Một nhà văn đã từng nói, khi họ cầm bút viết thì từng trang viết đã thấm tình yêu. Ở tiểu thuyết “Linh điểu” (NXB Dân trí), nhà văn Nguyễn Văn Học đã xây dựng một hệ thống nhân vật mà ở họ luôn có những day trở về tình yêu với con người, thiên nhiên và quả cảm đấu tranh cho sự sống.
1.
Nhà văn Nguyễn Văn Học luôn đau đáu, trăn trở nỗi lòng với thiên nhiên và nhiều năm qua, anh đi công tác ở những nơi có vườn cò, vườn chim và thấm thía cảnh chim trời bị tàn sát, săn bẫy để làm mồi nhậu. Anh chia sẻ: “Từ những chuyến đi giúp bản thân tôi hình thành một niềm hào hứng, thậm chí say mê róng riết viết về thiên nhiên, chim chóc, sông suối, con người ở trong môi sinh ấy”.
Có lẽ từ những trải nghiệm, từ tình yêu với thiên nhiên, Nguyễn Văn Học đã cho ra đời một loạt các tác phẩm về đề tài sinh thái như “Mình ơi, anh cưới dòng sông nhé” (NXB Văn hóa -Văn nghệ TP Hồ Chí Minh, 2018), “Nhạc cây” (NXB Hà Nội, 2019)… Và ngay đầu quý I năm 2020, tiểu thuyết “Linh điểu” ra đời chứng minh sự thành công của nhà văn khi viết về vấn đề môi sinh.
Trong diễn biến của câu truyện trong tiểu thuyết “Linh điểu” tình yêu có sức lan tỏa, tuyệt diệu. Nguyễn Văn Học xây dựng hình tượng tình yêu ở nhiều khía cạnh khác nhau, tình yêu lứa đôi, tình yêu thiên nhiên, gia đình và cả lòng nhân ái. “Ánh sáng tình yêu luôn là một giá trị vĩnh hằng giúp con người có thể vượt qua khổ đau” (trang 251).
Bạn đọc dễ dàng nhận thấy, thông điệp về tình yêu được thể hiện rõ qua cách xây dựng từng nhân vật trong tiểu thuyết. Nhân vật chính Diệp Vân, một cô gái đầy bất hạnh, một đứa con bị bỏ rơi được gia đình cô giáo Diệp Chi cưu mang, cô có hai vết sẹo lớn và bước vào thời thiếu nữ đã mọc thành cánh. Cô bị kỳ thị, xua đuổi, bị xa lánh, phải sống khác người. Bằng bút pháp huyền ảo, tác giả đã xây dựng nhân vật Diệp Vân thành người có khả năng khác thường. Cô có sự giao cảm đặc biệt với chim muông: Vào một đêm mưa to, bão lớn cô đã nghe thấy tiếng đập cửa, cứu được một con cu gáy bị mất đi một bên chân. Cô đau đớn, nhức buốt trước nỗi đau của loài chim khi chúng bị con người săn bắn, hủy diệt. Cô đặc biệt nhạy cảm với loài chim. Có thể nghe tiếng chúng khi ở xa, thấy nhức ở cánh khi chim trời bị tận diệt ngày càng nhiều. Diệp Vân mua lại những chú chim bị bắt bán ngoài chợ rồi thả chúng bay tung cánh tự do với bầu trời. Cô thường xuyên rơi vào mê man, bởi vết sẹo rất nhạy cảm với nỗi đau của loài chim, nên thường thấy hình ảnh chim cò mỏi mệt, gầy nhẳng.
Có lẽ, Diệp Vân là điển hình của những cô gái với trái tim nhân hậu. Cô sẵn sàng hy sinh bản thân mình vì thiên nhiên, chim chóc. Tình yêu thiên nhiên của cô có sức lan tỏa mãnh liệt cứu rỗi được một con người tham lam, ích kỷ, một kẻ luôn săn bắt chim muông làm mồi nhậu như Hùng. Cô đã cảm hóa Hùng để anh ta nhận ra những giá trị của cuộc sống. Vân đã truyền sang anh ta sự biết ơn với bầu trời, với diệp lục. Từ đó nảy nở tình yêu lứa đôi giữa họ mà khởi nguồn là tình yêu với thiên nhiên. “Tình người có sức mạnh tẩy sạch những ái ố trong lòng kẻ tội đồ” (trang 265).
2.
Trong tiểu thuyết bà ngoại của Diệp Vân là cụ Thi, cô giáo cũng là mẹ nuôi của Diệp Vân là Diệp Chi, hay cô em gái Diệp Sương, cậu An, các thành viên của CLB Bảo vệ động vật hoang dã… đều có tình yêu thiên nhiên. Và tình yêu ấy được lan truyền từ người này sang người khác. Cụ Thi cả đời là mẹ cò vạc, chở che, bảo vệ, thậm chí đã bỏ mạng vì chống lại những họng súng ích kỷ của bọn “cò tặc”. Mất “cò mẹ” - cụ Thi, bầy cò có cách đưa tang rất đẹp và buồn: “Cánh chim dẻo như sợi khăn tang trắng mỏng manh, cả đàn kết thành những chùm hoa trắng, lơ lửng và dịu dàng trên góc trời thực hiện một nghi lễ” (trang 34). Điều đó cho thấy, chim cò cũng giống như con người, có tình yêu và lòng biết ơn.
