Mời bạn đến với Huế xưa, những năm 1920 của thế kỷ XX được nhà văn Pháp T. Trinby (*) miêu tả trong tác phẩm “Florette ou la rivière des parfums” (**) của bà.
Sách dày 230 trang, tôi - Nguyễn Phin đã dịch ra tiếng Việt lấy nhan đề là “Chuyện bên dòng sông Hương”.
Dưới đây là trích đoạn nói về Huế những năm xa xưa ấy. Phần này đã được đăng trên tạp chí Sông Hương, tháng ba năm 2019.
Lời người dịch:
Cuốn tiểu thuyết “Florette ou la rivière des parfums” của tác giả T. Trinby được tôi dịch sang tiếng Việt với nhan đề “Chuyện bên dòng sông Hương”.
Bối cảnh câu chuyện xảy ra ở Huế và vùng phụ cận vào thập niên 1920 của thế kỷ XX. Nhân vật chính là cô bé Pháp Florette, 13 tuổi.
Cô bé đang học tại trường nội trú ở Pháp nhưng phải tạm bỏ học để sang xứ Đông Dương, cụ thể là thành phố Huế để thăm mẹ bị ốm nặng. Cùng đi có anh trai tên Jean, 19 tuổi, đang học đại học Y khoa ở Paris.
Xoay quanh nhân vật chính là cô bé người làm của gia đình tên là Thị Năm, 15 tuổi, người bản xứ, xuất thân gốc dân tộc ít người vùng ven xứ Huế, biết tiếng Pháp.
Nhân vật này theo sát Florette trong quá trình buồn vui, xúc động, biến cải tâm hồn, suy nghĩ, ý chí của Florette.
Thông qua nhân vật chính Florette, nhà văn dẫn dắt người đọc đến với thế giới tuổi thơ qua những nghĩ suy trong trắng, ngây thơ, ngộ nghĩnh và đáng yêu.
Từ những buổi sinh hoạt ở trường nội trú đến hành trình xuyên quốc gia trên chuyến bay của hãng hàng không Air France đi từ nước này sang nước nọ để đến Sài Gòn.
Có nhiều điều mắt thấy tai nghe của thủa thập niên 1920, mà đối với thời hiện đại chúng ta hôm nay chắc có nhiều lạ lẫm mà quen thuộc.
Tác giả cũng cho thấy mình khá sành điệu và biết rõ sinh hoạt ở Huế với những dòng miêu tả sông Hương, cảnh vùng phụ cận, cảnh rừng, cảnh núi, ruộng đồng những năm 20 mới khai phá vừa gần gũi, vừa đáng yêu.
Chẳng hạn, một chi tiết cụ thể, đó là miêu tả đám rước ở làng của một vùng quê miền núi khá sinh động mà ít có tài liệu sách vở người Việt nhắc tới.
Trong truyện nổi bật tính cách một thiếu nhi Pháp yêu mến, gắn bó với sinh hoạt văn hóa, đời sống thường nhật của người Huế xưa.
Đặc biệt, tinh thần dũng cảm, hy sinh, quên thân mình vì người khác của cô bé Pháp 13 tuổi, chắc chắn sẽ động lòng nhiều bạn đọc nhỏ tuổi Việt Nam.
Đó là chương kể lại một mình Florette sống nhiều ngày trong rừng sâu để theo dõi bọn mẹ mìn bắt cóc một em bé người làng, cuối cùng đã cứu được em bé, với nhiều chi tiết hồi hộp, gay cấn.
Dưới đây là trích đoạn viết về chuyện bên dòng sông Hương những năm 1920.
*
Trích đoạn tác phẩm
Xe lăn bánh tiến vào giữa thành phố đang ngái ngủ, đêm đã khuya mà người tài xế lại không rành đất Huế. Hầu như không có người khách bộ hành để hỏi, và hết đường đi họ gặp bờ sông, có một ngôi nhà Annam lớn, kiểu dáng lạ.
Người tài xế dừng xe, anh em nó bước xuống đi vào khu vườn. Vô tình đúng ngay nhà ba mẹ chúng, ông Massenac đang đợi chờ anh em nó.
Đêm yên tĩnh, khu vườn ngập tràn ánh trăng. Florette đi vào vườn hoa, hít đầy lồng ngực mùi hương thoáng nhẹ, ngọt ngào. Một lối đi dài hai bên trồng cây thông, phía cuối là ngôi nhà mà mục đích chính anh em nó tìm đến.
Anh em sóng đôi, sải những bước dài, họ gặp một mái hiên bằng sắt uốn cong, một con chim sơn ca lớn bay về phía chúng như quen với nhau từ lâu. Họ đặt va-li ở lối đi, chạy nhanh về hướng ông Massanec.
…
Sáng hôm sau, mặt trời lên cao đã lâu Florette mới tỉnh giấc. Một cô bé Annam bước vào phòng, tiến đến gần giường, nó đặt một khay thức ăn cho buổi điểm tâm trên tủ đầu giường.
Nó cúi đầu, nói giọng nhẹ nhàng, gần như là hát:
- Xin chào em gái.
Florette ngạc nhiên, nó không nghĩ cô gái bé nhỏ này là người da vàng.
- Xin chào, tên chị là gì?
- Thị Năm.
- Chị nói được tiếng Pháp ư?
- Vâng.
- Chị bao nhiêu tuổi?
- Mười lăm.
- Chị làm gì ở đây?
- Chị đến đây làm đầy tớ cho cô chủ có “khuôn mặt xanh”.
- Cô bé đó là tôi đó sao?
- Đúng đó em gái à.
