Tiểu thuyết “Chiến tranh và hòa bình” của Lev Tolstoi tôi đã đọc từ hồi còn nhỏ, đến bây giờ hưu trí tôi vẫn còn thích đọc lại- lần thứ bao nhiêu tôi không còn nhớ rõ- để chiêm nghiệm những vấn đề của nhân loại mà Lev đã nêu lên trong đó. Tôi không phải nhà chuyên môn về phân tích bình luận tác phẩm, tôi không phải là nhà lý luận văn học. Tôi chỉ đọc và cảm nhận một tác phẩm dưới mắt nhìn của một độc giả bình thường. Tuy tác phẩm đồ sộ, cao siêu, nhưng tôi không đủ sức quan tâm cái cao siêu, tôi chỉ ghi lại dưới mắt nhìn của tôi, những kỷ niệm của tôi, những nghĩ suy của tôi về “Chiến tranh và hòa bình”.
Từ ngày nghỉ hưu hơn hai năm nay, trong kế hoạch đọc lại sách xưa lúc cuối đời nhằm học hỏi, tìm đến chốn tâm linh, chuẩn bị cho việc chuyển sang “ngôi nhà vĩnh cửu bên kia thế giới” của mình, tôi ước mơ được đọc lại “Chiến tranh và hòa bình” của Nguyễn Hiến Lê dịch. Sách này tôi đã đọc lúc 15 tuổi, trong một bối cảnh đáng nhớ. Đó là năm 1972, trong những ngày được gọi là “mùa hè đỏ lửa”, lúc ấy trên chiến trường, hai bên – quân đội Việt Nam cộng hòa và quân giải phóng đang giằng co ác liệt ở địa danh mấu chốt Quảng Trị. Đài phát thanh, đài truyền hình liên tục đưa tin máu đổ, thương vong, chết chóc xảy ra hàng ngày để phe mình được cắm cờ trên cổ thành Quảng Trị.
Nhà tôi ở ngay trước chùa Thuận Thành, tôi thường xuyên thấy những quan tài phủ cờ vàng ba sọc đỏ từ chiến trường chở về. Do phần lớn người ta quan niệm chết bom đạn, chết đường chết chợ không được đưa vào nhà. Và phần lớn các gia đình này đều nghèo, nhà chật, thiếu không gian làm tang lễ, vì thế thân nhân cho quàn tại chùa. Phải nói bình quân hàng tuần, tôi đều thấy quan tài, đều nghe tiếng khóc ỉ ôi, kể lể của những người vợ lính còn rất trẻ, với nhiều mái đầu xanh quàng khăn xô trắng xóa đầy nét bi thương.
Tôi đang tuổi thiếu niên nhưng nhìn thấy cảnh ấy, bỗng buồn trong lòng, có khi mai mốt đây mình cũng sẽ rơi vào cảnh huống “Kỷ vật cho em” như những người vợ lính. “Kỷ vật cho em” là bài hát thời thượng, nhạc sĩ Phạm Duy phổ nhạc từ bài thơ của Linh Phương, với tiếng hát Thái Thanh tỉ tê, nỉ non làm tôi thấy rờn rợn:
Em hỏi anh, bao giờ trở lại
Xin trả lời, mai mốt anh về
Anh trở lại có thể bằng chiến thắng Pleime
Hay Đức Cơ, Đồng Xoài, Bình Giã
Anh trở về anh trở về hàng cây nghiêng ngả
Anh trở về, có khi là hòm gỗ cài hoa
Anh trở về trên chiếc băng ca
Trên trực thăng sơn màu tang trắng.
Tuy thế, tôi có không gian riêng, thế giới riêng- đó là sách. Mỗi lần tôi “chui” vào đó tôi thấy như vào thành trì an ổn, không ai phiền nhiễu được mình. Thói quen đó có từ nhỏ, bây giờ ở tuổi hưu trí vẫn còn “đậm đà” trong tôi.
Hồi đó chỉ gọi là đọc “ngấu nghiến” chẳng có định hướng, có mục đích, chương trình gì, nhưng với một ý nguyện là muốn đọc sách văn học để cảm nhận văn phong, nhịp điệu, không khí, cảm xúc của nhân vật hơn là chỉ đọc để nắm nội dung.
Những học trò cùng lứa tôi thủa đó phần lớn say mê vùi đầu vào tác phẩm của Kim Dung để rồi đánh võ mồm. Thường sau khi đọc “Anh hùng xạ điêu”, “Cô gái Đồ Long”, Thần điêu đại hiệp”… chúng kể cho nhau những miếng võ lõm bõm trong sách, hoặc vào võ đường học kỳ được những chiêu của những tài tử xuất hiện nhan nhản trên màn ảnh đại vĩ tuyến thời bấy giờ như Khương Đại Vệ, Lý Tiểu Long, Trần Tinh... thì tôi lại ưa vùi đầu vào loại sách “khó nhằn” của người lớn kiểu như “Chiến tranh và hòa bình”, “Những người khốn khổ”, “Những khẩu đại bác thành Navarra”, “Khóc lên đi ôi quê hương yêu dấu”, có cả loại truyện “sướt mướt” như “Bên dòng sộng Trẹm” chẳng hạn. Chẳng qua là những cuốn này nó có trước mắt tôi, trong tủ sách gia đình.
Tôi nhớ tôi đã đọc “Chiến tranh và hòa bình” bản dịch của Nguyễn Hiến Lê in lần đầu của Nhà xuất bản Lá Bối, Sài Gòn 1969. Ở tuổi đó, đọc loại sách đó, tôi không nắm được hết nội dụng, tôi chỉ mê sự kiện, mê chi tiết miêu tả của Lev Tolstoi, nhất là tả cảnh chiến tranh. Thời điểm đó ở Đà Nẵng có kênh truyền hình dành riêng cho lính Mỹ (hàng đêm từ 19g đến 23g máy bay Blue Eagle bay ở độ cao ổn định, chở thiết bị vòng vòng trên trời phát sóng xuống mặt đất) có chiếu phim Combat (Chiến đấu), phim này tôi rất khoái, không bỏ bữa nào. Tôi hồi hộp theo dõi hai nhân vật chính là trung sĩ Vic Morrow, trung úy Vic Thompson chuyên tiếp cận hang ổ quân Đức, khiến địch quân nhiều trận nếm mùi thất bại ê chề.