Nhân vật Diệp Chi cũng là điển hình của mẫu người giàu lòng nhân hậu, có lòng bao dung đáng ngưỡng mộ, xuất phát từ tình yêu, lòng thương người. Diệp Chi đã nhận nuôi Diệp Vân, một đứa trẻ bị bỏ rơi, coi như con ruột. Khi mẹ đẻ Diệp Vân quay lại bằng sự thấu hiểu, Diệp Chi đã tha thứ cho Ngải, cho nhận con và qua lại chăm sóc. Diệp Chi bỏ qua cho chồng lỗi lầm của một kẻ phản bội làm bà đau khổ, bỏ qua sự hận thù nhỏ nhen cho tình nhân của chồng cũng chính là em cô để về chung sống hòa thuận trong một gia đình.
Tình yêu giúp con người và thiên nhiên trở nên gắn kết, hòa vào làm một tạo nên bức tranh nhân ái. Từ tình yêu với thiên nhiên, cây cỏ, chim muông con người biết yêu cuộc sống. Nhưng tình yêu cũng có sự day dứt, đớn đau trong từng thớ bất hạnh, thể hiện rõ qua cái chết của Diệp Vân. Diệp Vân đã phải trả giá cho tình yêu của mình với thiên nhiên. Cái chết của Diệp Vân nhuốm màu kỳ ảo khi cô nỗ lực cứu Đồi Cò trong trận hỏa hoạn. Cô bị nuốt trong đám lửa nhưng không tìm thấy xác, chỉ thấy xác của những chú chim và nhiều ngày sau đó họ nghe thấy tiếng chim từ xa vọng lại, da diết. Phải chăng Diệp Vân đã đi cùng các thiên sứ “về trời”? Cái chết có phần bi thương nhưng gieo vào lòng bạn đọc niềm tin về sự hóa kiếp của con người, đồng thời thấy được khát khao, tình yêu được hòa làm một với mẹ Thiên nhiên của chính những con người đang tàn phá thiên nhiên.
Qua nhân vật Diệp Vân, con người sẽ nhận ra cần phải ứng xử như thế nào với trái đất. Bởi chính con người bởi cái đói, sự ích kỷ, thói tham lam mà tàn phá thiên nhiên và cũng chính họ đang tước đi quyền được hưởng thụ thiên nhiên của mình. Hậu quả của thuốc trừ sâu, của các điểm công nghiệp, các làng nghề tái chế ảnh hưởng đến nguồn nước, đất đai tác động tới thiên nhiên và con người: các sinh vật mất môi trường sống, sinh ra những đứa trẻ không lành lặn, bệnh tật đeo bám người dân. Cái chết của Diệp Vân tượng trưng cho loài linh điểu từ bỏ con người bởi sự tàn sát, ích kỷ. “Khi ký ức dắt tay nhau bỏ đi, con người khó cưỡng, dù con người sáng tạo ra đủ thứ tinh vi” (trang 222).
3.
Tiểu thuyết “Linh điểu”với bút pháp huyền ảo, giọng văn mềm mại nhẹ nhàng, khi thì gấp gáp, hồi hộp, từ ngữ bay bổng giàu chất thơ. Điều đáng nói, theo diễn biến câu chuyện, tình yêu giữa con người với con người, giữa con người với thiên nhiên và ngược lại, có tính lan truyền. Người này có thể cải hóa người kia bằng thái độ sống nhân hậu. Nguyễn Văn Học đã thành công khi xây dựng nhân vật Diệp Vân, là người nhạy cảm tuyệt vời, yêu thiên nhiên và con người, đã cố hóa giải mâu thuẫn giữa con người với thiên nhiên, để chứng tỏ một điều, con người không thể tách rời Mẹ thiên nhiên.
T.T.M
Nhà thơ Trần Ngọc Phượng
Nhà thơ Trần Ngọc Phượng chia sẻ: “Tôi nhớ hồi còn quàng khăn đỏ hay nghêu ngao bài hát "Miền Nam em dừa nhiều, miền Nam em dứa nhiều, miền Nam em xoài thơm, miền Nam em khoai bùi... Lớn lên một chút thì thích bài "Con kênh xanh xanh những chiều êm ả nước trôi"... Vào miền Nam ở chiến trường miền Đông toàn thấy rừng cao su và đất đỏ. Mãi sau ngày giải phóng mới được về sông nước miền Tây. Chính tôi cũng có dịp về tổ chức đám cưới cho bạn ở Mỹ Tho, Bến Tre và đưa cả gia đình về chơi miền sông nước Hậu Giang, Cà Mau, An Giang, Hà Tiên... nhậu rượu đế với chuột đồng, cá sặc... Ở đơn vị và cơ quan tôi có rất nhiều cô gái miền Tây của vùng châu thổ Cửu Long. Các cô duyên dáng, hiền lành chân thật và đáng yêu.
Tiếng "dạ" nơi em sao ngọt ngào
Mênh mang sông nước, sóng lao xao
Phù sa cây trái, xanh đồng lúa
Tóc xõa, vai tròn lá nghiêng chao”.
