo Đời Sống Pháp.
Tại đây, Duroy bắt đầu với vai trò một người đưa tin vặt, nhưng nhờ sự giúp đỡ của Madeleine, vợ của Forestier, anh nhanh chóng leo lên những vị trí cao hơn.
Cùng thời gian này, Duroy được giới thiệu với những nhân vật lớn trong báo giới cũng như giới chính trị ở Paris trong phòng khách nhà Forestier, anh bắt đầu mối quan hệ với một người bạn của Madeleine, Clothide de Marelle, một thiếu phụ xinh đẹp.
Duroy cũng cố gắng tán tỉnh Madeleine nhưng cô đề nghị cả hai giữ mối quan hệ bạn bè.
Một thời gian sau, Forestier qua đời. Madeleine tái giá với Duroy và cả hai trở thành một cặp đôi mạnh mẽ trong báo giới và bắt đầu có những tác động vào giới chính trị gia ở Paris.
Duroy, lúc này đã là Ông Du Roy, thì vẫn luôn mặc cảm về vai trò của mình so với vợ và bắt đầu những cơn ghen tuông và sau này là thương hại đối với Forestier.
Một số người ở tòa báo cũng gọi anh là Forestier nhằm chế giễu khiến Du Roy tức giận và mối quan hệ giữa anh và vợ trở nên căng thẳng.
Du Roy tán tỉnh vợ của ông chủ mình, bà Walter và trở thành tình nhân đầu tiên của bà này. Rồi anh nhanh chóng chán bà ta và khó chịu khi không thể cắt đứt được bà.
Tới một lúc, Du Roy theo dõi vợ mình và rồi gọi cảnh sát tới bắt quả tang cô ta đang ngoại tình với một chính trị gia. Hoàn tất thủ tục li hôn, Du Roy kết hôn với Suzanne Walter, con gái của ông chủ và tình nhân cũ.
Lễ cưới được tổ chức linh đình với sự có mặt của nhiều nhân vật lớn, là một sự kiện đình đám tại Paris lúc bấy giờ.
ĐÊM THÁNG TƯ
Tiểu thuyết “Kim Các tự” của nhà văn Nhật Bản Mishima Yukio xuất hiện trong nhà tôi năm lâu lắm, một thủa xa xưa yêu dấu, hồi đó tôi còn quá trẻ để đọc loại sách như vậy. Nhưng tháng năm trôi qua, câu chuyện ngôi chùa lịch sử bị hỏa hoạn loáng thoáng cũng đã mê hoặc tôi.
Hôm nay vào thư viện Khoa học tổng hợp thành phố tình cờ nhìn thấy “Kim Các tự” trên giá sách, tôi thấy nó gắn một chút kỷ niệm nên tìm đọc. Tôi thật sự không hiểu được nhiều chiều sâu của tác phẩm, chỉ thấy sau khi đọc xong thấy khoái một điều là truyện dường như nói thay ý nghĩ của tôi - là lời của nhà phê bình văn học chứ không phải của tôi:
“Sự hiện hữu của cái đẹp trong tâm tưởng của kẻ tôn thờ còn thiêng liêng và trường tồn hơn cả sự hiện hữu vật chất của chính nó, và đó là cách mà văn hóa được gìn giữ”. Hay là một ý khác: “Đẹp là cái gì tàn bạo, dũng mãnh để đi tới chỗ tự huỷ hoại hoặc bị hủy hoại.” Vì vậy, tác giả Mishima để cho nhân vật Mizoguchi đốt Kim Các Tự có lẽ không chỉ để giải thoát cậu ta khỏi sự cầm tù của ngôi chùa, mà còn để ấn tượng đẹp đẽ nhất về nó in sâu trong tâm trí cậu, bảo vệ cậu khỏi hình ảnh mục nát của ngôi chùa sau này. Có đúng vậy chăng? Qua câu chuyện tôi lờ mờ nhận ra điều đó.
Ngày 2.7.1950, toà Kim Các Tự chìm trong biển lửa. Di sản trân quý của Kyoto đã hoá tro tàn dưới tay phóng hỏa của một tiểu tăng của chùa. Cả nước Nhật sững sờ và thương xót trước tin ngôi chùa hơn một trăm năm tuổi đã bị thiêu rụi.