Đọc “Chiến tranh và hòa bình” tôi lại mê miêu tả một trận đánh chi tiết như vậy. Nào là đội kỵ binh, đội pháo thủ, cánh trái, cánh phải, đội phiêu kỵ, đội bộ binh… Lev Tostoi miêu tả rất chi tiết cách bố trí quân, diễn biến trong trận đánh. Nhiều đoạn tôi phải đọc đi đọc lại mấy lần để hình dung vị trí của nhân vật, họ chạy từ chỗ này sang chỗ nọ, diễn biến trận đánh như thế nào (*).
Những cảnh đó, những đoạn văn miêu tả đó là những đoạn văn tôi thích nhất. Rồi có tuổi hơn chút nữa, đọc lại “Chiến tranh và Hòa bình”, tôi nhận ra điều mà những lần trước mình chưa hiểu. Cụ thể là chiều kích tâm linh của cuốn tiểu thuyết qua những chuyện xảy ra trong các phòng khách và trên bãi chiến trường, qua những lời thoại sâu sắc.
Độc giả cụ thể là tôi, mỗi lần đọc lại hiểu thêm về triết học, tôn giáo, hiểu thêm về chân lý, biết phân biệt thêm về tốt xấu và hành động cho phù hợp trong hoàn cảnh thực tế. Có khi lần trước tôi chưa kịp nhận ra, lần này tôi lại thấy Lev Tolsoi đã trình bày chiến tranh như một sự kiện, trong đó tâm hồn con người được tôi luyện, những phẩm chất cá nhân và sự vĩ đại của đất nước được hình thành. Trong từng trận đánh cho ta thấy tất cả những nỗi khủng khiếp của chiến tranh, số lượng khổng lồ các nạn nhân, những nỗi bất công và đau khổ vô cùng tận giáng xuống những con người bình thường.
Mới đây, một lần trú tại khách sạn Đại Nam, một khách sạn nhỏ nhắn, bên bờ biển dạt dào sóng gió trữ tình tại Nha Trang, bất ngờ tôi “gặp lại” “Chiến tranh và hòa bình” bản của Nguyễn Hiến Lê dịch, tái bản in tại Nhà xuất bản Văn nghệ, Thành phố Hồ Chí Minh in năm 2000 (tập 1: 816 trang, tập 2: 778 trang, tập 3: 731 trang, tập 4: 809 trang, cỡ giấy 18 cm).
Tôi vui như bắt được vàng khi nhìn thấy bộ tứ tác phẩm nói trên nằm trên giá sách khá khiêm tốn, nghèo nàn ở sảnh tiếp tân của khách sạn. Vậy là bao nhiêu năm mong ước, tìm kiếm nay bất ngờ gặp lại, nhất là tâm niệm trong những ngày hưu trí cần đọc một loạt tác phẩm kinh điển, qua đó an lòng sống những ngày cuối đời.
Kiểu như bá tước Léon Tolstoi từng gửi gắm trong “Chiến tranh và hòa bình” rằng:
“Hành động của tôi liên quan tới ý chí khác và tùy thuộc vào hợp lực của những ý chí khác không phải của tôi. Hoạt động của ta càng trừu tượng bao nhiêu thì nó càng được tự do bấy nhiêu” (**).
Để từ đó đừng có mạnh miệng nói rằng, già rồi muốn làm gì cũng được “Vouloir c’est pouvoir”. Trên tinh thần đó, tôi đã đóng cửa phòng suốt hai ngày thứ bảy và chủ nhật tại khách sạn, say mê đọc “Chiến tranh và hòa bình” bản dịch của Nguyễn Hiến Lê mà tôi đã đọc hồi còn nhỏ, mặc cho mọi người trong đoàn du lịch vui chơi, tắm biển, ngao du thiên đường Vinpearl.
Người ta nói “vùi đầu vào trang sách” thật đúng với hình ảnh tôi lúc này. Tôi vui mừng gặp lại Natasha với vũ điệu bình dân Nga dưới ánh trăng, Natasha có tâm hồn, tươi sáng, cởi mở, hồn nhiên, hành động luôn theo tình cảm, rất tận tâm, rất yêu người, yêu đời, tuy có lúc nhẹ dạ, lầm lỗi nhưng không làm cho tôi ghét mà trái lại làm cho tôi thêm thương.
Tôi cảm nhận sâu xa điều mà Tolstoi nói: “Những cái tôi viết đây không phải tôi bịa ra đâu, tôi đã đau đơn rút từ trong ruột tôi ra đấy”. Tôi đã lấy bút high- light gạch dưới một đoạn văn để nghiền ngẫm: “Một hôm ông lại Novgorod mua đất, ghé một quán trọ ở Arzamas để nghỉ đêm, thấy phòng vuông vức như chiếc quan tài, tường trắng như khăn tang, đồ đạc bằng gỗ đỏ như máu. Nửa đêm ông bừng tỉnh tưởng như nghe thấy thần chết gọi mình, không ngủ lại được nữa, nằm xuống cầu nguyện. Sáng hôm sau vội vàng về nhà, khi thấy hai tháp ở cổng, ông mừng rơn: thoát chết”.
Qua đoạn văn trên tôi thấy dường như đâu đó, tôi cũng đã từng rơi vào tâm trạng này. Tôi phục lăn Tolstoi tả cảnh chết. Tôi xem đó như hành trang, như bước chuẩn bị để thanh thản, không bối rối khi đương đầu với nó nay mai. Có thể là kinh nghiệm cái chết trước cái chết của bá tước Bezoukhov, cái chết của Andres, cái chết đau đớn, ghê sợ, oán hờn của Lise, cái chết của lão công tước Bolkonski luôn nghiêm khắc với con…
N.P
(*) Nhân đây tôi nói rõ, tôi không thích đọc sách trên internet nên gì thì gì tôi cũng tìm mua cho được bản in giấy. Tôi hay dừng lại giữa chừng để suy nghĩ khi đọc sách, có khi đó chỉ là những suy nghĩ linh tinh bên ngoài. Trước mỗi đoạn văn khiến tôi thích thú, tôi thường đọc đi đọc lại hai ba lần. Khi quá trình này đang diễn ra, tôi không cảm thấy phiền lòng mà thấy thú vị. Điều này chỉ có sách in trên giấy là thích hợp.
(**) Trích bài viết “Vài lời về cuốn Chiến tranh và hòa bình” của bá tước Leon Tolstoi
“Ba!” - Bà ta nói: “Tôi nghĩ hoài mà không thể nào nhớ nổi một số từ trong bài hát mà tôi thích nhất”. Bà đang ngồi khép nép trên trường kỷ, với một cái đàn guitar cũ ở trên đùi.