Từ những cảm xúc như thế, nên khi có dịp về miền Tây, nhà thơ Trần Ngọc Phượng đã có chùm thơ viết về vùng đất này. Đó là tình cảm của một người con phương xa luôn có khao khát, ước muốn được đặt chân đến miền Tây sông nước. Và giờ đã thành sự thật. Cảm xúc dâng trào, niềm vui vỡ òa khi tận mắt nhìn thấy cảnh vật, con người, cỏ cây, hoa lá, sông nước mênh mông... Đặc biệt nhất là tính cách, con người ở vùng đất lắm cá, nhiều tôm, bạt ngàn hoa trái này... Có lẽ chính thổ nhưỡng, không gian địa lý đã hình thành nên cốt cách, phong thái con người miền Tây phóng khoáng, hào sảng, vô tư và mến khách đến vô cùng...
Bài thơ Tận cùng Cà Mau, Trần Ngọc Phượng không giấu được những cảm xúc rất thật của mình khi được đến đất mũi Cà Mau. Bài thơ như câu chuyện kể. Câu chuyện ấy thấm đẫm cảm xúc với cách kể, cách tả, cách cảm nhận vừa cụ thể, vừa khái quát. Tất cả đã vẽ nên một Cà Mau với những đặc trưng chung nổi bật ở vùng sông nước nhưng bên cạnh đó còn mang phong vị riêng của một tỉnh cực Nam của Tổ quốc. Trần Ngọc Phượng đã tái hiện rất chân thực và sinh động một Cà Mau thu nhỏ trong bài thơ. Không chỉ nhìn trực diện về mặt địa lý mà nhà thơ còn nhìn ở góc nhìn lịch sử và văn hóa của vùng đất đặc biệt này.
Anh về để biết Cà Mau/ Mưa nhiều nắng lắm dãi dầu sức trai/ Phong sương đen sạm hai vai/ Con xuồng lướt sóng như bay giữa dòng/ Ta đi cho đến tận cùng/ Bốn phương trời biển hòa chung mũi tàu/ Chân người bám xuống bùn sâu/ Đước theo cắm rễ đất màu mọc lên/ Thau chua rửa mặn đất phèn/ Để xanh ruộng lúa để chen rừng dừa/ Câu ca mở đất năm xưa/ “Muỗi như sáo thổi...” gió đùa mây bay/ Đã đi đến cuối đất này/ Nhậu cho xả láng không say không về/ Tôm dưới đầm, cá dưới ghe/ Đờn ca vọng cổ bạn bè bốn phương/ Đêm nằm nghe sóng vỗ lưng/ Tưởng như bay bổng bước chân mở đường.
Tiếng thơ Trần Ngọc Phượng ngân lên, cái hồn của làng quê, ruộng đồng, dừa xanh, tôm cá, đờn ca, sóng vỗ... lan tỏa khắp không gian vũ trụ.
Dòng mạch thơ trữ tình của Trần Ngọc Phượng bên cạnh những bài thơ viết về đề tài người lính, chiến trường, thế sự thì anh còn có những bài thơ viết về quê hương, tình yêu thắm đượm, da diết, đậm chất trữ tình.
Từ hình ảnh hoa tím lục bình, nhà thơ lại liên tưởng đến cuộc chuyện trò giữa anh và em trong một khoảng thời gian, không gian đặc biệt. Nhà thơ đã nhập hồn thơ của mình vào chiều sâu văn hóa với bao nhiêu vấn đề về quê hương, thân phận, tình yêu. Ở đó có cả sự đợi chờ, đợi chờ trong vô vọng bởi cảnh lỡ đò - em đã sang ngang...
Em trôi đâu đấy lục bình
Để anh ngồi với một mình hoàng hôn
Tím trời tím cả dòng sông
Phương trời vô định, mênh mông bến bờ
Hoa lục bình trở thành biểu tượng cho sự vô định, nổi trôi và ở đó cũng ngầm ám chỉ thân phận của em? Lời cảm thán đó bộc lộ những sắc thái tình cảm khắc khoải, day dứt và không giấu được sự thảng thốt, lo âu. Cảnh ngộ của em - người con gái trong bài thơ cũng là cảnh ngộ chung của nhiều người con gái khác, vì thế dễ taọ nên sự đồng cảm sâu sắc ở bạn đọc.
Thân em bèo bọt vật vờ
Mười hai bến nước biết chờ đợi ai
Trời cao biển rộng sông dài
Em mang theo cả tháng ngày mộng mơ
Thế giới hình ảnh vừa quen vừa lạ, vừa có gì đó bảng lảng xa vời bởi nó chứa đựng cả hồn người trong đó.
Hỡi người con gái năm xưa/ Rưng rưng trong nắng trong mưa dập dềnh/ Em yêu hoa tím lục bình/ Mảnh mai duyên dáng như hình gái quê// Bên nhau lắc lẻo cầu tre/ Trăng soi xoã bóng, lá che vai gầy/ Anh ơi! đừng hái hoa này/ Để cho bèo dạt nước mây xuôi dòng.
Phải chăng từ lúc tuổi hoa niên đến những ngày tham gia kháng chiến ở chiến trường miền Nam và cả thời gian sau ngày đất nước hòa bình người thơ Trần Ngọc Phượng đã có “tình cảm” đặc biệt với người em gái miền Tây? Và chắc chắc sẽ có nhiều lời hẹn ước. Bởi với anh, miền Tây có điều gì đó rất thân thiết, đượm tình. Vì thế “người tình” ấy vẫn sống mãi trong ký ức của chủ thể trữ tình anh. Cũng có thể Trần Ngọc Phượng đã nhập vai nhân vật trữ tình “anh” một cách tài tình, khéo léo.
Những câu thơ nhẹ như mây khói nhưng chuyển tải và gửi gắm bao điều. Làm cho bạn đọc thổn thức, xốn xang.