Dựa trên sự kiện phóng hỏa ở Kim Các, nhà văn Mishima Yukio đã cất công thu thập tư liệu từ khắp nơi, thậm chí vào thăm hung thủ phóng hỏa trong tù để gom nhặt chất liệu cho cuốn tiểu thuyết của mình. Năm năm sau biến cố, tiểu thuyết gắn liền với tên tuổi của nhà văn Mishima ra đời. Bối cảnh của tác phẩm là năm 1950, khi Mỹ đang chiếm đóng Nhật Bản.
Mizoguchi, trong vai người kể chuyện ngôi thứ nhất, xưng tôi – chú tiểu tại Kim các tự là một thiếu niên xấu xí, mắc tật cà lăm, sinh ra và lớn lên tại một vùng quê hẻo lánh ven biển Đông Maizuru. Cậu là con trai của tăng lữ một ngôi chùa nhỏ tại miền quê ấy. Từ nhỏ cậu đã được nghe cha kể về vẻ đẹp vô song của ngôi chùa Kinkakuji ở Kyoto. Hình ảnh ngôi chùa tưởng tượng trong tâm trí cậu lớn dần và cậu đã say mê nó lúc nào không hay. Rồi cha của Mizoguchi bị ốm và khi biết mình không qua khỏi, ông dẫn cậu lên Kyoto gặp Hòa thượng trụ trì Kim các tự vốn là bạn đồng môn thời trẻ để giới thiệu và gửi gắm con trai, hi vọng dưới sự chỉ bảo của hòa thượng, Mizoguchi sẽ trở thành một vị tu hành đắc đạo trong tương lai. Nhưng chuyến đi mơ ước tới Kim các tự không làm cậu thỏa mãn. Lần đầu tiên khi nhìn thấy ngôi chùa thực sự, Mizoguchi thấy đó chỉ là một tòa kiến trúc xấu xí tầm thường soi bóng xuống mặt ao Tokyo đầy bèo tấm. Cậu nhận thấy Kim các tự trong tâm tưởng đẹp hơn nhiều so với hiện thực.
Sau khi cha mất, cậu được hòa thượng tiếp nhận như một chú tiểu, sống trong ngôi chùa Kinkakuji, Mizoguchi dần dần cảm nhận được vẻ đẹp mãnh liệt của nó.
Ngày ngày, ngoài công việc dọn dẹp trong chùa, hầu hạ hòa thượng trụ trì, nghe giảng kinh, đôi khi là các công án Thiền, Mizoguchi đã dành rất nhiều thời gian cho việc ngắm nghía ngôi chùa. Dần dần cậu bị nó ám ảnh đến mức nhìn thấy cái gì đẹp cậu cũng so sánh với Kim các tự. Sau một thời gian, cậu được hòa thượng tin yêu và cho đi học đại học. Tại trường, với bản tính cô độc, tự ti vì sự xấu xí và tật cà lăm của bản thân, nên cuối cùng cậu cũng chỉ kết bạn được với một gã thọt, xấu chơi tên là Kashiwagi.
Những kiến giải của Kashiwagi về cuộc sống, về cái Đẹp và các công án Thiền bằng một thứ triết lí tự kỉ đã gây nhiều xáo động trong tâm hồn Mizoguchi. Trở thành một thanh niên, cậu cũng dần tập chơi bời nhưng mỗi lần gần phụ nữ, cậu không bao giờ đi đến đích được bởi những khi ấy, vẻ đẹp của Kim các tự lại hiện lên, ám ảnh.
Có thể nói, Mizoguchi đã bị cầm tù trong vẻ đẹp của Kim các tự. Trong cậu đã dần manh nha ý định đốt chùa, ý định ấy ngày càng nung nấu khi những cuộc oanh kích của quân đội Hoa Kì bắt đầu xảy ra trên bầu trời Nhật Bản, khi chiến tranh Triều Tiên bùng nổ.