Người chồng 47 năm qua của bà từ nhà bếp đi vào phòng khách và hỏi: “Gì vậy mẹ?”. Đã nhiều năm trôi qua, kể từ lúc họ có cậu con trai thứ ba, ông gọi theo con, gọi bà bằng mẹ và bà cũng vậy, gọi ông bằng ba.
- Tôi không thể nào nhớ được đoạn hai của bài hát bắt đầu như thế nào?
- Vậy à! Nhưng mà mẹ đang hát bài gì chứ?
- Ba không quan tâm đến tôi rồi, Tôi đã hát bài hát này hơn 20 phút rồi mà.
George, chồng bà nhìn lên trần nhà: “Được rồi! Chúng ta cùng nghĩ nhé”. Ông đưa tay xoa vào râu cằm đã điểm bạc và nói: “Nhặt những bông hoa trong mưa” phải không bà?”.
Bà mỉm cười, dạo một khúc đàn và hỏi:
- Ông đoán phải không?
- Tôi không đoán mà tin như vậy. Đoạn hai là khi trời bắt đầu mưa, một thứ gì đó rơi trên cánh hoa.
- À ra vậy! Bà gật đầu xác nhận. Làm sao mà tôi quên mất như vậy chứ?
Bà lại chơi đàn. Những âm thanh đơn điệu từ chiếc đàn guitar bằng gỗ cũ kĩ. Và hát lại bài hát mà bà đã viết khi bà còn rất trẻ. Đó là câu chuyện của hai người yêu nhau, cùng nhau đi dạo trên đồng cỏ với đầy những khóm hoa dại đủ sắc màu. Cơn mưa mùa hạ đổ xuống bất chợt, thay vì chạy vô lều, họ lại cùng nhau đi dưới mưa nhặt những bông hoa dại. Và họ nhận ra rằng họ yêu nhau biết bao.
Năm bà 64 tuổi:
- Ba! Ông vào đây một lúc được không?
- Gì vậy mẹ? Mẹ muốn tôi làm gì?
Ông liếc nhìn lên gương mặt vợ một thoáng, và quay nhìn xuống ghế của mình - buồn bã. Ông ghét cái nhìn đó, mặc dù ông nhìn thấy nó nhiều lần như vậy đã trở nên quen thuộc. Nó là một cái nhìn của sự nhầm lẫn, một trong những nỗi lo sợ hoang mang.
- Tôi quên là tôi muốn làm gì rồi. Bà lắc đầu quay lại chổ ngồi.
- Không sao cả, rồi bà sẽ nhớ lại thôi mà.
Bà lặng im, nhìn đăm đăm phía trước mặt, trong ti vi những hình ảnh động đậy nhưng bà không nghĩ được gì hết. Sau một vài giây, bà quay đầu lại phía chồng
- Ba sẽ làm gì khi tôi quên hết mọi thứ?
- Bác sĩ nói không thể tồi tệ hơn mà
- Nhưng nếu không phải vậy? Nếu một ngày tôi tỉnh dậy mà quên hết mọi thứ thì sao hả ông?
Ông tiến lại bàn và vỗ nhẹ lên tay vợ an ủi: “Tôi sẽ luôn ở bênh cạnh nhắc bà nhớ mọi thứ mà”.
Bà ta mỉm cười và cái nhìn hoang dại cũng biến mất. Bên trên truyền hình là một chiếc áo choàng đầy hình ảnh. Toàn bộ hình ảnh của gia đình bà từ ông bà đến cháu chắt được gắn hết lên chiếc áo choàng đó. Bà không nhìn vào ti vi mà nhìn chằm chằm vào những bức hình mặc dù chúng quá xa với tầm mắt của bà. Sau một vài phút, bà nói: “Chân tôi lạnh quá. Ông lấy giúp tôi tấm chăn ra khỏi tủ quần áo?”
Năm bà 65 tuổi, nhưng bà ta nghĩ mình chỉ mới 48.
- Ông đã đổ đầy bình xăng chưa? Đi trên đường tôi không muốn dừng lại đổ xăng đâu.
Ông nhìn bà một lúc, đưa tay vén tóc mình và tiếp tục xem ti vi
- Ông không trả lời tôi sao?
- Tôi không hiểu mẹ đang nói gì?
- Thì cái thùng xăng xe đó, Ông đã đổ đầy chưa?
Ông thở dài, tắt tiếng nói chương trình mà ông đang xem về những người cổ đại ở Peru. Ông luôn muốn xem những tàn tích Inca Machu Picchu. Đã vài năm rồi, ông không đi đâu cả.
- Tại sao phải đổ xăng khi mà tôi với bà không bao giờ đi đâu ngoại trừ đi đến quầy bán thực phẩm một tuần một lần?
Bà cười và lắc đầu.
- Ông lẫn mất rồi, ông không nhớ ngày mai chúng ta rời khỏi The Grand Canyon sao?
- The Grand Canyon? Mẹ à! Chúng ta đã đi đến đó trên 15 năm rồi mà. Bà không nhớ sao?
Bà chỉ tay vào ông ngăn ông không được nói nữa. Mắt bà nhìn xa xôi, vô hồn, và ngón tay từ từ hạ xuống để dưới môi khẽ nói: “Nhưng tôi…”
Ông nhìn một lúc vào gương mặt không biểu lộ một cảm xúc nào của vợ - chứng tỏ là bà đang suy nghĩ. Ông nghĩ về Grand Canyon, nơi mà ông bà đã thăm sau khi ông về hưu non vì sức khỏe kém. Ngay ngày đầu tiên không làm việc, ông đã rút hết các khoản tiền, mua một chiếc ô tô du lịch, họ lái xe đến tất cả các miền quê, và điểm du lịch đầu tiên mà họ đến đó là hẻm núi Grand Canyon. Họ gọi đó là chuyến hành trình lớn. Sau ba năm rong chơi, từ đại dương đến nhiều nơi khác và trở lại đó một lần nữa. Ông bà cảm thấy rất vui vẻ và yêu đời trong thời gian đó.
Ông bật âm thanh chương trình mà ông yêu thích mỗi ngày. Ông cố gắng điều hòa hơi thở của mình theo nhịp đập của trái tim.
- Tôi nghe họ có những con la mà ông có thể cưỡi chúng đi vào trong hẻm núi. Ông có tin đó là sự thật không vậy?
Tay của bà để bất động trên bàn, ông nắm chặt lấy và trong tâm trí của ông, ông như nhìn thấy chính mình đang lắc lư trên mình con la trên lối mòn đầy những đá lởm chởm. Mái tóc hoa tiêu đỏ quạch và cháy nắng bởi cái nắng như thiêu như đốt của vùng sa mạc.
- Tôi chắc chắn điều đó mà. Ông đáp lời bà.