Anh về trở lại bến sông/ Em đi lấy chồng vọng tiếng ầu ơ/ Hắt hiu chiều vắng con đò/ Lục bình hoa tím như vừa qua đây (Hoa tím lục bình).
Chủ thể trữ tình anh phấp phỏng đi tìm: tìm em, tìm thời gian đã mất, tình yêu đã tuột khỏi tầm tay... Anh trở lại bến sông xưa nhưng giờ đã có nhiều sự đổi thay quá.
Không gian bến sông đã được nội tâm hóa trở thành không gian tâm trạng, có khả năng biểu hiện cảm xúc của con người. Tuy có gặp trắc trở nhưng chủ thể trữ tình vẫn luôn hướng về phía trước, hướng về những điều tốt đẹp, bất tử hóa những ký ức cao đẹp của tình yêu...
Quê hương hiện hữu trong những hình ảnh: kênh rạch chằng chịt, bến sông, con đò, con nước lớn, hoa tím lục bình, cầu tre lắc lẻo, khói đồng, bìm bịp kêu, áo bà ba, tiếng hò ầu ơ, vườn cây, hoa trái...
Vẫn là những hình ảnh quen thuộc của làng quê nhưng Trần Ngọc Phượng đã thổi vào đấy cái hồn, cái tình tạo nên trong lòng bạn đọc những ấn tượng. Những địa danh anh qua, những gì anh thấy, anh cảm nhận đều rất chân thật bởi một tâm hồn trong sáng, một tính cách sôi nổi, mãnh liệt.
Anh đã đến Kinh Cùng, Cái Tắc/ Tìm em đâu giữa chằng chịt rạch kênh/ Ghe nhỏ lướt qua bao Vàm Cống/ Lục bình trôi hoa tím bồng bềnh// Bìm bịp kêu dợn từng con nước/ Từng đoàn ghe chở lúa về thôn/ Tóc em xõa, áo bà ba thon thả/ Khói đồng bay trong nắng hoàng hôn.
Hình ảnh tóc em xõa, áo bà ba thon thả tạo nên nét đẹp duyên dáng của người con gái quê. Đó chính là tín hiệu thẩm mỹ, biểu tượng cho vẻ đẹp truyền thống của người con gái miền Tây. Vẻ đẹp ấy khiến cho biết bao chàng trai thổn thức, trong đó có anh.
Nhà ai thấp thoáng trong vườn trái
Nhớ ngày đầu ta dắt tay nhau
Em hay đùa thách anh ngày cưới
Có dám qua cầu khỉ rước dâu
Quê hương miền Tây sông nước đã lắng đọng đậm sâu trong anh để rồi những câu thơ bật ra một cách tự nhiên, hồn hậu. Làng quê đã thay da đổi thịt từng ngày, đời sống người dân được dần nâng cao. Đó là niềm vui, sự hân hoan vì quê hương khởi sắc!
Bây giờ đường quê em rộng mở/ Trồng cây, nuôi cá dưới ánh đèn/ Con cháu dập dìu ra phố chợ/ Xập xình tiếng nhạc hát thâu đêm.
Về miền Tây, anh không quên ghé thăm những Dượng Năm, Dì Bảy. Điều đặc biệt là món cá nướng trui để uống rượu đế, nghe em hát sáu câu vọng cổ... Đó là những “đặc sản” của miền Tây mà khách phương xa mỗi khi đến đều phải thưởng thức.
Anh ghé qua Dượng Năm, Dì Bảy/ Cá nướng trui, ly rượu đế lai rai/ Nghe em thả vào trong dòng chảy/ Sáu câu chìm nổi nước vơi đầy (Về quê em).
Văn hóa vùng sông nước ẩn sau những câu ca trầm bổng, những giai điệu tình tứ ngọt ngào. Đó là bản sắc, điệu hồn riêng. Ở đó bên cạnh niềm vui còn hiện lên những cảnh đời lam lũ, nhọc nhằn, bươn chải trong cuộc sống mưu sinh. Vùng sông nước mênh mang ấy còn gợi nên nỗi niềm day dứt, nhớ nhung, nhất là cảnh những cô gái đi lấy chồng xa, tình cảm của đứa cháu với bà, với mẹ với cha nghe có gì đó rưng rưng.
Bướm vàng đậu trái mù u*/ Nhớ về quê ngoại, lời ru thủa nào/ Tuổi thơ sóng nước xôn xao/ Lội sông, lượm trái đuổi nhau sau vườn (Mù u quê ngoại).
Con người, sông nước miền Tây trở thành nguồn cảm hứng trong thơ Trần Ngọc Phượng. Đó là sự gắn bó giữa một người thơ đa cảm với một vùng đất trù phú, nghĩa tình. Những bài thơ trữ tình man mác, mang hơi thở của cuộc sống, thoáng chút cô đơn, thoáng chút nuối tiếc, khắc khoải nhưng vẫn trong trẻo đến vô ngần./.
N.V.H
Một tác phẩm nghệ thuật ra đời dù đẻ non hay đúng ngày đủ tháng, dù còn tồn tại với sự đào thải khắc nghiệt của thời gian hay đã chết yểu... đều nghiễm nhiên có số phận riêng.