…
Một giờ sau, Florette mới bước ra khỏi phòng, hai anh em bắt đầu đi dạo, họ muốn biết rõ xứ Annam nhỏ bé, vì thế nó muốn nhìn gần, rất gần dòng sông Hương. Khu nhà tĩnh lặng, nó đi khám phá một mình, có một lối đi dẫn đến mái hiên uốn gợn sóng, bên dưới là cửa sổ được chia cách bởi các trụ cột cao phủ đầy hoa hồng đang độ nở rộ.
Trên lối đi, có những viên đá xám cũ kỹ, khu vườn tràn ngập cây xanh, một lối đi dài trồng toàn thông mà nó đã thấy đêm qua. Bên trái nhiều cây cọ, những cây huệ đỏ, bên phải cơ man nào là chuối, loại cây mà nó đã gặp trên Đường Cái Quan, lá rộng phủ màu xanh.
Bên cạnh khu trồng chuối là một loại cây khác thường, có hoa màu lửa, hàng ngàn cánh hoa mỗi cành là một búi lớn màu đỏ. Florette đi đến cuối con đường cây thông, nó nhìn thấy dòng sông thật hùng vĩ trước mặt, trước khi tham quan khu vườn, Florette muốn thăm các phần bên dưới.
Nó vào nhà, bên trái, phòng khách hôm qua nó đến, bây giờ rất khác, hôm nay nó nhìn thấy nhiều phòng lớn, nền lát gạch ca rô đen trắng, nhiều đồ vật làm rối mắt.
Một chiếc bàn gỗ có bốn chân chạm trổ rồng phượng, trong góc phòng, một chiếc giường gỗ, phủ nệm lụa có viền sặc sỡ. Cầu thang bằng gỗ tếch, trên tường, vài chiếc ngà voi, gần tường, trên chiếc bàn thấp, một chậu hoa đỏ hồng mà nó không biết tên. Ở xứ này thứ gì cũng lạ.
Nó bước ra ngoài, khu vườn ngập tràn nắng ấm, trong nhà tất cả cửa chớp đều đóng kín khiến tối om, mùi thơm lạ thoang thoảng đưa đến mũi Florette, nó hít một hơi dài, muốn gọi tên, nhưng lạ quá, có phải mùi bùn của sông hay mùi hoa hồng, mà nó ngỡ như hoa mộc lan của Pháp.
Hai người họ đang đi trên con đường vây quanh là dòng sông mà Florette chỉ mới thấy trong giấc mơ - sông Hương là con sông lớn màu bạc, hai bên bờ là những bụi cây nở hoa, nước sông xạm màu bùn lờ đờ chảy, trên đó thuyền tam bản và các phương tiện khác đang lưu thông.
…
Trước mặt Florette, con đường lớn rậm rạp cây xanh, phủ bóng mát vùng không gian rộng lớn, nhà nhà sơn màu trắng, cửa chớp đóng kín. Những vi-la là những khu đất vuông vức, có những tàng cây thấp bé sống động cùng những chậu hoa đầy màu sắc, lối đi trải sỏi thấp thoáng những bụi cây đẹp, như phong cách khu vườn Pháp, hòa lẫn nhiều loại cây hồng phấn.
Suốt dọc đại lộ, những người phu kéo xe và những xe hơi đầy rẫy, dường như phương tiện còn nhiều hơn hành khách. Có nhiều loại xe cộ đẹp có xấu có, những người phu kéo xe ai nấy hom hem.
Florette chọn một người vẻ đáng thương nhất, trông như ốm đói. Cô bé leo lên chiếc xe lạ lẫm hai bánh này, Thị Năm theo sau.
Florette thử cân ước chừng hai đứa có lẽ cũng nặng bằng một người đàn ông. Người kéo xe là một cậu bé gầy còm, nghe Thị Năm chỉ đường xong, nó còng lưng giữa hai càng xe và kéo.
…
Đại lộ có mặt đường được bảo dưỡng tốt, xe cộ bon bon và những tàng cây thẳng tắp, hè phố phủ bóng cây mát dịu. Thị Năm giải thích đi qua phố Tây có những giáo đường, bệnh viện, văn phòng của Chính phủ bảo hộ.
Một khu phố châu Âu không có gì hấp dẫn lắm đối với Florette, nó chỉ muốn khám phá thành phố châu Á. Người phu xe bắt đầu chạy nhanh hướng về phía bờ sông, trước mặt là dòng nước xanh mát.
Lúc này Florette mới nhận ra đi dạo trên xe kéo thật bất tiện, nếu không có chú bé kéo xe đáng thương cô sẽ đi dạo tự nhiên hơn. Trên một khoảng đất trống gần sông có một khu chợ họp dưới những tàng cây. Chú bé kéo xe ngừng lại, Florette yêu cầu Thị Năm trả tiền, nó không biết định giá những đồng tiền anh nó nhét vào xách cho nó là bao nhiêu, tiêu xài ra sao.
Cả hai tiến vào chợ, những bà già tụ tập dưới tàn cây me, cây xoài cổ thụ. Họ bày ra đủ kiểu các mặt hàng, đặt trong thúng có, trên mẹt có, và bày cả ngay trên đất nữa.
Trước mắt Florette cơ man nào là màu sắc, nó nghe tiếng người bán, người mua trao đổi mặc cả nói với nhau giọng chát chúa.
Thị Năm bày nó tên các loại quả, này đây là măng cụt, này đây là vải thiều, này đây chuối, xoài, cam xanh, dưa hấu… Một mảng màu mới đẹp làm sao!
Florette muốn nếm thử tất cả các loại trái cây mà nó mới thấy lần đầu, và đề nghị Thị Năm phải mua mỗi thứ một ít để hai đứa đi ra bờ sông ngồi thưởng thức.