Năm bà 67 tuổi nhưng cứ nghĩ mình mới 31 tuổi.
Một bàn tay đánh thức ông dậy, ông chống người lên và nhìn vào đồng hồ. Gần 4 giờ sáng.
- Gì vậy mẹ? Có chuyện gì không ổn sao?
- Tôi cần nói với ông một vài điều.
Ông ngồi hẳn dậy và bật đèn
- Ông Wendell Thurber hôn vào môi tôi hôm nay. Bà rên lên.
- Wendell Thurber sao?
- Chúng tôi đã cùng nhau ăn trưa chỉ một thời gian ngắn gần đây thôi, và hôm nay ông ta đã hôn tôi. Bà bẽn lẽn nhìn xuống chăn. Ông ta đã làm điều đó bất ngờ đến nỗi tôi chưa kịp nhận biết điều gì đang xảy ra.
George nhớ chuyện này đã xảy ra cách đây nhiều năm trước, khi bà còn làm việc ở nhà máy để kiếm thêm tiền mua nhà vì vậy ông chỉ im lặng nhìn bà.
- George này! Tôi nói thật đó.
- Nhưng chuyện này đã xảy ra quá lâu rồi mà. Bà không còn tin tôi nữa sao?
- Tôi tin ông. Tôi tin là ông không hành động như vậy.
Vào lúc đó, ông cũng có một chút hờn ghen, nhưng chỉ có vậy thôi.
Bà lại tiếp tục nói: “Wendell Thurber ôm ghì lấy tôi, hôn tôi.” - Bà nắm chặt mền nói khẽ: “Tôi kể với ông điều này bởi vì tôi yêu ông, và chỉ yêu mỗi ông thôi mặc dù có rất nhiều người yêu tôi…”.
Bà nghĩ rằng ông sẽ nổi giận và gọi bà là người đàn bà trụy lạc, hoặc thậm chí ông rời khỏi bà. Bà cứ suy nghĩ về phản ứng của ông sẽ như thế nào khi mà bà được một người đàn ông khác hôn? Nhưng thay vì giận dữ, ông cầm lấy tay bà siết chặt và đối xử với bà dịu dàng hơn trước.
Và sau đó điều dịu kỳ đã xảy ra, ông càng dịu dàng, càng làm bà hạnh phúc bao nhiêu, bà càng yêu ông bấy nhiêu. Chính vì chuyện này mà họ nhận ra rằng họ là hai nửa hoàn hảo nhất dành cho nhau trong đời. Ông mỉm cười, kéo bà vào lòng và thì thầm: “Tôi hứa, tôi sẽ thay đổi”.
- Ông đang nói gì vậy?
Ông nhìn xuống và thấy bà dán mắt vào đồng hồ
- Bốn giờ sáng rồi. Ông dậy đi, tôi không thể ngủ được.
- Bà tắt đèn và cố gắng ngủ đi.
Bà miễn cưỡng nằm xuống quay mặt vào vách.
Ông nhìn bà một lúc, sau đó tắt đèn, căn phòng lại chìm trong bóng tối.
Năm bà 68 tuổi nhưng cứ nghĩ mình mới 23
- Tôi biết ông lấy trộm chiếc nhẫn của tôi, ông giấu nó ở đâu? Ánh mắt bà nảy lửa.
- Tôi cũng không biết nó ở đâu mẹ à! Ông đang đứng trong nhà bếp, mảnh kính vỡ từ bình cà phê xung quanh chân trần của mình.
- Ông là một kẻ nói dối.
- Chắc là bà bỏ quên nó ở đâu rồi. Bà bình tĩnh đi, chúng ta sẽ đi tìm nó mà.
Bà gào lên, ông không nghĩ những âm thanh xa lạ và khủng khiếp đó là của bà. Bà cầm lên một bát trái cây. Đưa tay lên che mặt, ông ta van xin:
- Xin mẹ đừng ném bất cứ thứ gì vào tôi nữa.
- Đừng bao giờ gọi tôi như vậy, tôi không phải là mẹ ông, ông là một người vừa già vừa xấu.
- Bà không còn nhận ra cả tôi nữa sao? Tôi là George của bà đây mà.
Bà ném cái bát lên bàn đủ mạnh để làm nứt nó.
- Ông không phải là George. Ông là một ông già xấu xí, ông đánh lừa tôi. Ông đã lấy trộm tất cả tiền của tôi và bây giờ ông lấy luôn nhẫn cưới của tôi nữa.
- Điều đó không đúng.
Bà im lặng và hơi thở mệt nhọc.
- Tôi đã trao cho bà chiếc nhẫn đó, tôi sẽ không bao giờ lấy lại nó đâu.
Hơi thở bà nhanh hơn, thở hổn hển. Trong tim của bà, chiếc nhẫn cưới khắc sâu hơn bất cứ điều gì khác.
Đột nhiên, bà quay lại và chạy ra khỏi nhà bếp. Ông nghe tiếng đóng sầm ở cửa trước. Đột nhiên ông có ý nghĩ bà sẽ lang thang trên đường phố, với cái đầu không còn nhớ gì nữa cả. Ông bật dậy chạy băng qua những mảnh chai vỡ theo sau bà. Ông đã không chạy trong nhiều năm rồi. Trái tim ông cảm thấy lớn hơn, và cồng kềnh trong lồng ngực. Ông buông bà xuống một vũng bùn trên đường vì ông bị viêm khớp nặng. Ông chỉ nắm lấy vạt áo của bà thôi. Bà vả vào mặt, đấm vào ngực ông. Ông chỉ còn đủ sức giữ chặt bà, để mặc bà vũng vẫy trong bùn lạnh. Chỉ một lúc sau, bà ngừng vùng vẫy, chỉ còn lắc lư oằn người một chút. Ông tìm cách dỗ ngọt bà đứng lên và quay trở lại nhà.
Khi bật xong hệ thống nước ấm, ông đứng dưới vòi nước cạnh bà, và dưới vòi nước phun, ông tắm gội cho bà. Bùn đất quện chặt vào mái tóc trắng và làn da trắng của bà, hòa với máu từ bàn chân dẫm lên những mảnh chai bị vỡ.
Bà nghĩ mình mới 16 tuổi.
Một ông già đang nhìn cô, nhưng cô lờ đi. Cô có nhiều điều quan trọng hơn để nghĩ tới, hơn là lo lắng, quan tâm đến một ông già.
George hôm nay sẽ đến, cô biết anh đến để tán tỉnh cô, anh đã từng thích chị gái của cô, nhưng mối tình này không đi đến đâu cả. Chị gái của cô dù xinh, nhưng George không thể không chú ý đến cô gái trẻ hơn, với mái tóc dài đen, óng ả mượt mà như cô được.