Và khi hàng ngày, cậu được nghe giảng kinh “Gặp Phật giết Phật!” bằng đầu óc bệnh hoạn với thứ triết lí đã bị Kashiwagi nhồi sọ của mình. Cậu lên kế hoạch thật chi tiết, chờ thời cơ thật chín muồi để thực hiện ý định. Cuối cùng ngày ấy cũng xảy ra. Nửa đêm, với một bao diêm và ba bó rơm, Mizoguchi đã bình tĩnh đốt cháy trụi một bảo vật quốc gia. Cậu cũng từ bỏ ý định cùng chết với ngôi chùa. Sau khi đốt nó, trong cậu ngập tràn một cảm giác tự do và ham sống.
Tôi có nghe đâu đó, người Nhật tin rằng, cái đẹp không tồn tại vĩnh viễn, giống như vẻ đẹp của hoa anh đào, quốc hoa của Nhật Bản, chỉ nở rực rỡ trong ba - bốn ngày rồi tàn lụi. Cũng như sự phù du của kiếp người và vẻ đẹp của những thứ liên tục đổi thay trong thế giới tự nhiên. Giống như chú tiểu Mizoguchi trong tiểu thuyết, si mê Kim Các tự đến mức muốn nó tồn tại vĩnh cửu trước nguy cơ nó sẽ bị phá huỷ bởi chiến tranh, và cả bởi thời gian. Ham muốn này đi ngược lại với quy luật hữu hạn của vạn vật. Sự ám ảnh ấy cản trở Mizoguchi sống một cuộc sống dung dị của một con người.
Tuy vậy, tiểu thuyết có kết thúc tươi sáng khi cuối cùng Mizoguchi cũng học được bài học phân biệt cái đẹp duy lý trong tâm tưởng và chọn vẻ đẹp dung dị của hiện thực. Chú tiểu Mizoguchi đã nhận ra lòng ham sống của bản thân và chú đã có thể sống tốt hơn sau khi đốt chùa.
Tôi không đủ sức để phát biểu, tôi chỉ ghi lại ý của nhà phê bình để nghiền ngẫm:
"Hành động đốt chùa trở thành biểu tượng của sự từ chối bám chấp vào cái vô thường, sự nhận biết cái giả tạm của lòng ham muốn chiếm hữu cái đẹp, và điều này cũng giống với bất cứ thứ ham muốn quá mức nào đó ở thế gian".
N.P
Nhà thơ Phạm Ánh
Quê cát
Trăm sông nghìn suối tràn đầy
Cũng như nỗi nhớ nghiêng ngày chơ vơ
Khói sương ngút mắt bến bờ
Mưa nguồn chớp bể bất ngờ lối quen!
Hoa cau thoảng nhẹ ai chuyền
Mà nghe có cả nỗi niềm lất lây
Ngập ngừng cho ánh mắt cay
Chút tình quê cát cỏ cây nghiêng lòng!
Ai còn thương nhớ đợi trông
Tôi còn lặng lẽ tơ hồng về em
Cội nguồn quê cát tổ tiên
Trầm tư như nỗi niềm riêng bồi hồi!
Nói với con
Cho con gái P.A.N
“Cha già con mọn chơi vơi”
Câu ca ngày cũ xa xôi lặng thầm
Lối chiều hiu hắt từ tâm
Thầm mong chồi biếc xanh non mỗi ngày.
Lặng buồn tóc rối sương mây
Ân tình cha mẹ sau này là con
Dịu hiền một tấm lòng son
Mưa nguồn chớp bể yêu thương ở đời.
Vườn xưa nghiêng nắng trên môi
Cho con ân nghĩa nên người mai sau
Nhân tình thế thái bể dâu
Mong con qua những nhịp cầu yêu thương!
Chiều quê
Phận hèn như cỏ vườn hoang
Gió đưa xào xạc bên đàng lá bay
Tơ vò trong những bàn tay
Tâm tư gỡ rối cạn ngày khô đêm.
Ngập ngừng không rõ lạ quen
Vàng thau pha tạp trắng đen không màu
Biết còn hiu hắt kiếp sau
Giờ như con kiến rụng râu một mình.
Chơ vơ cuối thác đầu ghềnh
Có không không có thương mình có không
Sông trôi năm tháng nặng lòng
Một mình lặng lẽ mênh mông tím chiều!