Nó nói gì Thị Năm cũng nghe, nó không muốn từ chối “cô chủ mặt xanh” bất cứ điều gì. Mua trái cây xong, Thị Năm đưa nó thăm các quày hàng rau quả, rồi quày bán gia cầm, quày bán cá tươi.
Sau đó là đi vào dãy nhà kho bố trí giữa lối đi là các quày hàng tơ lụa, quày hàng da, hàng sơn mài, hàng trang sức. Người bán chào hàng, người mua mặc cả giọng sắc nhọn như cãi cọ. Phần lớn người bán cũng như người mua mặc đồ Annam nói với nhau bằng thổ ngữ lạ.
Người châu Âu rất ít, thường đi qua cười nói ồn ào chứ ít mua đồ. Rời khỏi đám đông, Florette dừng khá lâu trước quày hàng bán hoa, nơi trưng bày cái đẹp.
Nó muốn mua nhiều thứ hoa, nào là hoa phượng, hoa sứ, hoa dâm bụt, toàn là hoa lạ, Thị Năm bày nó tên nhưng nói là không nên mua, bởi vì những thứ đó có thể hái trong vườn nhà.
Florette muốn chọn một chỗ phù hợp ngồi đánh chén, tránh xa không khí xô bồ của khu chợ lúc nãy. Họ đã dừng lại dưới tàng cây me cổ thụ.
- Thị Năm chúng mình ngồi đây thơ mộng quá, vừa ăn vừa kể chuyện, em muốn chị kể về đất nước mình, em tò mò muốn biết câu chuyện lịch sử đẹp, em sẽ ghi nhớ trong trí não, sau đó sẽ viết lại, bởi vì em muốn trở thành nhà văn mà.
- Một nhà văn, một quý ông viết sách!
- Đúng Thị Năm à, em muốn vậy.
- Nhưng em không thể, em gái ơi, bởi vì em không phải là quý ông.
- Ở Pháp, phụ nữ cũng có thể viết văn.
Thị Năm đã bắt đầu thấy cảm phục, kính nể “đại văn hào” tương lai.
Nó nhỏ nhẹ nói với Florette:
- Vậy em sẽ viết về cái gì?
- Chị sinh ở Huế à?
- Không, làng chị ở miền núi, cũng không xa con đường đi ra phố người Âu.
- Hãy kể về ngôi làng của chị đi, em chắc là em rất thích.
Cô bé Annam nhìn kỹ Florette, nó xoa tay lên lồng ngực và mắt không rời dòng sông, bởi vì dòng nước trước mặt nó đêm nay đang chảy qua làng mà đã bốn năm nay nó chưa trở về, giờ đây làng chỉ còn trong ký ức.
- Làng tôi tên là làng Thừa, ẩn mình trong khu rừng dày, dưới chân núi, có khoảng trăm ngôi nhà, đó là một ngôi làng lớn. Nhà tuy nhỏ nhắn nhưng đẹp, tường được dựng bằng tre ngâm, người ta gọi là tường da rắn khô.
Mái lợp tranh. Ở cuối căn nhà có phòng ngủ, nơi đặt những chiếc giường phảng, thường dành cho khách. Gối cũng bằng gỗ cứng, chắc không hợp với em đâu.
Có một tủ chè bên cạnh, có lẽ cũng giống tủ nhà em, trên bàn là một khay trà, có ấm chén uống trà, một cái tráp đựng đồ trầu cau, chén đũa ăn cơm. Tôi có thể nhìn thấy tất cả đồ vật thân thương như hiện ra trước mắt tôi, như dòng nước chảy.
- Nghe chị kể mà em cũng thấy như vậy đó.
- Trên tủ chè có một tượng Phật lớn bóng lên nước đồng đen, màu của suy nghĩ những điều cao cả. Nào bây giờ đến hồ bông súng đi.
Tôi đã xa chiếc giường nằm ngủ hàng ngày bên cạnh cái hồ bông súng vươn vòi dài trên mặt nước, nhìn kìa, trắng, hồng, vàng, tía - màu của mặt trời, ban đêm chúng như thầm thì với ta như lời yêu thương.
Hãy nhìn các cây thân mềm sẽ thấy nó bị rỗng ruột do bị chim bồng chanh màu xanh - đỏ cắn, chim rời nơi ẩn nấp bay lên đậu trên bông súng như để tự tôn vinh vẻ đẹp của chúng.
“Kể gì nữa đây? Hãy nghe giọng buồn của tiếng cồng chiêng từ đâu đưa đến? Còn bây giờ quay về góc khác, hãy nhìn xa xa phía đồng bằng, này đây đồng lúa xanh, kia là những đụn cát thấp thoáng phía chân trời đỏ hồng, sau lưng nhà là núi, mọi người đi ngủ ban ngày để ban đêm thức làm việc.
Họ đi theo con đường mòn có nguy cơ hiểm họa rình rập, bởi bạn có thể gặp con báo, “ông” hổ, những tên cướp áo đen. Trong vùng tối lực lượng đó luôn rình mò, con người thì khiếp đảm, còn những con vật bé nhỏ nằm im run rẫy trước uy phong của nó.
Mau chuồn nhanh vì người thợ săn bắt đầu làm việc và những con vật hung dữ đang đói mồi. Hãy nghe tiếng hổ gầm, tiếng mèo rừng meo meo, và đoàn voi dữ hoang dã đang rầm rập tiến bước”.