Cô nhìn ra con đường trước ngõ, một lối mòn nhão nhẹt bùn đất, từ cổng ngõ chạy xuống đồi, sau đó qua một khúc cua và mất hút sau rừng thông. Ở phía bên kia của những cây thông là cây cầu gỗ bắc ngang sông Sandy và đường ray xe lửa.
Cô quay đầu lại và thấy một ông già đang ngồi trên lối đi với tay đan chéo trên vạt áo.
- Ông muốn gì? Cô hỏi.
JASON HELMANDOLLAR và các con
Giơ tay lên một cách bất lực - ông đáp:
- Không có gì cả mẹ à. Tôi chỉ đang xem tivi thôi mà.
Cô không hiểu ông già muốn nói gì. Cô quay trở lại con đường. Anh ấy đang ở đó, anh ấy đã qua khỏi rừng thông, mặc quần Jean và áo sơ mi trắng trông rất khỏe mạnh, cường tráng. Anh đi với một dáng vẻ thư thái, anh đang vòng qua khúc cua, và sau đó vượt qua một ngọn đồi dài. Anh nhìn lên và cô vẫy tay chào. Bây giờ cô thấy trên tay anh là một bó hoa dại, cô rất thích những bông hoa này, và lời bài hát hình thành trong đầu của cô. Không còn nghi ngờ gì nữa, đây là người đàn ông mà cô sẽ yêu suốt cả cuộc đời.
- Bà đang chào ai vậy mẹ?
- Chồng tôi
- Nhưng tôi ở đây mà, sao bà chào cái bức tường?
Ông già tội nghiệp nhưng cũng tử tế. Cô quay lại và chào ông. Đáp lại bà, ông cũng đưa tay lên và nói: “Chào em yêu!”.
Bà trở lại một đứa trẻ sơ sinh…
Những khuôn mặt chập chờn bay lượn quanh nó. Nó không thể đi lại được, nhưng có thể thấy chúng. Những gương mặt không tên tuổi. Nó hầu như không còn kí ức nữa vì nó chỉ là một đứa con nít. Đôi khi cũng có những gương mặt mà kí ức mỏng manh của nó không muốn nhìn, nhưng cũng không làm nó giận. Những gương mặt mang đến cho nó niềm vui mặc dù chúng không tuổi, không tên. Nó biết rằng những người này yêu nó, và nó cũng yêu họ.
Nó thở chậm rãi - vào, ra.
Có những lúc, những gương mặt che khuất tầm nhìn của nó, những từ vô nghĩa từ những bờ môi, những giọt nước mắt lăn xuống từ những đôi mắt buồn. Nhìn nét biểu hiện trên mỗi gương mặt làm nó hạnh phúc. Cuối cùng là một gương mặt rất quen thuộc, gương mặt khắc khổ. Đôi môi quen thuộc hôn lên trán nó, nó nhìn gương mặt này và nhận ra rất gần gũi, thân thương. Gương mặt làm nó cảm thấy an lòng, và kí ức một thời quay trở lại với nó.
Bà thấy mình còn ở trong bào thai.
Nó ở trong bào thai - quanh nó là nước ấm, trong nước, không cần phải thở. Vậy là nó không còn thở nữa. Đôi mắt nó từ từ khép lại.
Bà thấy George ở phía trước, nhưng ông ở rất xa, Ông đang gập người xuống. Bà biết có khi họ không thể cùng nhau được nữa. nhưng vậy cũng tốt. Đầu của ông uốn cong xuống và ông đã bắt đầu leo lên ngọn đồi dài…
Trần Minh Nguyệt dịch
ÔM ĐÊM MỘT KHÚC RU
Ôm đêm ru mãi hao gầy
Môi trầm em thả vũng lầy riêng mang
Tuổi chiều tóc gió thênh thang
Một bờ yêu cuộn muộn màng tôi ơi
Ôm đêm trượt giữa trùng khơi
Chẳng lành áo mỏng nghe vời vợi xa
Khuyết hao một bóng trăng tà
Vừa như khâu lại phôi pha mộng thường
Ôm đêm đếm mấy mùa thương
Ngoái trông ký ức tỏ tường lòng nhau
Bấm tay nhẹ đốt như đau
Mấy lần xa khuất úa nhàu giấc mơ
Ôm đêm giấu một hững hờ
Trộn pha nỗi nhớ như chờ chực mong
Vết thời gian một rêu phong
Tựa lưng vách đá một vòng bể dâu.
DỤ ĐÊM
Dụ đêm một nguyên trinh
Thừa thiếu khi một mình
Cơn mơ lùa khe khẽ
Quờ tay... chạm cõi tình
Dụ đêm ngọt bờ môi
Ghé răng chạm bãi bồi
Có thương xin chút nắng
Cho lòng ngần ấy thôi
Lỡ dại một dụ đêm
Dấn thân với ngọt mềm
Ta chiều nhau một thoáng
Ức hiếp nhau... dài thêm.
KHÚC ĐÊM CÒN NHỊP CUNG TƠ
Khúc đêm cởi bỏ... vỡ mùa
Xuân thì còn đó tay lùa cơn mơ
Một miền tối sáng non tơ
Rong rêu phủ lối một bờ... thiên thai
Ngắn dài mấy sợi tóc mai
Ngược chiều hơi thở thương hoài trăm năm
Tình em tròn cuộc xa xăm
Vắt đêm khô cạn ăn nằm ngủ đông
Vỡ em tan với mênh mông
Giọt sương lay động khua nồng nàn đêm
Sao rơi xuống thấp ru thêm
Một thời chưa cũ như mềm lòng nhau
Khúc đêm chưa lỗi nhịp đau
Áo phai chưa lỗi lầm màu mắt xưa
Còn cho nhau mấy lần mưa
Thà như xa vắng... mà đưa mộng thường.
KHÚC ĐÊM
Khúc đêm rụng vành trăng khuyết
Vỡ hồn chăn chiếu mênh mông
Hồng phai giấc mơ mắt biếc
Niệm nhau một cõi say nồng
Khúc đêm khát mùa bồi lỡ
Thương hoài áo lụa chưa phai
Em về cạn ngày góp nhớ
Môi mềm buông giọt tình ai
Khúc đêm phiến buồn xuống thấp
Nghe như bật cúc hồn nhiên
Theo em câu thơ khuất lấp
Vẽ vời nhau giữa thôi miên.