Cây bút trẻ Tân Vương Huy
AI VỀ HÁI RAU ĐỜI
Nhà thơ Nguyễn Thị Hằng (Hà Tĩnh)
LY CÀ PHÊ EM MỜI
Mấy hôm rồi
vắng biệt tách cà phê
biết em bận
anh vẫn hoài trông ngóng
ừ đã quen
bình minh là hi vọng
vị cà phê thơm dìu dịu hương môi
Giọt cà phê tí tách em mời
tiếng cà phê nghe chừng rất lạ
đắng ngọt mênh mang
vui buồn đủ cả
có khi là những chát mặn vô tình
Khi tách cà phê đã cạn
anh mới bắt đầu nhận ra
những hạt đường li ti dưới đáy
là những ngọt ngào
mà cuộc đời dành tặng
khi anh đi qua dâu bể thăng trầm
Chỉ là anh chưa kịp khuấy đều
chỉ là anh hấp tấp đấy thôi
mà anh ơi
niềm nỗi con người
suy tư qua làn khói mỏng
ly cà phê em mời
giật mình
giọt đắng
đượm hồn hoa
MẬT NGỮ TĨNH VẬT
Anh gửi gì trong nét cọ chiều nay
ly độc ẩm ngã sang màu hổ phách
cảm xúc lên men chạm mạch
niềm khát khao rạo rực bồi hồi
được tượng trưng bằng những quả chanh tươi
Anh gửi gì trong nét cọ chiều nay
những bình minh
những hoàng hôn
không màu sắc
chiếc bình gốm cổ xưa mang hồn Hy Lạp
quả táo Đông phương may mắn yên bình
một trái cấm xinh xinh
xưa Eva, Adam đã nếm
mà cơn khát tình hãy còn nguyên vẹn
tội lỗi vào đời
áo lá vội may
Anh gửi gì trong nét cọ chiều nay
em, xoáy giữa vùng thu, chiếc lá
em, con quay rối cuộn tơ muốn cùng anh sa ngã
lột bỏ áo ngoài
phơi trải gan tim
Em tự hỏi
có phải bức tranh chiều nay
là mật ngôn tĩnh vật
anh và em
ƯỚC MUỐN
Em muốn ôm
bằng vòng tay người mẹ
khi anh cố ngăn ngấn lệ chực tuôn tràn
vòng tay ấm như lời ru nhỏ nhẹ
ngón tay mềm anh hãy mát tâm can
Em muốn hôn
bằng đôi môi từ lâu mím chặt
đôi môi chỉ ấm một lần trong tình yêu thứ nhất
giờ phút hồi sinh em muốn gửi về anh
muốn trao dâng trái cấm muộn mằn
trút say đắm vào thơ
cho bình minh xanh trên màu tóc bạc
Em muốn rót vào anh
thứ nước thần tiên không bao giờ biết cạn
bao dung đời độc hành
khô hạn
đa mang
Đã bao mùa xuân
bên quán thời gian
rạc vai gầy
mình em ngóng đợi
tâm tư một miền vời vợi
em lót tim vào đệm bước anh đi
se niềm tin lạc mất buổi đương thì
giọt hồng tươi ngấm sâu miền chân thật
Người thương ơi
cứ gục vào ngực em mà ngủ thật say
mặc ngoài kia đại dương bạt ngàn bão nổi
RONG CHƠI KIẾP NGƯỜI
Ta giờ như hương cỏ
quyện giữa trời heo may
tan loãng vào hư vô
chuỗi thời gian xa xăm
Tình nào không duyên nợ
ngày nào là ngày sầu
mai này xa miên viễn
bạc đầu vẫn nhớ nhau
Ngày nghiêng hôn tóc rối
ta nhìn nhau ngại ngần
tự trong lòng đã nói
yêu nhau từ trăm năm
Ta lặng lẽ chôn sâu
tên mình cùng mây gió
những tiếng đời than thở
dại ngây một bước chiều
Ta đi vào quên lãng
xin yên vui phận người
bàn tay nào vuốt mặt
khép một đời rong chơi
ĐỜI LÁ
Chuông đồng hồ reo vuốt ve từng sợi nắng
nàng bật người như lò xo trên chiếc giường
ngái ngủ
cầu thang chênh vênh nhịp chân trần vừa đủ
Gọi bình minh lên
sương tụ mật
trên vành môi lá khát
nàng khua nhè nhẹ
cuốn thảm vàng thấm một con tim
một khởi đầu sinh động hay kết thúc vô tình
lá ơi...
Lá vẫn quen nhẫn chịu
giữa nắng mưa
tùy nghi ấm lạnh
buộc dịu dàng với vẻ đẹp ngàn thu
lá tĩnh lặng
gục đầu vào góc phố chờ người quét đường
gom những lời yêu
Lá muốn ở lâu
giữ mãi nét màu tươi trên từng viên đá rong rêu
nghe chim hót xôn xao cùng gió
thở chung một nhịp thở
Người lên tiếng khóc
như loài cỏ cây khờ dại
dưới bóng mặt trời nhìn quỷ sứ điêu ngoa
Đừng trách lá mau tàn phai úa rụng
đừng quét lá với tâm tình rẻ rúng
đừng nghĩ lá vô tri vô giác
khi lửa bùng lên thành khói lệ
ngập ngừng
Rồi có lúc cây khẳng khiu trơ trụi
trong vườn đời sót lại chút tro than
người có cầm chổi ngẩng nhìn lên
tiếc nuối
ước nâng niu một chiếc
dẫu xanh vàng
đời lá... đời nàng
N.T.H
Tác phẩm “Bel Ami” của nhà văn Pháp Guy de Maupassant, dịch giả Vĩnh Minh – Đức Hiếu dịch là “Anh bạn điển trai”, dịch giả Thanh Thiên là “Người tình hào hoa”.