P.A
Anton Chekhov tên đầy đủ là Anton Pavlovich Chekhov (1860-1904) là một nhà văn kiệt xuất người Nga. Ông được tôn vinh là một trong những nhà viết kịch hay nhất mọi thời đại và là bậc thầy của truyện ngắn hiện đại. Về sự nghiệp văn học của mình, ban đầu ông viết truyện ngắn để kiếm sống nhưng sau này, ông lại tập trung hơn vào giá trị nghệ thuật và có những cách tân táo bạo trong phong cách viết, góp phần định hình truyện ngắn hiện đại. Ông không ngại tạo ra những khó khăn cho người đọc, tin rằng vai trò của nghệ sĩ là đặt ra câu hỏi, chứ không phải đưa ra câu trả lời.
Các vở kịch và truyện ngắn hay nhất của ông không có cốt truyện phức tạp. Khi viết kịch, ông được biết đến với kỹ thuật “khẩu súng của Chekhov”, khẳng định rằng mọi yếu tố được đưa vào truyện đều cần thiết cho cốt truyệt và ông thường minh hoạ nguyên tắc này bằng cách sử dụng súng như một ví dụ về một yếu tố cần thiết.
Mặc dù Chekhov được biết đến chủ yếu với các vở kịch nhưng theo một số nhà phê bình, truyện ngắn của ông – đặc biệt những truyện được viết sau năm 1888 – thậm chí còn là một thành tựu văn học sáng tạo và quan trọng hơn.
Tờ vé số
Đan Ngọc dịch
Ivan Dmitritch, một người đàn ông thuộc tầng lớp trung lưu sống cùng gia đình với mức thu nhập 1200 rúp một năm và rất hài lòng với cuộc sống của mình, ngồi xuống ghế sofa sau bữa tối và bắt đầu đọc báo.
"Hôm nay em quên xem báo rồi," vợ anh nói khi đang dọn dẹp bàn ăn. "Anh xem thử có kết quả xổ số không?"
"Có đấy," Ivan Dmitritch đáp, "nhưng vé số của em hết hạn chưa?"
"Chưa, em mới mua hôm thứ ba."
"Số nào?"
"Dãy 9499, số 26."
"Được rồi... xem nào... 9499 và 26."
Ivan Dmitritch vốn không có niềm tin vào may mắn trúng số, và thường thì anh sẽ không bao giờ xem kết quả xổ số, nhưng lúc này, vì không có gì khác để làm còn tờ báo lại đang ở trước mặt, anh lướt ngón tay xuống cột các con số. Ngay lập tức, như bỡn cợt sự hoài nghi của anh, không xa hơn dòng thứ hai từ trên xuống, con số 9499 lọt vào mắt anh! Không thể tin vào mắt mình, anh vội vàng đặt tờ báo lên đầu gối mà không nhìn tiếp con số trên vé, và như thể ai đó vừa dội cho anh một gáo nước lạnh, anh cảm thấy có một cơn ớn lạnh dễ chịu trong ổ bụng; rùng mình, hoảng loạn và ngọt ngào!
"Masha, có 9499!" anh nói với giọng run rẩy.
Vợ anh quay sang nhìn khuôn mặt vừa ngạc nhiên vừa hoảng sợ của anh, và nhận ra anh không nói đùa.
"9499?" cô hỏi, mặt tái đi và làm rơi chiếc khăn trải bàn đã gấp trên bàn.
"Ừ, ừ... đúng là nó!"
"Còn số trên vé thì sao?"
"Ồ đúng rồi! Cũng có số vé ở đây. Nhưng, đợi... đợi đã! Không, ý anh là! Dù sao, dãy số của mình cũng có ở đây rồi! Dù sao, em hiểu mà..."
Nhìn vợ, Ivan Dmitritch ngoác miệng cười, vô tri, như một đứa trẻ khi được cho xem một vật phát sáng. Vợ anh cũng cười; với cô, mới chỉ nghe anh nhắc tới dãy số và chưa cần dò tiếp số của tờ vé trúng thưởng, cô cũng cảm thấy sung sướng như anh. Dày vò và trêu ngươi ai đó bằng hy vọng về một gia tài thật ngọt ngào, thật hồi hộp!