H.C
Sau một thời gian ở thăm chơi với gia đình Burnells, bà Hay trở về thị trấn và trước khi đi, bà tặng cho bọn trẻ một ngôi nhà búp bê. Nó lớn đến mức người đánh xe ngựa và Pat phải đem nó ra sân, đặt dựa vào hai thùng gỗ bên cạnh cửa sổ phòng ăn. Trời đang là mùa hè nên sẽ không có vấn đề gì với căn nhà búp bê. Mùi sơn bốc ra khi nó được đặt ở đó.
Đó là một thứ mùi thơm nhưng dì Beryl nói là nó sẽ làm cho người ta bị bệnh khi hít vào. Nó thơm ngay khi chưa kéo bao tải phủ nó ra.
Ngôi nhà búp bê có màu chính là xanh thẫm, bóng loáng, pha lẫn với màu vàng rực rỡ. Có hai ống khói màu đỏ và trắng được gắn bằng keo trên mái nhà, cửa được đánh vani lóng lánh, trông như một miếng kẹo bơ. Có bốn cửa sổ, giống như cửa sổ thật, sơn xanh. Cũng còn có một khung cửa sơn vàng, với các cục thuốc màu to dính ở mép. Thật là một ngôi nhà tuyệt vời! Mùi của nó không quan trọng. Nó là niềm vui mới.
“Mở cửa ra nào!”
Có một cái móc ở bên hông móc chặt mặt tiền ngôi nhà với phần sau. Pat lấy dao nhíp cậy cái móc lên và toàn bộ phần trước ngôi nhà bật lên. Nhìn vào sẽ thấy phòng khách, phòng ăn, nhà bếp và hai phòng ngủ. Đó là cách để mở cửa một ngôi nhà! Tại sao các ngôi nhà khác không được mở bằng cách này? Thật tuyệt khi nhìn qua khe hở của cửa ra vào, thấy có một phòng khách nhỏ với giá treo mũ và hai cây dù. Đó là những gì bạn thấy khi đã dùng dao nhíp. Có lẽ, đó là cách Chúa mở cửa các ngôi nhà vào giữa khuya khi ngài lặng lẽ trở lại trần gian với một thiên thần.
“Ô, ô”, bọn trẻ nhà Burnells kêu lên như đang bị thất vọng. Thật quá tuyệt vời, quá đủ đầy với chúng! Chúng chưa bao giờ được thấy một ngôi nhà búp bê như thế. Các phòng của nó đều được lót giấy. Có cả tranh trên tường, được sơn với các viền màu vàng, thảm đỏ được phủ khắp sàn nhà, trừ nhà bếp. Các chiếc ghế vải lông màu đỏ nằm trong phòng khách, màu xanh trong phòng ăn; bàn, giường có khăn trải, có 1 cái nồi, 1 cái lò, 1 cái chạn bát đĩa với các đĩa nhỏ và 1 cái vại lớn. Nhưng cái mà Kezia thích nhất là cây đèn để bàn. Nó đứng trên bàn ở phòng ăn, có chụp đèn màu trắng. Nó đã sẵn sàng để được thắp lên nhưng tất nhiên, không thể thắp được. Có thứ gì đó bên trong nó, như là dầu và chúng chuyển động khi được lắc.
Búp bê mẹ và bố rất lớn, nằm cứng đơ trong phòng khách, như thể đang bị ngất và con cái của họ đang ngủ trên gác. Chúng như thể không thích căn phòng. Nhưng cây đèn thì tuyệt vời. Nó như muốn cười và nói với Kezia, “Tôi thích sống ở đây”. Cây đèn trông như cây đèn thật.
Các con nhà Burnells không bước nhanh trên đường đến trường sáng hôm sau. Chúng kể với bạn bè, miêu tả, khoe ngôi nhà búp bê. “Tao sẽ kể trước, vì tao lớn nhất”, Isabel nói. Không đứa nào từ chối lời nói này. Isabel trông khoe mẽ nhưng nó luôn nói đúng. Lottie và Kezia biết rất rõ quyền của kẻ lớn hơn. Chúng lấy tay chạm nhẹ vào những cây mao hương hoa vàng bên đường và không nói gì.
“Tao sẽ chọn ai đến xem trước. Mẹ nói tao có quyền này”. Do ngôi nhà búp bê nằm trên sân nên chúng có thể gọi các bạn gái đến xem, mỗi lần 2 bạn. Tất nhiên chúng sẽ không vào uống trà hay đi quanh quẩn trong nhà. Chúng sẽ chỉ đứng lặng yên bên ngôi nhà búp bê trong khi Isabel sẽ chỉ chỏ cho chúng cái đẹp của ngôi nhà còn Lottie và Kezia thì thích thú đứng bên cạnh.
Lúc bọn trẻ vừa đi đến hàng rào làm bằng cọc của sân trường thì chuông đã reo to. Chúng vội vã chộp lấy mũ và chạy vào hàng, trước khi điểm danh. Không sao. Isabel đền bù việc chưa được đến nhìn ngôi nhà búp bê bằng cách tỏ ra nghiêm trang và thì thào với các bạn gái đứng bên cạnh: “Giờ ra chơi tao sẽ kể cho tụi mày biết”.
Giờ ra chơi đã đến và lũ bạn vây quanh Isabel. Các cô bé chen nhau tiến sát cô, bước đi với cô, tươi cười, làm như chúng là những đứa bạn đặc biệt của cô. Cô tập họp chúng lại dưới một gốc cây thông lớn ở sân trường. Bọn trẻ thúc nhau, cười khúc khích với nhau, đứng vây chặt lấy cô. Hai đứa đứng ngoài, như mọi khi, là các cô bé nhà Kelveys. Chúng không dại gì đi đến gần con cái nhà Burnells.
Thực tế, trường học mà con cái nhà Burnells đến học không phải là trường mà họ muốn, nếu họ có quyền lựa chọn. Nhưng không có trường nào khác cả. Đây là ngôi trường gần nhà họ nhất. Kết quả là tất cả bọn trẻ trong vùng đều phải đến học ở đó. Chúng là con cái của nhà ông thẩm phán, bác sĩ, người chủ cửa hàng, người giao sữa. Không kể là ở đó còn có những đứa trẻ cá biệt, thô lỗ. Nhưng đã có vạch ngăn cách với con cái nhà Kelveys. Bọn trẻ, trong đó có con cái nhà Burnells, bị cấm không được tiếp xúc với chúng. Bọn trẻ vểnh mặt khi đi qua nhà Kelveys và khi có những cuộc vui chơi, con cái nhà Kelveys chẳng được gọi mời. Thậm chí giáo viên còn có giọng nói khác thường với chúng và cười lạ lẫm những khi Lil Kelveys mang hoa quèn tặng họ.