Là tiểu thuyết thứ hai của Maupassant, lấy bối cảnh thủ đô Paris nước Pháp vào thời ông sống - những năm cuối thế kỉ 19.
Cuốn tiểu thuyết xoay quanh Georges Duroy, một cựu binh trẻ tuổi, điển trai với chòm ria mép cong thời thượng, và hành trình leo lên quyền lực và danh vọng của anh ta, thông qua những mối tình với những người phụ nữ giàu sang, có địa vị xã hội.
*
Nếu xã hội không tạo điều kiện thì…
Đọc “Người tình hào hoa” tôi cảm nhận và học hỏi, rút kinh nghiệm ở các nhân vật Georges Duroy hào hoa, ranh mãnh và đầy thủ đoạn; nhân vật Clotilde de Marelle ngây thơ và mù quáng; và phu nhân Madeleine Forestier đáng thương, luôn cam chịu và lúc nào cũng khao khát được yêu thương.
Dưới mắt tôi, "Anh bạn điển trai" Georges Duroy chỉ là một nhà báo dùng mọi thủ đoạn để leo lên bậc thang phú quý, nhất là chuyên lợi dụng các phụ nữ nhẹ dạ. Mánh khóe là thứ hữu ích để đổi lấy tiền bạc và quyền lực. Một gương mặt điển trai đôi khi lại được việc hơn cái đầu thông minh.
Đó là một kẻ hãnh tiến, là người sinh ra đã mang bản chất lười biếng nhưng lại muốn sống cuộc sống xa hoa. Con đường tham vọng của anh ta, cũng là sự tha hóa của những nhân cách trước sự giàu có và quyền lực.
Tôi đã bị cuốn vào hành trình ấy để rồi nhận ra anh chàng điển trai của mình từ đầu truyện đã thiên biến vạn hoá, người hùng bỗng nhiên trở thành kẻ ác, cái đẹp bỗng nhiên bao chứa cái mục ruỗng và dường như chẳng có gì gọi là đẹp trong cái đô thị Paris nhầy nhụa.
Tất cả những điều ấy được Maupassant trình bày bằng một giọng phớt tỉnh, chừng như ông chẳng có ý kiến gì hết cả, “vì đời là như thế”.
Thậm chí câu chuyện khép lại bằng một đám cưới, một bước tiến, một bậc thang nữa của kẻ hào hoa kia, không ai phải trả giá, cũng chẳng có cái gọi là “báo ứng”.
Phát biểu của tôi, nếu xã hội không tạo cơ hội thì họ cũng không thể làm được những việc xấu xa đó,
*
Mở mắt cho tôi cái nhìn về nhà báo
Gói gọn trong một tác phẩm Maupasant tập trung thể hiện thái độ về những con người đang hành nghề báo chí và tờ Đời sống Pháp.
Có thể nói chân dung người làm báo hiện lên trong tác phẩm này rõ rệt hơn bao giờ hết, đông đảo mỗi người một dáng vẻ, một tính cách; nhưng họ đều chung một bản chất là sự suy đồi về đạo đức của những kẻ bất tài.
Những nhân vật mà Guy De Maupassant xây dựng không ai là không tôn trọng đồng tiền, nên cái đau mà ông muốn nói không phải là cái đau của De Vante-Tổng biên tập mà chính là cái đau của xã hội đương thời, một xã hội có những nhà báo như thế, những tổng biên tập như thế, những thượng nghị viện như thế thì thật là đau đớn cho xã hội.
Tờ Đời sống Pháp không phải là nơi để nói về đời sống của người Pháp mà đó là nơi để những con người đó kiếm tiền, ăn chơi, thoả mãn những lạc thú cho nhau.
Ở xã hội đó không có tình yêu chân thật, ở xã hội đó không có sự giúp đỡ chân thành cho nhau và cũng không có những con người thật sự xứng đáng với địa vị mà họ mang. Họ sống để lừa bịp, lợi dụng lẫn nhau.
Từ điểm nghệ thuật của Guy De Maupassant, thế giới những người làm báo thể hiện lên đông đảo. Mỗi người một dáng vẻ, một tính cách. Được ông bóc trần một cách tài tình bản chất lưu manh của những ngài nghị sĩ, những kẻ mà trên danh nghĩa là đại diện cho tiếng nói của quảng đại quần chúng ở nghị trường.
*
N.P
Tóm tắt cốt truyện
Câu chuyện bắt đầu khi Duroy, sau ba năm phục vụ quân ngũ tại Algeria và một thời gian ngắn làm một nhân viên văn phòng đường sắt, hiện đang sống cảnh thiếu thốn, tình cờ gặp lại Forestier, một đồng đội cũ, một nhà báo có vị trí trong báo giới Paris, và được giới thiệu vào làm trong tòa báo Đời Sống Pháp.
Tại đây, Duroy bắt đầu với vai trò một người đưa tin vặt, nhưng nhờ sự giúp đỡ của Madeleine, vợ của Forestier, anh nhanh chóng leo lên những vị trí cao hơn.
Cùng thời gian này, Duroy được giới thiệu với những nhân vật lớn trong báo giới cũng như giới chính trị ở Paris trong phòng khách nhà Forestier, anh bắt đầu mối quan hệ với một người bạn của Madeleine, Clothide de Marelle, một thiếu phụ xinh đẹp.