"Đó là dãy số của chúng ta," Ivan Dmitritch nói, sau một hồi im lặng dài. "Vậy là có khả năng chúng ta đã trúng. Nó chỉ là một khả năng, nhưng rất có thể!"
"Thế, giờ xem đi!"
"Đợi một chút. Chúng ta có vô số thời gian để thất vọng. Nó ở trên dòng thứ hai từ trên xuống, vì vậy giải thưởng là bảy mươi lăm nghìn. Đó không phải tiền, mà là sức mạnh, là vốn! Và chỉ trong một phút nữa, anh sẽ xem kết quả, và 26! Mà…? Xem nào, nếu chúng ta thực sự trúng thì sao?"
Hai vợ chồng bắt đầu cười và nhìn chằm chằm vào nhau trong im lặng. Khả năng trúng số khiến họ bối rối; họ không thể nói cũng không thể mơ mộng được cả hai sẽ dùng bảy mươi lăm nghìn đó để làm gì, họ sẽ mua gì, đi đâu. Họ chỉ nghĩ đến các con số 9499 và 75.000 và hình dung chúng trong tưởng tượng, trong khi đó họ lại không thể nghĩ gì đến sự hạnh phúc mà tự nó vốn đã có thể có.
Ivan Dmitritch cầm tờ báo trên tay, đi qua đi lại từ góc này sang góc khác, và chỉ đến khi bình tĩnh lại sau sự choáng ngợp ban đầu, anh mới bắt đầu mơ mộng một chút.
“Nếu chúng ta trúng số,” anh nói, “thì, sẽ là một cuộc sống mới, một sự biến đổi! Tờ vé số là của em, nhưng nếu là của anh thì trước hết, dĩ nhiên, anh sẽ chi 25.000 rúp để mua một trang trại; 10.000 rúp cho các chi phí cần thiết, nội thất mới... đi du lịch... trả nợ, v.v... 40.000 rúp còn lại, anh sẽ gửi ngân hàng và lấy lãi.”
“Đúng vậy, một trang trại, nghe hay đấy,” vợ anh nói, ngồi xuống và gác tay lên đùi.
“Một mảnh nào đó ở tỉnh Tula hoặc Oryol... Đầu tiên là, chúng ta không cần một ngôi nhà để nghỉ mát vào mùa hè, và ngoài ra, nó mang lại thêm một nguồn thu nhập.”
Và những bức tranh ùa vào trí tưởng tượng của anh, bức sau lại duyên dáng và thi vị hơn bức trước. Và trong tất cả những bức tranh ấy, anh thấy mình được ăn uống đầy đủ, thanh thản, khỏe mạnh, cảm thấy ấm áp, thậm chí hơi nóng nực! Ở đây, sau khi ăn món súp mùa hè, mát lạnh như đá, anh nằm ngửa trên bãi cát nóng bỏng ngay gần một dòng suối hoặc trong vườn dưới gốc một cây chanh... Trời khá nóng... Cậu con trai và con gái nhỏ đang bò xung quanh chỗ anh, đào cát hoặc bắt bọ rùa trên cỏ. Anh thiu thiu ngủ một cách ngọt ngào, không nghĩ ngợi gì, và hoàn toàn thấy không cần phải tới chỗ làm hôm nay, ngày mai, hay ngày kia. Hoặc, nằm chán, anh đi ra đồng cỏ khô, hoặc vào rừng hái nấm, hoặc xem nông dân đánh cá bằng lưới. Khi mặt trời lặn, anh mang theo một chiếc khăn tắm và miếng xà phòng, thong thả đi vào khu tắm, từ từ cởi đồ, chậm rãi xoa ngực trần bằng bàn tay, và bước xuống nước. Và ở bên dưới mặt nước, gần những vòng tròn bong bóng xà phòng mờ ảo, những con cá nhỏ đang bơi lội tung tăng và những cây rong biển xanh thì gật gà gật gù. Sau khi tắm, có trà với kem và bánh mì cuộn sữa... Buổi tối, anh sẽ đi dạo hoặc uống rượu vang với hàng xóm.