Chúng là con gái một người đàn bà nhỏ con, nhanh nhẹn, tháo vát. Bà là người làm nghề giặt giũ, mỗi ngày đi từ nhà này đến nhà khác để làm việc. Như vậy đã là khủng khiếp với người ta. Nhưng ông Kelveys đang ở đâu? Không ai biết chắc chắn. Người ta nói ông ấy đang ngồi tù. Như vậy, hai cô bé là con của một người làm nghề giặt giũ và một người tù. Có tốt không khi bọn trẻ làm bạn với chúng? Bọn trẻ nhìn ngó chúng. Bà Kelveys cho chúng mặc những thứ quần áo rất “nổi”. Sự thật, đó là áo xống người ta cho khi bà đến giặt giũ cho họ. Lil chẳng hạn, là cô bé đơn giản, mập mạp, mặt có nhiều tàn nhang, đến trường bằng trang phục may bằng vải trải bàn màu xanh của nhà Burnells, với các ống tay áo vải lông màu đỏ là vải màu cửa sổ của nhà Logan. Mũ mà cô bé đội trên cái đầu có trán cao là mũ của một phụ nữ trưởng thành. Đó là cô Lecky, nhân viên bưu điện. Phần sau chiếc mũ được bẻ cong lên và được viền bằng lông đỏ. Cô bé nhìn kỳ cục làm sao! Nhìn cô bé, không ai có thể nhịn được cười. Trong khi đó, cô em Else thì mặc váy dài trắng, trông như đồ ngủ, chân mang một đôi giày của bé trai. Dù mang gì thì cô bé nhìn cũng rất kỳ quặc. Cô bé xương xẩu, tóc quăn, đôi mắt to nghiêm trang, nhìn như một con cú nhỏ màu trắng. Không ai thấy cô bé cười, cô lại hiếm khi mở miệng nói gì. Cô bé luôn nắm vạt áo chị Lil khi hai chị em đi đâu đó. Nếu Lil đi thì Else sẽ đi theo. Trên sân trường, trên đường đi và về nhà, Lil luôn đi trước, Else nắm áo chị đi sau. Khi cần gì đó hay khi mệt mỏi, Else sẽ giật áo chị và Lil dừng lại, quay ra sau. Chị em rất hiểu ý nhau.
Bọn trẻ giờ đang tập trung ở hàng rào. Không ai có thể dừng lại cuộc trò chuyện của chúng. Khi bọn trẻ quay lại và cười nhếch mép, Lil cười thẹn thuồng như mọi khi còn Else thì chỉ nhìn.
Giọng Isabel thật kiêu hãnh. Thảm ngôi nhà búp bê thật ấn tượng và các chiếc giường phủ ra thật, có cả bếp lò với nắp đậy. Khi cô dừng lại, Kezia nói xen vào, “Chị quên nói về cây đèn rồi, chị Isabel!”.
“Ồ, vâng”, Isabel nói. “Có một cây đèn nhỏ làm bằng thủy tinh màu vàng, có chụp đèn màu trắng đang để trên bàn ở phòng ăn. Không thể không nói nó giống như thật”. “Cây đèn là thứ tốt nhất trong ngôi nhà”, Kezia nói. Cô nghĩ Isabel chưa nói được một nửa về nó. Nhưng không có ai để ý đến điều đó. Isabel chọn hai đứa bạn đến ngắm ngôi nhà chiều đó. Cô chọn Emmie Cole và Lena Logan. Nhưng những đứa bạn khác cho rằng chúng cũng có quyền đến nên đứa nào cũng đòi đi. Chúng lần lượt nắm lấy cổ tay Isabel và bước đi theo cô. Chúng muốn xì xào với cô, “Isabel là bạn tôi”. Chỉ có hai cô bé nhà Kelveys là bị lãng quên. Chúng không được đếm xỉa tới.
Ngày trôi qua và có nhiều hơn bọn trẻ thấy ngôi nhà búp bê, do đó, tiếng tăm của nó càng vang xa. Nó trở thành một chủ đề. “Mày thấy ngôi nhà búp bê chưa? Ô, đẹp lắm!”, “Tao nói là mày thấy chưa? Ô, tuyệt vời!”.
Ngay cả trong giờ ăn tối, bọn trẻ cũng bàn về ngôi nhà. Các cô bé ngồi dưới gốc thông ăn sandwich thịt cừu và bánh ngọt bơ. Hai cô bé nhà Kelveys ngồi cách đó không xa, Else nắm lấy áo Lil, lắng nghe lũ trẻ trò chuyện, miệng nhai sandwich với mứt được gói trong một tờ báo loang lổ màu đỏ.
“Mẹ ơi”, Kezia nói, “Con có thể cho hai con gái nhà Kelveys tới xem ngôi nhà được không?”.
“Chắc chắn là không”
“Sao vậy mẹ?”
“Đi chơi đi con, con biết rõ tại sao”
Cuối cùng, ai cũng được nhìn ngắm ngôi nhà còn hai chị em con nhà Kelveys thì không. Ngày hôm đó, chủ đề xem nhà trở nên đáng nói. Đó là lúc vào giờ ăn tối. Bọn trẻ đứng dưới gốc thông và chúng bỗng muốn sinh sự với hai chị em con gái nhà Kelveys khi thấy hai chị em đang đứng riêng và lắng nghe chúng trò chuyện. Emmie Cole thì thào.
“Khi nó lớn lên, Lil Kelveys sẽ làm đày tớ”.
“Ồ, thật khiếp!”, Isabel Burnells nói và nháy mắt với Emmie. Emmie thích thú nuốt nước miếng và gật đầu với Isabel, giống như mẹ cô làm khi muốn đồng ý với ai đó. “Đúng, đúng, đúng!”, cô nói. Sau đó Lena Logan nhấp nháy đôi mắt hí. “Để tao hỏi nó thử, được không?”, cô xì xào.
“Tao cá mày dám hỏi đó”, Jessie May nói.
“Xí, tao không sợ”, Lena nói. Cô bỗng kêu nó lên và đứng nhảy nhót trước mặt các cô bạn. “Coi tao nè! Coi tao nè!”, Lena nói. Sau đó, cô bước lê một chân tới chỗ hai cô bé nhà Kelveys, phía sau lưng cô có tiếng cười khúc khích.
Lil dừng ăn và nhìn lên. Cô bé gói nhanh lại thức ăn. Else dừng nhai. Chuyện gì sẽ xảy ra?