Duroy cũng cố gắng tán tỉnh Madeleine nhưng cô đề nghị cả hai giữ mối quan hệ bạn bè.
Một thời gian sau, Forestier qua đời. Madeleine tái giá với Duroy và cả hai trở thành một cặp đôi mạnh mẽ trong báo giới và bắt đầu có những tác động vào giới chính trị gia ở Paris.
Duroy, lúc này đã là Ông Du Roy, thì vẫn luôn mặc cảm về vai trò của mình so với vợ và bắt đầu những cơn ghen tuông và sau này là thương hại đối với Forestier.
Một số người ở tòa báo cũng gọi anh là Forestier nhằm chế giễu khiến Du Roy tức giận và mối quan hệ giữa anh và vợ trở nên căng thẳng.
Du Roy tán tỉnh vợ của ông chủ mình, bà Walter và trở thành tình nhân đầu tiên của bà này. Rồi anh nhanh chóng chán bà ta và khó chịu khi không thể cắt đứt được bà.
Tới một lúc, Du Roy theo dõi vợ mình và rồi gọi cảnh sát tới bắt quả tang cô ta đang ngoại tình với một chính trị gia. Hoàn tất thủ tục li hôn, Du Roy kết hôn với Suzanne Walter, con gái của ông chủ và tình nhân cũ.
Lễ cưới được tổ chức linh đình với sự có mặt của nhiều nhân vật lớn, là một sự kiện đình đám tại Paris lúc bấy giờ.
ĐÊM THÁNG TƯ
Tiểu thuyết “Kim Các tự” của nhà văn Nhật Bản Mishima Yukio xuất hiện trong nhà tôi năm lâu lắm, một thủa xa xưa yêu dấu, hồi đó tôi còn quá trẻ để đọc loại sách như vậy. Nhưng tháng năm trôi qua, câu chuyện ngôi chùa lịch sử bị hỏa hoạn loáng thoáng cũng đã mê hoặc tôi.
Hôm nay vào thư viện Khoa học tổng hợp thành phố tình cờ nhìn thấy “Kim Các tự” trên giá sách, tôi thấy nó gắn một chút kỷ niệm nên tìm đọc. Tôi thật sự không hiểu được nhiều chiều sâu của tác phẩm, chỉ thấy sau khi đọc xong thấy khoái một điều là truyện dường như nói thay ý nghĩ của tôi - là lời của nhà phê bình văn học chứ không phải của tôi:
“Sự hiện hữu của cái đẹp trong tâm tưởng của kẻ tôn thờ còn thiêng liêng và trường tồn hơn cả sự hiện hữu vật chất của chính nó, và đó là cách mà văn hóa được gìn giữ”. Hay là một ý khác: “Đẹp là cái gì tàn bạo, dũng mãnh để đi tới chỗ tự huỷ hoại hoặc bị hủy hoại.” Vì vậy, tác giả Mishima để cho nhân vật Mizoguchi đốt Kim Các Tự có lẽ không chỉ để giải thoát cậu ta khỏi sự cầm tù của ngôi chùa, mà còn để ấn tượng đẹp đẽ nhất về nó in sâu trong tâm trí cậu, bảo vệ cậu khỏi hình ảnh mục nát của ngôi chùa sau này. Có đúng vậy chăng? Qua câu chuyện tôi lờ mờ nhận ra điều đó.
Ngày 2.7.1950, toà Kim Các Tự chìm trong biển lửa. Di sản trân quý của Kyoto đã hoá tro tàn dưới tay phóng hỏa của một tiểu tăng của chùa. Cả nước Nhật sững sờ và thương xót trước tin ngôi chùa hơn một trăm năm tuổi đã bị thiêu rụi.
Dựa trên sự kiện phóng hỏa ở Kim Các, nhà văn Mishima Yukio đã cất công thu thập tư liệu từ khắp nơi, thậm chí vào thăm hung thủ phóng hỏa trong tù để gom nhặt chất liệu cho cuốn tiểu thuyết của mình. Năm năm sau biến cố, tiểu thuyết gắn liền với tên tuổi của nhà văn Mishima ra đời. Bối cảnh của tác phẩm là năm 1950, khi Mỹ đang chiếm đóng Nhật Bản.
Mizoguchi, trong vai người kể chuyện ngôi thứ nhất, xưng tôi – chú tiểu tại Kim các tự là một thiếu niên xấu xí, mắc tật cà lăm, sinh ra và lớn lên tại một vùng quê hẻo lánh ven biển Đông Maizuru. Cậu là con trai của tăng lữ một ngôi chùa nhỏ tại miền quê ấy. Từ nhỏ cậu đã được nghe cha kể về vẻ đẹp vô song của ngôi chùa Kinkakuji ở Kyoto. Hình ảnh ngôi chùa tưởng tượng trong tâm trí cậu lớn dần và cậu đã say mê nó lúc nào không hay. Rồi cha của Mizoguchi bị ốm và khi biết mình không qua khỏi, ông dẫn cậu lên Kyoto gặp Hòa thượng trụ trì Kim các tự vốn là bạn đồng môn thời trẻ để giới thiệu và gửi gắm con trai, hi vọng dưới sự chỉ bảo của hòa thượng, Mizoguchi sẽ trở thành một vị tu hành đắc đạo trong tương lai. Nhưng chuyến đi mơ ước tới Kim các tự không làm cậu thỏa mãn. Lần đầu tiên khi nhìn thấy ngôi chùa thực sự, Mizoguchi thấy đó chỉ là một tòa kiến trúc xấu xí tầm thường soi bóng xuống mặt ao Tokyo đầy bèo tấm. Cậu nhận thấy Kim các tự trong tâm tưởng đẹp hơn nhiều so với hiện thực.