“Xuống núi bạn sẽ gặp các loại cây cỏ, kỳ hoa dị thảo kể cho bạn nghe nhiều câu chuyện đẹp, kể rằng xa xưa có những người chiến binh Annam áo quần sặc sỡ dát bạc vàng, được thiết kể bởi các ông hoàng, họ ra đi cùng với voi thần đi đến các đất nước xa xôi tìm một công chúa xinh đẹp để sau này tôn vinh thành hoàng hậu.
Họ cứ đi xuyên rừng hoang, không ngại nguy cơ bị ông hổ, bà báo và những tên cướp áo đen luôn rình rập. Cuối cùng các chiến binh đã tìm thấy công chúa, nhưng hành trình quá dài, cuộc chiến đấu với hổ, báo, với những tên cướp áo đen quá cam go, họ đã bị tiêu diệt gần hết.
Họ chết không như những người thường, đem chôn trong đất, linh hồn họ đã biến thành những con đom đóm. Đó như chuyện cổ tích về con đom đóm, đêm đêm những con đom đóm đến vây quanh tỏa sáng khắp làng. Loại côn trùng bé nhỏ này có cánh mang những chùm ánh sáng.
Kia là những cây cau tôi đã kể cho em nghe, đến lúc mặt trời đi ngủ nó mới đến”.
Florette nghe với vẻ chăm chú. Ngôi làng của Thị Năm dưới chân núi, nó đã thấy, nó muốn đến đó sống vài ngày. Trong nhà, nó sẽ ăn cơm bằng đũa, đêm đến nó sẽ ở cạnh hồ bông súng nghe tiếng chim kêu và tiếng gầm rú của những con vật hung dữ, đó mới chính là quê hương nó cần khám phá.
Huế, thành phố châu Âu chẳng có gì hấp dẫn. Ông bạn vong niên của nó từng nói: Hãy học hỏi những chuyến đi, đừng bằng lòng với những gì mà người hướng dẫn thiết kế. Hãy tự tìm hiểu những điều bạn thích thì mới gọi là thú vị.
NGUYỄN PHIN (giới thiệu và dịch)
*
Chú thích
(*) T. Trilby là nhà văn nữ, quốc tịch Pháp, sinh tại Louveciennes, ngày 12/07/1875, mất tại La Rochelle, ngày 18/11/1962; tên thật: Marie Thérèse Léontine de Marnyhac.
Bà tham gia cuộc thi trên báo “Tiếng vọng Paris” và đạt giải nhất về nhiều phóng sự ký nhiều tên khác nhau. Bút danh Trilby có lẽ xuất hiện vào năm 1903 với xuất bản phẩm “Lẩn quẩn”.
Năm 1919 bà xuất bản hai tiểu thuyết “Y tá Ninette” và “Trở về” mang hơi hướng của những năm chiến tranh khốc liệt. Tính đến năm 1930 Trilby đã cho ra đời mười hai tiểu thuyết trong bộ sưu tập Stella.
Cũng thời kỳ đó bà cũng có một danh sách dài hợp tác với nhà xuất bản Flamarion, nơi bà được xem là tác giả chính. Cho đến năm 1961 đã có khoảng bốn mươi thiểu thuyết Trilby cho bộ sưu tập “Sách thiếu nhi”, do họa sĩ Manon Iessel (1909 - 1985) minh họa.
Bà được nhận giải Hàn lâm Pháp vào năm 1949.
(**) “Chuyện bên dòng sông Hương” là cuốn sách xưa, đã trên 70 năm, không còn bản quyền tác giả.
Trang thông tin về tác quyền, đầu sách có ghi: Bản quyền dịch thuật, in sao và phóng tác thuộc về tất cả các quốc gia. Bản quyền năm 1946, phần chính văn và minh họa bởi nhà xuất bản Ernest Flamarion. In tại Pháp.
Thông tin về in ấn, cuối sách có ghi: Nhà in Sévin-Dessaint, thành phố Doullens (tỉnh Somme)- Nộp lưu chiểu quý 4, năm 1946.
Nhà thơ Đặng Toán (Thái Bình)
CHƠI VỚI CON
(Cho N)
Con rủ ông rủ chị
rủ mẹ rồi rủ bà
cùng con chơi bi nhé
con rất nhiều bi cơ...
Nhưng chẳng có ai chơi
con ngập ngừng rủ bố
bỏ bài thơ dang dở
thôi thì đành chiều con...
Bố ngắm thẳng vào đi
sao toàn thua con thế?
thôi “ván” này con “thả”
để bố còn “quân” chơi...
Thỉnh thoảng con lại cho
bố gỡ thua thành thắng
con cứ như người lớn
bố lại thành trẻ con...
Đang còn tuổi mầm non
con đâu màng thua thắng
chỉ mong có bạn chơi,
như cây cần ánh nắng!
DẶN CON
(Cho H & N)
Vậy là đã thỏa mong chờ
Ngày mai con tới thủ đô nhập trường
Bình minh rộn tiếng phố phường
Hoàng hôn tấp nập nẻo đường ngược xuôi.
Hành trang con gói ghém rồi
Lời căn dặn nhớ cất nơi tim mình
Xa vòng tay của gia đình
Con bay về phía lung linh cầu vồng.
Con là con của ruộng đồng
Cây cà tím mộng cải ngồng vàng mơ
Tắm mình trong chốn phồn hoa
Chỉ mong con vẫn cứ là con thôi.
Những khi mỏi mệt với đời
Thì về nương bóng mát nơi sân vườn
Ông bà, bố mẹ, quê hương
Quanh con ăm ắp tình thương vô bờ…
Nhỏ to lời bố dặn dò
Mong con tới được giấc mơ rộng dài.
CON TIM LẠI HÁT
Dẫu không thắt đáy lưng ong
Vẫn khéo chiều chồng vẫn giỏi nuôi con
Nỗi niềm khi giận khi buồn
Như lòng biển lặng giấu cơn sóng ngầm...