“Lil Kelveys, có đúng là mày sẽ làm đày tớ khi mày lớn không?”, Lena the thé hỏi.
Im lặng. Thay vì trả lời, Lil xấu hổ nhìn Lena. Cô bé có vẻ không quan tâm đến câu hỏi. Lena thất vọng. Bọn trẻ cười khúc khích.
Lena không chịu được nữa. Cô bé chống nạnh và quát tháo: “Hừ, ba mày là gã tù!”.
Câu nói làm bọn trẻ khoái trá. Một cô bé đi tìm một sợi dây thừng dài và chúng bắt đầu chơi nhảy dây. Chúng chưa bao giờ nhảy cao, thích thú như ngày hôm đó.
Chiều hôm đó, Pat đánh xe ngựa độc mã tới đón con nhà Burnells. Nhà có khách. Isabel và Lottie lên gác thay áo choàng. Kezia lởn vởn bên ngoài. Không có ai xung quanh. Cô bé bắt đầu lắc cánh cổng màu trắng trước sân. Nhìn xuống đường, cô thấy có hai đốm nhỏ. Chúng ngày càng lớn hơn, đang tiến về phía cô. Một đốm ở phía trước, một đốm ở phía sau. Giờ cô biết đó là chị em nhà Kelveys. Kezia ngừng lắc cánh cổng. Cô lách người qua nó, như muốn bỏ chạy. Nhưng cô ngập ngừng đứng lại. Hai chị em nhà Kelveys đi đến gần hơn, bóng chúng trải dài xuống đường, phần đầu đổ lên cây mao lương hoa vàng bên đường. Kezia định lách vào cánh cổng nhưng ngập ngừng dừng lại và nói:
“Xin chào”, cô bé nói với hai chị em.
Thật lạ là hai chị em dừng lại. Lil cười tươi còn Else thì nhìn chằm chằm.
“Tụi mày có thể vào nhìn ngôi nhà búp bê nếu tụi mày thích”, Kezia nói và lấy một ngón chân vẽ trên đất. Lil đỏ mặt và lắc đầu ngay.
“Tại sao không?”, Kezia nói.
Lil há hốc miệng rồi nói, “Mẹ mày nói với mẹ tao là tụi mày không được nói chuyện với tụi tao”.
“Ồ vâng”, Kezia nói. Cô không biết trả lời sao. “Không sao đâu. Tụi mày có thể vào xem ngôi nhà búp bê như những đứa khác. Vào đi, không có ai thấy đâu”.
Nhưng Lil lắc đầu mạnh hơn.
“Tụi mày không thích à?”, Kezia hỏi.
Bỗng vạt áo sau của Lil bị giật mạnh. Lil quay ra sau. Else nhìn chị mình bằng đôi mắt mở to, van nài. Cô bé nhíu mày, muốn đi. Lil bỡ ngỡ nhìn Else. Nhưng Else giật áo chị mình lần nữa. Lil bước tới. Kezia dẫn đường. Như một con mèo lạc đường, hai cô bé đi theo Kezia đến ngôi nhà búp bê.
“Đây này”, Kezia nói.
Cả ba im lặng. Lil thở mạnh, Else đứng như trời trồng.
“Tao sẽ mở cửa ra cho tụi mày coi”, Kezia vui vẻ nói. Cô bật cái móc lên và cả ba nhìn vào trong.
“Đây là phòng khách và phòng ăn. Đây là...”.
“Kezia!”.
Ô, cả ba giật mình.
“Kezia!”.
Đó là giọng của dì Beryl. Cả ba quay lại. Ở cửa sau, dì Beryl đứng nhìn chúng chòng chọc.
“Sao con dám cho chị em con nhà Kelveys đi vào sân?”, cô ta bực dọc nói. “Con biết rõ là con không được nói chuyện với chúng. Hai đứa kia, đi đi! Và đừng có mà trở lại”, dì Keryl quát. Sau đó, cô ta bước ra sân và đuổi hai chị em đi, như đuổi gà. “Đi ra ngay!”, cô ta nói lạnh lùng và cao ngạo.
Hai chị em không đợi người ta nói lần thứ hai. Cả hai co cụm lại. Lil ôm lấy em mình, như một người mẹ. Else lúng ta lúng túng. Cả hai rón rén đi ra khỏi cổng.
“Mày là đứa không biết nghe lời!”, dì Beryl cay cú nói với Kezia và đóng sầm cửa ngôi nhà búp bê lại.
Buổi chiều hôm đó thật khủng khiếp. Dì Beryl nhận được một lá thư từ ông Willie Brent. Thư dọa rằng nếu dì không đến quán bar Pulman’s Bush để gặp ông ta, ông ta sẽ đến nhà để hỏi lý do tại sao. Nhưng giờ, sau khi đã dọa dẫm hai con chuột nhỏ nhà Kelveys, đã chửi mắng Kezia, dì thấy nhẹ người. Sự bực dọc đã không còn. Dì ậm ừ hát và đi vào nhà.
Khi hai cô bé nhà Kelveys đi khỏi tầm mắt của dì Beryl, chúng ngồi xuống một ống cống ven đường. Hai má Lil đỏ bừng. Em lấy mũ xuống và đặt trên hai đầu gối. Em u buồn nhìn cánh đồng, nhìn vách đá và các con bò sữa nhà Logan đang đứng trong phên, chờ vắt sữa. Hai em bé đã nghĩ gì?
Else xích vai gần chị mình. Nhưng giờ cô bé đã quên bà dì Beryl cáu bẩn. Cô bé lấy ngón tay vuốt tóc chị mình và cười một nụ cười hiếm hoi.
“Em đã thấy cây đèn nhỏ”, cô bé nói nhỏ nhẹ.
Sau đó, cả hai lặng im.
· Trần Ngọc Hồ Trường dịch từ The Collected Stories of Catherine Mansfield, NXB Wordsworth, 2006
CÁCH NHẬP COMMENT TRÊN HƯƠNG QUÊ NHÀ
Đầu tiên, nhấp chuột vào ô Nhập nhận xét của bạn rồi viết comment. Viết xong, nhấp chuột vào ô Tài khoản Google. Sau đó nhấp chuột vào Tên/URL thì sẽ hiện ra 2 ô. Ô phía trên, ghi Họ và tên của bạn. Ô phía dưới, ghi dòng chữ:huongquenha.com
Cuối cùng, nhấp chuột vào ô Tiếp tục và nhấp chuột tiếp vào ô Xuất bản là xong. (Nếu bạn đã có sẵn Tài khoản Google, thì sau khi viết comment, chỉ cần nhấp chuột vào ô Xuất bản là thành công)