“Đúng vậy, mua một trang trại sẽ rất tuyệt,” vợ anh nói, cũng đang mơ mộng, và trên khuôn mặt thể hiện rõ cô đang phê pha bởi những suy nghĩ của mình.
Ivan Dmitritch hình dung mùa thu với những cơn mưa, những buổi chiều lạnh giá và mùa hè Thánh Martin. Vào mùa này, anh phải đi bộ lâu hơn quanh vườn và ven sông để cảm nhận cái lạnh thấu xương, sau đó uống một ly rượu vodka lớn và ăn một miếng nấm muối hoặc dưa chuột muối, rồi… lại uống thêm một ly nữa… Lũ trẻ sẽ chạy từ vườn rau đến, mang theo một củ cà rốt và một củ cải ngập mùi đất tươi… Và sau đó, anh sẽ nằm dài trên ghế sofa, thong thả lật giở các trang của một tạp chí nhiều hình ảnh, hoặc, úp nó lên mặt và cởi nút áo gi-le, chìm vào giấc ngủ.
Sau đó là mùa hè Thánh Martin với thời tiết u ám, ảm đạm. Trời mưa cả ngày lẫn đêm, những cành cây trơ trụi rỉ nước, gió ẩm và lạnh. Chó, ngựa, gà - tất cả đều ướt nhẹp, uể oải, ủ rũ. Chẳng có chỗ nào để đi dạo; chẳng ai có thể đi chơi vài ngày cùng nhau; mọi người chỉ có thể đi lại trong phòng rồi nhìn ra ngoài cửa sổ xám xịt một cách buồn chán. Thật u ám!
Ivan Dmitritch dừng lại và nhìn vợ.
“Anh sẽ đi nước ngoài, Masha,” anh nói.
Và anh bắt đầu nghĩ sẽ tuyệt vời biết bao nếu vào cuối thu, được đi nước ngoài, đến một nơi nào đó ở miền Nam nước Pháp... Ý... Ấn Độ!
“Chắc chắn em cũng sẽ đi nước ngoài,” vợ anh nói. “Nhưng hãy xem số vé!”
“Đợi đã, đợi đã!...”
Anh ta đi lại trong phòng và tiếp tục suy nghĩ. Anh chợt nghĩ: nếu vợ anh thực sự đi nước ngoài thì sao? Đi du lịch một mình hoặc đi cùng với những người phụ nữ phóng khoáng, vô tư sống cho hiện tại sẽ thú vị hơn, chứ không phải kiểu người suốt chuyến đi chỉ nghĩ và nói về con cái, thở dài và sốt ruột vì lo lắng từng xu. Ivan Dmitritch hình dung vợ mình trên tàu hỏa với vô số gói đồ, giỏ xách và túi; cô ấy thở dài vì điều gì đó, phàn nàn rằng tàu hỏa khiến cô đau đầu, rằng cô đã tiêu quá nhiều tiền... Tại các ga tàu, anh sẽ liên tục phải chạy đi lấy nước nóng, bánh mì và bơ... Cô ấy sẽ không ăn tối vì nó quá đắt...
“Cô sẽ tính toán từng xu với anh,” anh nghĩ, liếc nhìn vợ. “Vé số là của cô ấy, không phải của mình! Hơn nữa, việc gì cô ấy phải đi nước ngoài? Cô ấy muốn gì ở đó? Cô ấy sẽ nhốt mình trong khách sạn, và không cho mình rời khỏi tầm mắt cô ấy... Mình biết rồi!”
Và lần đầu tiên trong đời, anh nhận ra vợ mình đã già và nhợt nhạt, người cô ấy còn đẫm mùi nấu nướng, trong khi anh vẫn trẻ trung, tươi mới và khỏe mạnh, và hoàn toàn có thể kết hôn lần nữa.
“Tất nhiên, tất cả những điều đó đều là ngớ ngẩn,” anh nghĩ; “nhưng... tại sao cô ấy phải đi nước ngoài? Cô ấy sẽ làm gì ở đó? Thế nhưng, cô ấy chắc chắn sẽ đi... Mình có thể hình dung... Thực tế thì đối với cô ấy, việc đó chẳng khác gì Naples hay Klin. Cô ấy sẽ chỉ cản đường mình. Mình sẽ phụ thuộc vào cô ấy. Mình có thể hình dung, một người phụ nữ bình thường sẽ khóa chặt tiền ngay khi nhận được nó... Cô ấy sẽ lo cho họ hàng và tính toán từng xu với mình.”