Chúng mình kết tóc bao năm
Giếng lòng đôi lúc còn thăm thẳm hoài
Mấy ai tròn trịa trong đời
Lựa nhau mà bước qua thời nắng mưa...
Bạc tiền mình chẳng dư thừa
Yêu thương mong cũng không thua kém người
Trái xưa chín giữa thu đời
Con tim lại khẽ hát lời trăm năm!
VIẾT CHO NGÀY CON VU QUY
(Cho H)
Vậy là con có thêm mẹ thêm cha
Con thành sợi dây nối hai nhà gần lại
Bàn tay đầy, bàn tay vơi... Chờ đợi
Một ngày vui con mặc áo cô dâu...
Sao trên trời có ai đếm được đâu
Lòng cha mẹ rồi ra con sẽ hiểu
Biết yêu thương và luôn luôn hiếu thảo
Để mẹ cha vui giữa xóm, giữa làng...
Con xinh tươi làn mây trắng bồng bềnh
Hạnh phúc long lanh nét cười ánh mắt
Bao ưu tư trong lòng cha tan hết
Dẫu đường đời còn tít tắp, mênh mông...
Lát nữa thôi con cất bước theo chồng
Phận gái má hồng... Ai đưa câu hát
Cây hạnh phúc có tươi nhành xanh sắc
Tự tay mình gắng chăm chút nghe con!
Đ.T
Tác phẩm “Anh em nhà Karamazov” rất đồ sộ, tôi đã đọc và đang đọc, thấy rối rắm với tôi, bởi nhiều vấn đề lớn đặt ra trong đó, nhưng theo tôi, dưới lăng kính một độc giả bình thường, tôi cũng có thể cảm nhận cái mình thấy được ở trình độ của mình. Theo tôi, trước mắt là chuyện gia đình với thông điệp Dostoievski đưa ra: Gia đình tốt sẽ là nền tảng của một xã hội tốt.
Khi đọc “Anh em nhà Karamazov”, tôi cảm nhận được những bất hạnh của những đứa trẻ trong gia đình này. Chúng lớn lên trong một môi trường không hạnh phúc, người cha tệ hại không quan tâm gì đến chúng khi còn bé.
Mặc dù là anh em trong một gia đình nhưng họ lại lớn lên ở những môi trường khác nhau và tuổi thơ của họ không trải qua cùng nhau. Sự vô tâm và thiếu trách nhiệm đối với con cái của người cha đã sản sinh ra trong những đứa trẻ nhà Karamazov những suy nghĩ về tội ác. Đó là nguyên nhân hình thành nên tội lỗi. Mỗi người con trong nhà Karamazov có những tính cách khác nhau, suy nghĩ khác nhau, sự thể hiện thái độ khác nhau nhưng họ đều có ý định giết cha của mình.
Cuốn tiểu thuyết mở đầu với cuộc họp gia đình của anh em nhà Karamazov. Những tranh chấp về tài sản, lợi ích, xung đột về lí tưởng của những thành viên trong gia đình đã dẫn đến cái chết của người cha bởi sự ra tay của một trong những đứa con của mình.
Một gia đình giàu có, quý tộc nhưng giờ đây mỗi người một nơi, có những người phải trả giá cho tội ác mà không phải mình gây ra và có người sống mãi trong những nỗi dằn vặt bởi lương tâm của chính mình.
Theo diễn biến của các sự kiện trong tác phẩm, tôi nhận thấy, những thành viên trong gia đình Karamazov lẽ ra đã không phạm vào tội ác, không biến câu chuyện của gia đình mình, bản thân mình thành một tấn thảm kịch nếu họ có được một ông bố tốt, một nơi chốn bình yên gọi là nhà trong những năm tháng tuổi thơ của mình.
Họ bị ông bố lãng quên, vứt bỏ ngay từ tấm bé, phải sống bằng lòng thương của những người xa lạ. Giữa họ không có cái gọi là tình yêu thương, sự gắn kết của những người sống chung trong một mái ấm gia đình.
Dostoievski vốn coi trọng gia đình và giáo dục nhân cách con người thông qua tình yêu thương, sự lương thiện, trong sạch của mái ấm gia đình. Ông nói nhiều về sự giáo dục gia đình, những kỷ niệm đẹp, thiêng liêng giữ được từ thuở bé là sự giáo dục tốt nhất. Nếu thu thập được nhiều kỷ niệm như thế đem vào đời, thì cũng sẽ có ngày nó cứu vớt chúng ta.
Trong trái tim của ba người con: Mitia, Ivan, Xmerdiakov đã không có được kỉ niệm nào như thế về gia đình, trong lòng họ chỉ chất chứa những hằn học, ghét bỏ, căm thù lẫn nhau và dần trở nên lầm lạc vì mất phương hướng .
Gia đình Karamazov tan rã, những thành viên trong gia đình Karamazov phải chịu số phận bi thảm, thậm chí có người vì sự toan tính, vì lòng tham mà bán cả linh hồn cho quỷ dữ như Ivan và Xmerdiakov, đó là hệ lụy tất yếu về việc những đứa con sinh ra mà không được lớn lên, không được nuôi dạy ở một nơi đáng được gọi là nhà, đúng nghĩa là nhà.
Với câu chuyện của anh em nhà Karamazov, Dostoievski đã gửi một thông điệp đầy tính nhân văn đến với mọi người: Gia đình tốt sẽ là nền tảng của một xã hội tốt. Hãy luôn yêu thương con trẻ, hãy để chúng được sống trong bầu không khí gia đình êm ấm, trong sạch và lương thiện; hãy giáo dục con trẻ từ trong gia đình, từ khi chúng còn là trẻ nhỏ. Đó luôn là phương cách giáo dục cần thiết, đơn giản và có hiệu quả lâu bền nhất.