Sau khi cha mất, cậu được hòa thượng tiếp nhận như một chú tiểu, sống trong ngôi chùa Kinkakuji, Mizoguchi dần dần cảm nhận được vẻ đẹp mãnh liệt của nó.
Ngày ngày, ngoài công việc dọn dẹp trong chùa, hầu hạ hòa thượng trụ trì, nghe giảng kinh, đôi khi là các công án Thiền, Mizoguchi đã dành rất nhiều thời gian cho việc ngắm nghía ngôi chùa. Dần dần cậu bị nó ám ảnh đến mức nhìn thấy cái gì đẹp cậu cũng so sánh với Kim các tự. Sau một thời gian, cậu được hòa thượng tin yêu và cho đi học đại học. Tại trường, với bản tính cô độc, tự ti vì sự xấu xí và tật cà lăm của bản thân, nên cuối cùng cậu cũng chỉ kết bạn được với một gã thọt, xấu chơi tên là Kashiwagi.
Những kiến giải của Kashiwagi về cuộc sống, về cái Đẹp và các công án Thiền bằng một thứ triết lí tự kỉ đã gây nhiều xáo động trong tâm hồn Mizoguchi. Trở thành một thanh niên, cậu cũng dần tập chơi bời nhưng mỗi lần gần phụ nữ, cậu không bao giờ đi đến đích được bởi những khi ấy, vẻ đẹp của Kim các tự lại hiện lên, ám ảnh.
Có thể nói, Mizoguchi đã bị cầm tù trong vẻ đẹp của Kim các tự. Trong cậu đã dần manh nha ý định đốt chùa, ý định ấy ngày càng nung nấu khi những cuộc oanh kích của quân đội Hoa Kì bắt đầu xảy ra trên bầu trời Nhật Bản, khi chiến tranh Triều Tiên bùng nổ.
Và khi hàng ngày, cậu được nghe giảng kinh “Gặp Phật giết Phật!” bằng đầu óc bệnh hoạn với thứ triết lí đã bị Kashiwagi nhồi sọ của mình. Cậu lên kế hoạch thật chi tiết, chờ thời cơ thật chín muồi để thực hiện ý định. Cuối cùng ngày ấy cũng xảy ra. Nửa đêm, với một bao diêm và ba bó rơm, Mizoguchi đã bình tĩnh đốt cháy trụi một bảo vật quốc gia. Cậu cũng từ bỏ ý định cùng chết với ngôi chùa. Sau khi đốt nó, trong cậu ngập tràn một cảm giác tự do và ham sống.
Tôi có nghe đâu đó, người Nhật tin rằng, cái đẹp không tồn tại vĩnh viễn, giống như vẻ đẹp của hoa anh đào, quốc hoa của Nhật Bản, chỉ nở rực rỡ trong ba - bốn ngày rồi tàn lụi. Cũng như sự phù du của kiếp người và vẻ đẹp của những thứ liên tục đổi thay trong thế giới tự nhiên. Giống như chú tiểu Mizoguchi trong tiểu thuyết, si mê Kim Các tự đến mức muốn nó tồn tại vĩnh cửu trước nguy cơ nó sẽ bị phá huỷ bởi chiến tranh, và cả bởi thời gian. Ham muốn này đi ngược lại với quy luật hữu hạn của vạn vật. Sự ám ảnh ấy cản trở Mizoguchi sống một cuộc sống dung dị của một con người.
Tuy vậy, tiểu thuyết có kết thúc tươi sáng khi cuối cùng Mizoguchi cũng học được bài học phân biệt cái đẹp duy lý trong tâm tưởng và chọn vẻ đẹp dung dị của hiện thực. Chú tiểu Mizoguchi đã nhận ra lòng ham sống của bản thân và chú đã có thể sống tốt hơn sau khi đốt chùa.
Tôi không đủ sức để phát biểu, tôi chỉ ghi lại ý của nhà phê bình để nghiền ngẫm:
"Hành động đốt chùa trở thành biểu tượng của sự từ chối bám chấp vào cái vô thường, sự nhận biết cái giả tạm của lòng ham muốn chiếm hữu cái đẹp, và điều này cũng giống với bất cứ thứ ham muốn quá mức nào đó ở thế gian".
N.P
CÁCH NHẬP COMMENT TRÊN HƯƠNG QUÊ NHÀ
Đầu tiên, nhấp chuột vào ô Nhập nhận xét của bạn rồi viết comment. Viết xong, nhấp chuột vào ô Tài khoản Google. Sau đó nhấp chuột vào Tên/URL thì sẽ hiện ra 2 ô. Ô phía trên, ghi Họ và tên của bạn. Ô phía dưới, ghi dòng chữ:huongquenha.com
Cuối cùng, nhấp chuột vào ô Tiếp tục và nhấp chuột tiếp vào ô Xuất bản là xong. (Nếu bạn đã có sẵn Tài khoản Google, thì sau khi viết comment, chỉ cần nhấp chuột vào ô Xuất bản là thành công)