Ivan Dmitritch nghĩ đến những người họ hàng của vợ. Tất cả những anh chị em, dì dượng nghèo khổ đó sẽ lũ lượt kéo đến ngay khi hay tin về chiếc vé số trúng thưởng, họ bắt đầu rên rỉ như những kẻ ăn xin, và nịnh bợ bằng những nụ cười giả tạo, đầy dầu mỡ. Kiểu người đáng ghét, đáng khinh! Nếu họ được cho thứ gì, họ sẽ đòi thêm; còn nếu bị từ chối, họ sẽ nguyền rủa, vu khống và mong mọi điều bất hạnh sẽ giáng xuống vợ chồng anh.
Ivan Dmitritch nhớ lại những người họ hàng của mình, và khuôn mặt của họ, mà trước đây anh đã nhìn một cách vô tư, giờ đây lại hiện lên trong anh với vẻ ghê tởm và đáng ghét.
"Họ đúng là những loài bò sát!" anh nghĩ.
Và khuôn mặt của vợ anh cũng hiện lên trong anh với vẻ ghê tởm, đáng ghét. Cơn giận dữ với vợ dâng lên trong lòng anh, và anh ta nghĩ xấu về vợ:
"Cô ta chẳng biết gì về tiền bạc, nên mới keo kiệt. Nếu cô ta trúng thì sẽ chỉ đưa cho mình một trăm rúp, rồi cất phần còn lại đi và giấu kỹ."
Anh nhìn vợ mình, không còn mỉm cười nữa mà là hằn học. Cô cũng liếc nhìn anh, cũng hằn học và giận dữ. Cô có những giấc mơ riêng, những kế hoạch riêng, những suy nghĩ riêng; cô hiểu rõ những giấc mơ của chồng mình. Cô biết ai sẽ là người đầu tiên cố lấy tiền trúng số của mình.
"Thật sung sướng khi mơ mộng dựa vào tiền của người khác!" - ánh mắt cô thể hiện như vậy. "Không, đừng có hòng!"
Chồng cô hiểu ánh nhìn của vợ; lòng anh lại dấy lên sự thù hận, và để chọc tức vợ, anh liếc nhanh xuống trang bốn của tờ báo, đọc to lên một cách đắc thắng:
"Dãy 9499, số 46! Không phải 26!"
Cả thù hận và hy vọng đều tan biến, và ngay lập tức đối với Ivan Dmitritch và vợ anh, căn phòng của họ trở nên tối tăm, chật chội và thấp chủm; bữa tối họ vừa ăn không khiến họ no bụng mà còn nặng trĩu trong dạ dày; buổi tối thật dài và mệt mỏi…
"Chết tiệt thế này là sao?" Ivan Dmitritch nói và bắt đầu gắt gỏng. "Chỗ nào cũng thấy giấy vụn dưới chân, vụn bánh mỳ, vỏ hạt. Nhà thì chẳng bao giờ quét! Phải đi ra ngoài thôi. Quỷ tha ma bắt tôi rồi! Tôi sẽ đi và treo cổ mình lên cây dương đầu tiên trên đường!"
Đan Ngọc dịch
CÁCH NHẬP COMMENT TRÊN HƯƠNG QUÊ NHÀ
Đầu tiên, nhấp chuột vào ô Nhập nhận xét của bạn rồi viết comment. Viết xong, nhấp chuột vào ô Tài khoản Google. Sau đó nhấp chuột vào Tên/URL thì sẽ hiện ra 2 ô. Ô phía trên, ghi Họ và tên của bạn. Ô phía dưới, ghi dòng chữ:huongquenha.com
Cuối cùng, nhấp chuột vào ô Tiếp tục và nhấp chuột tiếp vào ô Xuất bản là xong. (Nếu bạn đã có sẵn Tài khoản Google, thì sau khi viết comment, chỉ cần nhấp chuột vào ô Xuất bản là thành công)