N.P
Ảnh 1: Tác phẩm “Anh em nhà Karamazov”
Ảnh 2: Tác phẩm được dựng thành phim năm 1958. Trong ảnh là nhân vật Ivan.
Nhà thơ Lê Thị Ngọc Nữ
KHUNG TRỜI THÁNG TƯ
VỚI TẤM HÌNH
(Tặng KT)
Bên ngọn đèn khuya với tấm hình
Nhìn anh, em chỉ biết làm thinh
Ước ngày hội ngộ vui đôi bóng
Quên lúc cô đơn khóc một mình
Xao xuyến duyên hờ mơ giấc đẹp
Xót xa tình lỡ tiếc ngày xanh
Ấp buồng tim héo trong chăn lạnh
Thầm gọi tên anh dệt mộng lành.
MÃI TUYỆT VỜI
Kỷ niệm tình thơ một quãng đời
Khó mà quên được bạn lòng ơi
Bóng kề bên bóng hồn nhiên bước
Tay nắm bàn tay bỡ ngỡ mời
Với biển hòa lòng buông tiếng thở
Cùng thu gửi ý để buồn vơi
Đêm dài thức trắng lòng trăn trở
Tình đượm hương thơ vẫn tuyệt vời!
HẠ CUỐI THU CHIỀU
(Tặng LN)
Chắc vì đồng cảm cảnh cô liêu
Ta gặp nhau nghe luyến mến nhiều
Hình bóng thân thương da diết nhớ
Tâm hồn trong sáng thiết tha yêu
Mắt nhìn tận mắt - tình thanh thoát
Tay nắm liền tay - ý mỹ miều
Một góc trời buồn nhưng ấm áp
Dẫu em hạ cuối, chị thu chiều!
T.N
1. “Mặt trận miền Tây vẫn yên tĩnh”/ “Phía Tây không có gì lạ”
Tôi đọc tiểu thuyết “All Quiet on the Western Front” của Erich Maria Remarque lâu lắm rồi, bản tiếng Việt của dịch giả Tâm Nguyên, bản dịch trước 1975. Sau này tôi có đọc lại, đọc một bản dịch khác của Vũ Hương Giang lấy tựa đề là “Phía Tây không có gì lạ”.
Tôi có nghe mấy ý kiến cho rằng “Mặt trận miền Tây vẫn yên tĩnh” nghe có vẻ văn chương hơn. Mới đây tôi đọc lại tác phẩm và xem phim cùng tên, theo cái nhìn của tôi “Phía Tây không có gì lạ” không biết có kém bay bướm hay không, nhưng đúng với nội dung câu chuyện được nhà văn miêu tả.
Đó là mặt trận phía Tây trong suốt hai năm, hai phe, phe nào cũng có lúc chiếm được rồi lại để mất, giằng co từng tấc đất ở miền Tây mà chẳng có gì lạ.
Kết thúc tác phẩm là cái chết của Paul Bäumer vào một ngày tháng 10 năm 1918, một ngày mà tình hình tĩnh lặng trên suốt mặt trận, tới mức các báo cáo quân sự từ mặt trận phía Tây chỉ chứa gọn một câu "Ở phía Tây, không có gì lạ".
Cho nên tôi nghĩ lấy đó làm tựa đề cho cuốn tiểu thuyết thì hợp lý hơn.
*
2. Thân phận người lính bên nào, thời nào cũng khổ
Mười năm sau khi cuốn tiểu thuyết “Mặt trận miền Tây vẫn yên tĩnh” của Remarque được xuất bản, Thế chiến II bắt đầu, thậm chí còn điên rồ và tàn khốc hơn Thế chiến thứ I. Và những ngày này, gần 100 năm sau, có vẻ như một lần nữa nhân loại vẫn chưa học được bài học của mình.
Mặt trận Ucraina không yên tĩnh, ta lại vẫn thấy, cũng những người trẻ hôm nay, không khác là mấy với những người trẻ mà Erich Maria Remarque miêu tả vẫn đang bị đẩy ra mặt trận.
Dĩ nhiên ngoài mặt trận luôn luôn gặp các nguy hiểm, đời sống trong các hầm hố trong dơ bẩn, thiếu nước sạch, chất đầy các xác chết, chuột bọ. Người lính thường xuyên thiếu thức ăn, thiếu giấc ngủ, thiếu quần áo và sự chăm sóc y tế.
Đói ăn là điều không tránh khỏi trong các mặt trận, và điều đầu tiên mà các chiến binh làm khi xông vào chiến hào của địch là chạy vào kho và nhét mọi thứ ăn được vào miệng, đôi khi phải trả giá bằng mạng sống của mình. Sau đó, họ lê bước khắp cánh đồng để thu thập thẻ bài những đồng đội đã bỏ mình.
Chiến tranh, nói cho cùng bao giờ cũng nghiệt ngã. Trong đó những đứa trẻ tuổi mười bảy bị ném thẳng vào họng pháo, dưới gầm tăng.
Ở đó bùn đất khắp nơi: trong túi, trong mũ cối, trên mặt, trong miệng, những vụ nổ làm cho bùn trộn lẫn máu, và không có gì để rửa sạch bụi bẩn này. Dù là lính chính quy, lính đánh thuê hay lính đứng ở phía chính nghĩa đều phải tham gia tàn sát lẫn nhau, phá hủy lòng nhân đạo. Họ đều bị đau khổ bởi vì các chiến hữu đã ngã gục ngoài chiến địa và các chiến binh đang còn sống phải tiếp tục hành xác.
*
3. Nhân danh chủ nghĩa
Người ta đã nhân danh chủ nghĩa quốc gia để phát động Thế Chiến Thứ Nhất, chủ trương đòi hỏi mọi người dân phải trung thành với đất nước. Viết tác phẩm này tác giả Erich Maria Remarque đã chỉ trích, coi đây là sự đạo đức giả, một công cụ được dùng để kiểm soát dân chúng.
Trong truyện, chủ nghĩa quốc gia đã thuyết phục Paul và các bạn bè của anh ta tham gia quân đội, nhưng các kinh nghiệm ngoài mặt trận đã dạy cho họ rằng chủ nghĩa quốc gia là một quan niệm ảo tưởng, là giấc mơ dùng để lừa dối giới trẻ.
Những người ái quốc như Kantorek, như Himmelstoss thì vô dụng ngoài mặt trận. Và các binh lính thiện chiến không phải là chiến đấu cho sự vinh quang của quốc gia mà vì sự sống còn của chính họ. Paul và các bạn bè của anh ta đã cay đắng nhận ra sự thực rằng kẻ thù chính là những người đã đem quân đội ra để làm đà thăng tiến quyền lực và vinh quang cho chính họ.
*
4. Người lính tự vấn
Paul đâm chết được một lính Pháp và đã chứng kiến cảnh hấp hối thật đau đớn của anh lính này. Đây là kẻ địch đầu tiên bị chính tay Paul tiêu diệt. Song, anh cảm thấy đau xót và xin cái xác người ấy tha lỗi cho anh:
"Này anh bạn, mình có muốn giết cậu đâu. Tại sao người ta không nói cho bọn mình biết rằng chính các cậu, các cậu cũng chỉ là những con chó khốn khổ như bọn mình.
Rằng các bà mẹ của các cậu cũng đau khổ như mẹ chúng mình, rằng chúng ta đều sợ chết như nhau, đều chết một cách giống nhau, chịu những nỗi đau đớn như nhau?
Bạn ơi, hãy tha thứ cho mình; tại sao cậu lại có thể là kẻ thù của mình? Nếu chúng ta bỏ những vũ khí và bộ quân phục này đi, thì cậu rất có thể là người anh em của mình."
Cho là mình sắp được trở về quê nhà, Paul có cảm nghĩ: "Nếu bây giờ, chúng tôi trở lại gia đình, chúng tôi mệt mỏi, rã rời, trống rỗng, không còn gốc rễ và không còn hy vọng."
Trong phần cuối của tác phẩm, Paul có lời tự sự: "Cuộc sống đã bắt tôi phải qua những năm tháng ấy, vẫn đang còn tồn tại trong hai bàn tay và cặp mắt của tôi có làm chủ được cuộc sống ấy không... Tôi không biết..."
*
5. Vài biểu tượng đáng nhớ
Cuốn tiểu thuyết “Mặt trận miền Tây vẫn yên tĩnh” còn dùng các biểu tượng, đó là đôi giày lính của Kemmerich. Đây là vật tượng trưng cho một thứ rẻ tiền của đời sống con người trong chiến tranh.
Đôi giày lính được chuyền từ người này qua người khác mỗi khi có một người lính bị chết trận và đôi giầy này đã được coi là có giá trị cao hơn mạng sống của con người. Hoặc hình ảnh khác, sự nên thơ đến từ cách mà những người lính chuyền tay nhau hít hà chiếc khăn tay thêu hoa của một thiếu nữ, và ngôn từ thô ráp của người vợ hiền gửi thư tay ra chiến trận cho chồng. Hoặc một nụ hôn của chàng lính trẻ lên tấm áp phích có ảnh vẽ một cô đào hát nóng bỏng giữa chiến hào pháo địch đang uy hiếp.
Có thể nói, từ những vật tầm thường, chúng như trở thành một thứ tín ngưỡng, một vị thánh cứu chuộc lấy sự lầm than và hoen gỉ, chết mòn nơi những con người bất lực bị đem ra làm tốt thí, bị đặt vào cơn bĩ cực nhân danh đại cuộc.
N.P
*
Tóm tắt cốt truyện
Nhân vật chính và cũng là người tường thuật câu chuyện theo ngôi thứ nhất là Paul Bäumer, một người lính Đức mới 19 tuổi. Anh và những người bạn học cùng lớp của mình đã bị thuyết phục bởi vị giáo sư của họ là Kantorek, nên gia nhập quân đội Đức để ra mặt trận. Họ được đưa ra mặt trận phía Tây, nơi đang diễn ra những trận đánh ác liệt giữa Đức với liên quân Anh-Pháp.
Tác phẩm đã miêu tả một cách chân thật cuộc sống chiến đấu gian khổ và tàn khốc của những người lính này trong những chiến hào đẫm máu. Người lính thường xuyên đối mặt với những trận pháo kích cường độ cao, hơi độc và cả xe tăng của đối phương.
Có một lần khi được giao canh gác tù binh Nga, Paul đã nhận ra rằng những người lính Nga này cũng là con người như mình mà thôi, và anh cảm thấy không thể nào coi họ như kẻ thù được. Có một lần khác, Paul cùng với các đồng đội xung phong đi trinh sát trong lúc nhà vua Đức sắp đến thị sát mặt trận, và anh đã bị lạc trong đêm trường hỗn loạn, mãi mới tập hợp lại được. Quân Đức đã đánh tan một cuộc tấn công của đối phương. Paul cảm thấy mình đáng lên án vì đã giết chết một người lính cũng chỉ giống như mình mà thôi.
Nhiều người bạn của Paul lần lượt ngã xuống còn bản thân anh thì ngày càng tỏ ra chán ghét chiến tranh, vì những nỗi kinh hoàng mà nó mang lại, cướp đi tuổi trẻ và những người đồng đội của anh. Rốt cuộc, cuộc chiến tranh mà giáo sư Kantoreck đã nồng nhiệt kêu gọi nhóm bạn của Paul tham gia chiến đấu, không mang lại cho họ một niềm vinh quang nào. Tàn cuộc, anh trở thành người duy nhất còn sống sót trong bảy người học sinh đã lên đường chiến đấu của Giáo sư Kantorek. Khi ấy, người ta chỉ còn nghĩ đến ngưng chiến và hòa bình mà thôi, và bản thân Paul cũng tin là hai bên sẽ sắp đình chiến.
Kết thúc tác phẩm là cái chết của Paul Bäumer vào một ngày tháng 10 năm 1918, một ngày mà tình hình trên suốt Mặt trận yên ả đến lạ kỳ, tới mức các báo cáo quân sự từ mặt trận phía Tây chỉ chứa gọn một câu "Ở phía Tây, không có gì lạ".
Tác phẩm kết thúc bằng gương mặt yên bình của Bäumer khi chết và lúc người ta lật người anh lên, anh vẫn toát ra vẻ bình thản chứ không hề có một biểu hiện đau đớn gì cả. Có vẻ như anh hài lòng vì sự kết thúc đã đến.
“Viết theo cảm xúc và viết vì đam mê. Thơ viết theo cảm xúc, đặc biệt nơi nào từng sống gắn bó, sâu sắc thì cảm xúc dành cho nơi đó nhiều hơn!” – Hoàng Thị Bích Hà
CHÚT HƯƠNG XƯA
Anh nhớ về thăm Huế mình một bữa
Mạ Huế vẫn chờ những đứa con xa
Chút hương xưa chắc vẫn còn lưu dấu
Những ngọt ngào nhè nhẹ ở trong tim
Tháng Ba về dịu dàng hoa xoan tím
Trên ngõ nhà em... còn nhớ không anh?
Dòng đời trôi và biến thiên dâu bể
Lạc nhau rồi, em lặng lẽ sang sông
Em biết anh còn nặng gánh phong trần
Gót lữ thứ phiêu bồng đời mưa gió
Một chút tình đầu đời chưa kịp ngỏ
Thì trách chi năm tháng ấy dại khờ
Mấy mươi năm đã xa rồi anh hỉ
Mối duyên đầu thành kỷ niệm khó quên
Trăm năm sau gửi trọn miền ký ức
Xin nhớ về câu chuyện của ngày xưa!
ANH CÒN NHỚ?
Anh còn nhớ một chiều rời xa Huế
Sông Hương buồn dằng dặc nỗi chờ mong
Chân bước đi mà dạ bỗng ngậm ngùi
Gởi lại Huế cả khung trời kỷ niệm
Cầu Trường Tiền nghiêng dòng Hương soi bóng
Nhịp cầu cong, tha thướt vạt áo dài
Buổi tan trường anh đã bước bên ai
Về chung lối khi Nội Thành,… Gia Hội
Nhớ chiều hè nắng vàng về rất vội
Lối Ngự Bình, Vĩ Dạ, Bao Vinh
Sang Kim Long, Thanh Thủy Thượng, Ngọc Anh
Rồi Linh Mụ, Thiên An, Đồi Vọng Cảnh
Anh còn nhớ có những chiều thứ Bảy
Cùng bạn bè về tận Phá Tam Giang
Khi Dạ Lê, Cầu Ngói Thanh Toàn
Về Cồn Hến, lên Nguyệt Biều, Lương Quán…
Và em biết dẫu ngàn phương lạc bước
Chưa bao giờ anh quên Huế trong tim
Cũng không quên nét Huế buổi xuân thì
Lòng khắc khoải dệt tình thơ gởi Huế!
TẠM BIỆT HUẾ THƯƠNG!
Sắp xa Huế cảm thấy lòng yêu Huế
Hơn rất nhiều khi ôm Huế trong tay
Ai nơi xa, người hỡi anh có hay
Lòng bịn rịn cả khung trời kỷ niệm
Nhớ Hổ Quyền với tiếng chim chiền chiện
Trên cành cây mỗi sáng hót líu lo
Phù sa về cho dải đất ấm no
Bên dòng Hương - Nguyệt Biều mùa bưởi tới
Tất cả rồi sẽ xa tầm tay với
Cả người thương và cả cánh diều bay
Lũy tre làng với ruộng bắp hoa lay
Ngát hương bưởi một vùng chiều Lương Quán
Trời Long Thọ sẽ đi vào xa vắng
Trong ký ức ngày ấy tuổi đôi mươi
Tay trong tay anh tỏa rạng nụ cười
Em sẽ nhớ! Làm hành trang xa Huế!
H.T.B.H
CÁCH NHẬP COMMENT TRÊN HƯƠNG QUÊ NHÀ
Đầu tiên, nhấp chuột vào ô Nhập nhận xét của bạn rồi viết comment. Viết xong, nhấp chuột vào ô Tài khoản Google. Sau đó nhấp chuột vào Tên/URL thì sẽ hiện ra 2 ô. Ô phía trên, ghi Họ và tên của bạn. Ô phía dưới, ghi dòng chữ:huongquenha.com
Cuối cùng, nhấp chuột vào ô Tiếp tục và nhấp chuột tiếp vào ô Xuất bản là xong. (Nếu bạn đã có sẵn Tài khoản Google, thì sau khi viết comment, chỉ cần nhấp chuột vào ô Xuất bản là thành công)